1. Khái quát về văn hoá chính trị
Văn hoá chính trị là “những giá trị, lý tưởng cao đẹp mà con người hướng tới trong hoạt động chính trị, thể hiện ở sự hiểu biết về chính trị, ở trình độ tổ chức hệ thống quyền lực, ở hành động chính trị theo một chuẩn giá trị xã hội nhất định” (Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, 2019, tr.89).
Nhìn rộng ra, văn hóa chính trị là một bộ phận cấu thành của văn hóa xã hội, phản ánh mối quan hệ giữa con người với quyền lực chính trị, giữa nhà nước với nhân dân, giữa ý thức hệ và thực tiễn xã hội. Văn hóa chính trị vì thế, không chỉ là tổng hòa các giá trị, chuẩn mực, niềm tin, thái độ và hành vi của các chủ thể chính trị đối với hệ thống quyền lực mà còn là yếu tố định hình sâu sắc chất lượng quản trị và hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước, quyết định mức độ chính danh, sự ổn định và hiệu quả, hiệu lực của hệ thống chính trị.
Về cấu trúc, văn hóa chính trị biểu hiện rõ ở ba thành tố chủ đạo: Tri thức chính trị, ý thức chính trị và năng lực hành động chính trị.
Tri thức chính trị là hệ thống hiểu biết của con người về nhà nước, pháp luật, quyền lực, về đường lối, chủ trương, chính sách, về cơ chế vận hành của bộ máy chính trị.
Ý thức chính trị bao gồm niềm tin, tình cảm, thái độ và sự gắn bó với lý tưởng chính trị, tinh thần trách nhiệm với nhân dân, sự gương mẫu trong chấp hành pháp luật và kỷ luật của Đảng, trong thái độ phục vụ và tôn trọng quyền làm chủ của nhân dân.
Năng lực hành động chính trị là khả năng biến tri thức và ý thức thành hành động cụ thể, thành các quyết định, giải pháp mang lại kết quả trong thực tiễn đời sống chính trị - xã hội.
Văn hóa chính trị Việt Nam đặt lợi ích dân tộc và lợi ích nhân dân làm trung tâm, coi trọng sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn, giữa dân chủ và kỷ cương, giữa truyền thống và hiện đại, đề cao tính thực tiễn và đạo đức công vụ, sự liêm chính, khả năng tự phê bình và khả năng phòng, chống các biểu hiện tham nhũng, suy thoái đạo đức, nguỵ văn hoá; đề cao tính thực tiễn, minh bạch, trách nhiệm giải trình, tôn trọng pháp luật, tinh thần phụng sự nhân dân và năng lực hội nhập, thích ứng với những chuẩn mực quốc tế mà giữ vững bản sắc dân tộc. Văn hoá chính trị chính là tiền đề tạo đồng thuận xã hội và là công cụ nội sinh để nâng cao năng lực quản trị ở Việt Nam hiện nay.
2. Đặc trưng văn hoá chính trị trong chuyển đổi sang mô hình chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam hiện nay
2.1. Nhìn tổng thể theo cấu trúc vận hành của mô hình chính quyền hai cấp
Quá trình chuyển đổi sang mô hình chính quyền hai cấp ở Việt Nam hiện nay mang đậm tính chất chuyển tiếp, vừa kế thừa những yếu tố ổn định của hệ thống chính trị hiện hành, vừa thử nghiệm những cách thức quản trị mới phù hợp với yêu cầu cải cách, vừa dần hoàn thiện mô hình.
Mô hình mới không làm thay đổi nguyên tắc Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ, nhưng có sự điều chỉnh quan trọng trong cấu trúc quyền lực giữa các cấp chính quyền địa phương từ ba cấp về còn hai cấp. Từ đó đặt ra yêu cầu rất lớn về chuyển đổi tư duy, từ quản lý sang quản trị để kiến tạo, đồng hành và phát triển.
Văn hoá chính trị là “những giá trị, lý tưởng cao đẹp mà con người hướng tới trong hoạt động chính trị, thể hiện ở sự hiểu biết về chính trị, ở trình độ tổ chức hệ thống quyền lực, ở hành động chính trị theo một chuẩn giá trị xã hội nhất định” (Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, 2019, tr.89).
Nhìn rộng ra, văn hóa chính trị là một bộ phận cấu thành của văn hóa xã hội, phản ánh mối quan hệ giữa con người với quyền lực chính trị, giữa nhà nước với nhân dân, giữa ý thức hệ và thực tiễn xã hội. Văn hóa chính trị vì thế, không chỉ là tổng hòa các giá trị, chuẩn mực, niềm tin, thái độ và hành vi của các chủ thể chính trị đối với hệ thống quyền lực mà còn là yếu tố định hình sâu sắc chất lượng quản trị và hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước, quyết định mức độ chính danh, sự ổn định và hiệu quả, hiệu lực của hệ thống chính trị.
Về cấu trúc, văn hóa chính trị biểu hiện rõ ở ba thành tố chủ đạo: Tri thức chính trị, ý thức chính trị và năng lực hành động chính trị.
Tri thức chính trị là hệ thống hiểu biết của con người về nhà nước, pháp luật, quyền lực, về đường lối, chủ trương, chính sách, về cơ chế vận hành của bộ máy chính trị.
Ý thức chính trị bao gồm niềm tin, tình cảm, thái độ và sự gắn bó với lý tưởng chính trị, tinh thần trách nhiệm với nhân dân, sự gương mẫu trong chấp hành pháp luật và kỷ luật của Đảng, trong thái độ phục vụ và tôn trọng quyền làm chủ của nhân dân.
Năng lực hành động chính trị là khả năng biến tri thức và ý thức thành hành động cụ thể, thành các quyết định, giải pháp mang lại kết quả trong thực tiễn đời sống chính trị - xã hội.
Văn hóa chính trị Việt Nam đặt lợi ích dân tộc và lợi ích nhân dân làm trung tâm, coi trọng sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn, giữa dân chủ và kỷ cương, giữa truyền thống và hiện đại, đề cao tính thực tiễn và đạo đức công vụ, sự liêm chính, khả năng tự phê bình và khả năng phòng, chống các biểu hiện tham nhũng, suy thoái đạo đức, nguỵ văn hoá; đề cao tính thực tiễn, minh bạch, trách nhiệm giải trình, tôn trọng pháp luật, tinh thần phụng sự nhân dân và năng lực hội nhập, thích ứng với những chuẩn mực quốc tế mà giữ vững bản sắc dân tộc. Văn hoá chính trị chính là tiền đề tạo đồng thuận xã hội và là công cụ nội sinh để nâng cao năng lực quản trị ở Việt Nam hiện nay.
2. Đặc trưng văn hoá chính trị trong chuyển đổi sang mô hình chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam hiện nay
2.1. Nhìn tổng thể theo cấu trúc vận hành của mô hình chính quyền hai cấp
Quá trình chuyển đổi sang mô hình chính quyền hai cấp ở Việt Nam hiện nay mang đậm tính chất chuyển tiếp, vừa kế thừa những yếu tố ổn định của hệ thống chính trị hiện hành, vừa thử nghiệm những cách thức quản trị mới phù hợp với yêu cầu cải cách, vừa dần hoàn thiện mô hình.
Mô hình mới không làm thay đổi nguyên tắc Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ, nhưng có sự điều chỉnh quan trọng trong cấu trúc quyền lực giữa các cấp chính quyền địa phương từ ba cấp về còn hai cấp. Từ đó đặt ra yêu cầu rất lớn về chuyển đổi tư duy, từ quản lý sang quản trị để kiến tạo, đồng hành và phát triển.
Trong cấu trúc vận hành của mô hình chính quyền hai cấp, cấp tỉnh giữ vai trò điều hành toàn diện, kiến tạo chính sách vĩ mô; cấp cơ sở (xã/phường/đặc khu) là cấp giải quyết các thủ tục hành chính, quản lý đời sống xã hội và chịu trách nhiệm trực tiếp với nhân dân. Đồng thời quá trình phân định vẫn gợi ý phương châm “vừa làm vừa điều chỉnh” trong quá trình chuyển đổi. Trên nền tảng cấu trúc ấy, văn hóa chính trị ở từng cấp hiện lên với những đặc trưng khác nhau nhưng liên kết chặt chẽ với nhau.
Cụ thể, ở cấp tỉnh, các vấn đề của văn hóa chính trị gắn với xu hướng mang tính chiến lược, chuyên nghiệp và kiến tạo, phù hợp với yêu cầu cán bộ cấp tỉnh phải có tầm nhìn, kiến thức, khả năng điều phối liên ngành và chịu trách nhiệm về hiệu quả quản trị ở phạm vi rộng; năng lực ra quyết sách, quản trị rủi ro và ứng xử chính trị, ngoại giao được đặt lên hàng đầu. Mô hình hai cấp cũng đòi hỏi cấp tỉnh phải chuyển phương thức từ chỉ đạo cụ thể sang giao quyền và kiểm soát theo kết quả trên tinh thần “địa phương quyết, địa phương làm, địa phương chịu trách nhiệm” như Tổng Bí thư Tô Lâm chỉ đạo (Nguyễn Sĩ Dũng, 2025). Điều này đặt ra yêu cầu thay đổi về tri thức và cách thức lãnh đạo, quản lý trong văn hóa chính trị, từ hành chính mệnh lệnh sang quản trị theo trách nhiệm, trở thành trung tâm điều phối, kiến tạo và kết nối, vừa hoạch định chiến lược phát triển địa phương, vừa bảo đảm sự gắn kết với chính quyền trung ương và cơ sở. Cấp tỉnh trong bối cảnh chuyển đổi số phải lấy dữ liệu và công nghệ là nguồn lực mới, đồng thời coi đổi mới sáng tạo là động lực then chốt để nâng cao năng lực cạnh tranh của địa phương.
Cấp xã là đơn vị hành chính gần dân nhất đang đứng trước yêu cầu đổi mới tư duy quản trị để phù hợp với mô hình chính quyền số. Không chỉ dừng lại ở việc giải quyết công việc hành chính nhanh hơn, mà còn hướng tới xây dựng môi trường minh bạch, chủ động cung cấp dịch vụ công trực tuyến, tạo điều kiện cho người dân giám sát và tham gia quản lý xã hội. Ở cấp cơ sở, văn hóa chính trị mang tính “gần dân” hơn mà trọng tâm là văn hóa công vụ, thể hiện ở thái độ phục vụ, tinh thần trách nhiệm, năng lực giải quyết vấn đề nhằm nâng cao niềm tin của người dân.
Ngoài ra, một đặc trưng quan trọng khác là tính thích ứng và điều chỉnh. Trong quá trình triển khai chính quyền hai cấp, với tính chất khẩn trương “vừa chạy vừa xếp hàng”, chủ trương chung cho các cơ quan địa phương là vận dụng nguyên tắc “vừa làm vừa điều chỉnh”, điều này đòi hỏi sự linh hoạt và sáng suốt, văn hoá chính trị trong mô hình chính quyền hai cấp vì thế cũng đề cao việc dám chịu trách nhiệm, sẵn sàng thử nghiệm chính sách và điều chỉnh trên cơ sở ý kiến nhân dân và tổng kết hiệu quả thực tiễn.
2.2. Nhìn từ cấu trúc của văn hoá chính trị
Khi chính quyền địa phương chuyển sang mô hình hai cấp, cấu trúc quyền lực, cơ chế phân cấp, phân quyền cũng như mối quan hệ giữa chính quyền và công dân đều thay đổi sâu sắc. Vì thế, văn hóa chính trị cũng phải thích ứng để bảo đảm tính hiệu lực, tính chính danh và tính tham gia.
Thứ nhất, về tri thức chính trị
Trong mô hình chính quyền hai cấp, yêu cầu về tri thức chính trị rất phong phú. Cán bộ trên cơ sở kiến thức đã được đào tạo và tích luỹ từ trước, nay phải hiểu rõ về mối quan hệ giữa các cấp, về phân cấp, phân quyền, quản lý ngân sách, quản lý đô thị, phát triển kinh tế - xã hội… sau chuyển đổi sang chính quyền hai cấp.
Đặc biệt, là yêu cầu cán bộ phải có hiểu biết sâu sắc về mọi mặt đời sống chính trị, kinh tế, xã hội giữa các địa phương sáp nhập lại với nhau, xác định điểm mạnh, lợi thế, tiềm năng của địa phương cũng như những điểm yếu hoặc phức tạp phát sinh trong chuyển đổi để có thể xử lý tốt, tạo sự hoà nhập và thống nhất cao trong quyết tâm hành động của bộ máy chính quyền. Nếu năng lực không đáp ứng hoặc áp lực vượt quá khả năng chịu đựng, rất dễ dẫn đến tình trạng làm việc đối phó, thiếu trách nhiệm, hoặc thậm chí là buông xuôi, gây bức xúc trong nhân dân và ảnh hưởng tiêu cực đến chất lượng dịch vụ công và tổ chức các hoạt động xã hội.
Thứ hai, về ý thức chính trị
Trong bối cảnh chuyển đổi sang mô hình chính quyền hai cấp, ý thức chính trị có vai trò quyết định, bởi cải cách hành chính không chỉ là thay đổi bộ máy, mà quan trọng hơn là thay đổi tư duy, thay đổi cách nghĩ, cách làm của đội ngũ cán bộ. Quá trình sắp xếp, tinh gọn bộ máy có thể tạo ra một tâm lý xáo trộn trong hàng ngũ cán bộ, đảng viên, nếu không được làm công tác tư tưởng tốt và quản trị chặt chẽ, sẽ làm gia tăng chủ nghĩa cơ hội, chạy chức, chạy quyền bằng mọi giá, hoặc ngược lại là thiếu động lực, ảnh hưởng nghiêm trọng đến tinh thần cống hiến của cán bộ. Mặt khác, các chủ trương về đạo đức công vụ, chống tham nhũng nếu không đi đôi với hành động quyết liệt, thực chất sẽ trực tiếp làm suy giảm lòng tin của nhân dân, ảnh hưởng tiêu cực đến hình ảnh và vị thế của Đảng và Nhà nước; nhưng nếu quá căng thẳng thì khó động viên được tinh thần cán bộ trong bối cảnh nhiều thay đổi và khó khăn hiện nay. Vì vậy, cần có cách làm phù hợp để đảm bảo triển khai nghiêm được kỷ luật công vụ mà vẫn động viên được cán bộ và tập hợp được sức mạnh của toàn đội ngũ.
Thứ ba, về năng lực hành động chính trị
Việt Nam đang bước vào giai đoạn chuyển đổi mô hình phát triển: từ tăng trưởng dựa vào tài nguyên và lao động giá rẻ sang kinh tế tri thức, số hoá, kinh tế xanh. Không chỉ là mở rộng địa bàn, mà còn là thay đổi cách thức phát triển gắn với số hoá, lợi thế công nghệ, hội nhập quốc tế để nâng cấp, tạo sức bật mới của các tỉnh, thành trong tiến vào kỷ nguyên mới. Không gian phát triển của 34 tỉnh thành vừa có tiềm năng, vừa gặp thách thức riêng với nhiều vấn đề chưa từng có:
Trong chuyển đổi số quốc gia, chính quyền địa phương là chủ thể số hoá và là là chủ thể quản trị và khai thác kết quả số hoá (Thủ tướng Chính phủ, 2020). Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh đã triển khai đô thị thông minh với dữ liệu dân cư, giao thông, y tế, giáo dục; một số tỉnh thành khác như Quảng Ninh, Huế… cũng đang xây dựng chính quyền số. Tổng Bí thư Tô Lâm từng nhấn mạnh “không có chuyển đổi số, mô hình chính quyền hai cấp sẽ không thể vận hành hiệu quả” (Phương Liên, 2025), sắp tới, nhiều tỉnh/thành sẽ phải trở thành chủ thể số hoá trong xây dựng chính quyền số với dữ liệu lớn (Big Data), nên cũng nảy sinh vấn đề mới như chênh lệch năng lực số giữa các địa phương. Nhiều địa phương có thể đứng trước nguy cơ tỉnh số hóa, nhưng trình độ cán bộ chưa đáp ứng đủ và nhiều người dân chưa kịp số hóa. Mạng lưới giao thông - logistics mới như cao tốc, cảng biển, sân bay mở ra không gian phát triển mới khiến lần đầu tiên nhiều tỉnh có kết nối trực tiếp quốc tế nhưng kèm theo là vấn đề mới về sốt đất, hay áp lực hạ tầng đô thị. Nhiều địa phương có sự bứt phá trong khi nhiều địa phương chưa bắt kịp, có phần tụt lại phía sau dẫn đến sự phân hoá phát triển mới, lực lượng lao động trẻ và giỏi vẫn rời quê lên đô thị lớn để lại vùng trũng nguồn nhân lực. Các vấn đề xã hội mới nổi diễn ra ở nhiều địa phương như xung đột đất đai, đền bù tái định cư trong các dự án lớn; mâu thuẫn giữa phát triển công nghiệp với bảo vệ môi trường và sinh kế truyền thống; các vấn đề an ninh phi truyền thống như tội phạm công nghệ cao, buôn bán xuyên biên giới, tôn giáo-dân tộc trong bối cảnh mới… Những vấn đề này chưa từng xuất hiện cùng lúc, với quy mô và cường độ như hiện nay, đặt ra đòi hỏi tư duy cao về phát triển bền vững, tích hợp liên ngành về kinh tế, xã hội, môi trường, văn hóa và công nghệ để có thể quy hoạch không gian phát triển liên vùng, phát triển kinh tế xanh - kinh tế số như động lực mới với nguồn nhân lực địa phương và tăng cường quản trị văn hoá - xã hội để tránh xung đột mới.
Bối cảnh trên cho thấy thực hiện mô hình chính quyền hai cấp thực sự là một cơ hội thể hiện năng lực hành động chính trị của hệ thống cán bộ với nhiều vấn đề đặt ra:
Sự chuyển dịch vị trí, chức năng của cơ quan công tác có thể đòi hỏi sự hy sinh về quyền lợi, vai trò vị trí công vụ, sự ổn định gia đình (vốn có) của cán bộ, đồng thời cũng đặt ra yêu cầu dấn thân cống hiến, yêu cầu trí lực cao hơn để có thể đảm đương khối lượng công việc mới và lớn.
Cán bộ chuyên môn cấp xã có thể phải phụ trách nhiều nội dung chuyên môn, trong đó không chỉ là chuyên môn đã được đào tạo, đòi hỏi năng lực tổng hợp, thực chất.
Cán bộ lãnh đạo, quản lý ở cả cấp tỉnh và cấp xã đều cần phải có tư duy mới, có tầm nhìn chiến lược dựa trên địa kinh tế - văn hóa - chính trị, điểm mạnh, điểm yếu trong tổng thể quy hoạch phát triển mới của địa phương, từ đó mà hoạch định, điều hành, quản trị, phối hợp để giải quyết các vấn đề mới phát sinh, cũng như tương hỗ để phát huy được thế mạnh của địa phương.
Các tập thể cơ quan Đảng, chính quyền địa phương phải thực sự giải quyết ổn thoả những vấn đề liên quan về đời sống chính trị - xã hội trong nội bộ, xác định đúng tâm thế làm việc, xây dựng được khối đoàn kết, thống nhất, trí tuệ mới có thể đáp ứng với thực tiễn chuyển đổi.
Có thể nói, mỗi cán bộ nói riêng, mỗi tập thể cơ quan chính quyền nói chung, nếu thiếu năng lực hành động thì cũng khó tạo ra sự thay đổi trong thực tiễn công tác và hiệu lực, hiệu quả của mô hình chính quyền hai cấp có thể không đạt như kỳ vọng.
3. Một số giải pháp góp phần nâng cao văn hoá chính trị trong bối cảnh chuyển đổi sang mô hình chính quyền địa phương hai cấp hiện nay
3.1. Tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng gắn với thực tiễn để nâng cao tri thức chính trị cho cán bộ
Nền tảng của văn hoá chính trị là sự hiểu biết đúng đắn về chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối, chủ trương của Đảng. Đào tạo cán bộ phải hướng tới việc rèn luyện năng lực xử lý tình huống chính trị trong đời sống thực tế giúp cán bộ rèn luyện khả năng phán đoán, quyết đoán và linh hoạt. Cán bộ, đảng viên không chỉ nói đúng, nghĩ đúng mà quan trọng hơn là phải làm đúng, làm trúng, làm kịp thời. Chính vì vậy, việc tổ chức bồi dưỡng lý luận chính trị cần theo hướng gắn lý thuyết với thực tiễn, chú trọng cập nhật kiến thức mới và liên ngành, đặc biệt về quản trị công hiện đại, tăng cường tình huống thực tế, đối thoại trực tiếp thay vì truyền đạt một chiều. Đề cao và khuyến khích việc tự học, tự rèn luyện của cán bộ, kết hợp nhuần nhuyễn giữa học theo chương trình đào tạo và học từ thực tiễn công tác tại cơ quan, tận dụng triệt để điều kiện công nghệ, truyền thông để nâng cao tri thức chính trị gắn liền với nội dung công việc phải đảm nhiệm.
Các cấp uỷ trên cơ sở tình hình thực tế về tri thức của cán bộ, phải chịu trách nhiệm định hướng và đề xuất, tổ chức các lớp bồi dưỡng phù hợp, theo chương trình chung hoặc riêng, để cán bộ, đảng viên trong cơ quan được nâng cao kiến thức cần thiết, rèn luyện tác phong, phong cách công vụ khoa học, dân chủ, gương mẫu, nói đi đôi với làm. Việc duy trì cơ chế tự phê bình và phê bình gắn với chuẩn mực đạo đức cách mạng sẽ giúp mỗi cán bộ không ngừng rèn luyện, điều chỉnh hành vi, ứng xử đúng mực, tránh xa thói quan liêu, hình thức. Khi cán bộ hành xử chuẩn mực, liêm chính, hình ảnh chính trị của chính quyền sẽ được củng cố trong lòng nhân dân và việc đào tạo sẽ mang lại hiệu quả thiết thực.
3.2. Đổi mới phương thức lãnh đạo và quản lý, xây dựng đội ngũ cán bộ có ý thức, kỹ năng, năng lực hành động chính trị trong kỷ nguyên số
Nghị quyết Hội nghị lần thứ 11 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII đã chỉ rõ: “Nhiệm vụ trong giai đoạn tới là rất nặng nề và nhạy cảm nhưng cũng là cơ hội để các cấp, các ngành, các địa phương lựa chọn, bố trí, sắp xếp cán bộ. Điều chỉnh kịp thời, ban hành đồng bộ các quy định, hướng dẫn để các cơ quan, đơn vị, tổ chức của hệ thống chính trị vận hành thông suốt, hoạt động hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả theo mô hình tổ chức mới” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2025). Trong kỷ nguyên số, chuyển đổi tư duy, từ quản lý sang quản trị để kiến tạo, đồng hành và phát triển dựa trên nguyên tắc công khai, minh bạch, hiệu quả và lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm phục vụ là vấn đề mới, hết sức quan trọng. Để làm được điều này, hành động chính trị của cán bộ không thể tách rời việc ứng dụng công nghệ. Việc sử dụng hệ thống cơ sở dữ liệu số và dashboard giám sát tiến độ chính sách giúp minh bạch hóa quy trình và thúc đẩy trách nhiệm giải trình. Chính quyền hai cấp cần đẩy mạnh dân chủ cơ sở thông qua thiết lập kênh tương tác trực tiếp với nhân dân như hội nghị đối thoại, cổng thông tin điện tử, đường dây nóng hay thậm chí là qua nền tảng mạng xã hội với các chương trình chính thống. Khi cán bộ trực tiếp lắng nghe, tiếp nhận phản hồi và giải quyết vấn đề của dân, năng lực hành động chính trị sẽ được rèn giũa và nâng cao rõ rệt. Đặc biệt, phương thức hành động “gần dân, sát dân, trọng dân” phải trở thành nguyên tắc xuyên suốt, vì đó là thước đo căn bản nhất của năng lực chính trị thực chất.
Cán bộ, đảng viên không chỉ cần có bản lĩnh mà còn phải sở hữu hệ thống kỹ năng để biến quyết tâm chính trị thành hành động hiệu quả. Trước hết là kỹ năng phân tích và hoạch định chính sách, đánh giá tác động kinh tế - xã hội trước khi ban hành một quyết định, đảm bảo chính sách vừa đúng định hướng chính trị vừa phù hợp thực tiễn. Thứ hai là kỹ năng truyền thông chính trị, giúp cán bộ biết cách giải thích, thuyết phục và định hướng dư luận, đặc biệt trong bối cảnh thông tin đa chiều, tin giả và xuyên tạc ngày càng phức tạp. Thứ ba là kỹ năng phối hợp liên ngành bởi hoạt động chính trị không chỉ là công việc cá nhân mà là kết quả của sự phối hợp nhịp nhàng giữa các ngành, giữa Đảng, chính quyền, Mặt trận và các đoàn thể. Khi năng lực lãnh đạo tập thể và khả năng huy động nguồn lực xã hội được nâng cao thì năng lực hành động chính trị của từng cán bộ cũng sẽ được củng cố.
Năng lực hành động chính trị cũng chỉ thực sự được chứng minh khi cán bộ dám chịu trách nhiệm trước quyết định của mình. Do đó, việc công khai trách nhiệm chính trị của từng vị trí, từng chức danh là cần thiết. Mỗi cán bộ cần có bản cam kết kết quả công tác hằng năm, coi đó là thước đo để đánh giá thi đua và đề bạt. Cần xây dựng văn hóa “năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám đột phá vì lợi ích chung; khơi dậy mạnh mẽ ý thức trách nhiệm, khát vọng cống hiến, tinh thần đổi mới, hết lòng, hết sức vì nhân dân phục vụ của đội ngũ cán bộ” (Đảng Cộng sản Việt Nam, Kết luận 14-KL/TW, 2021), tránh tình trạng sợ sai, sợ trách nhiệm dẫn đến trì trệ. Duy trì các diễn đàn tự phê bình và phê bình để cán bộ có thể đối diện với điểm mạnh, điểm yếu của mình, qua đó tạo môi trường rèn luyện bản lĩnh chính trị và thói quen hành động có kỷ luật.
3.3. Tăng cường duy trì kỷ luật, kỷ cương công vụ đi đôi với khích lệ sáng tạo
Văn hoá chính trị không chỉ dừng lại ở phẩm chất cá nhân mà còn thể hiện qua cơ chế vận hành của tổ chức. Chính quyền hai cấp cần thiết lập hệ thống kỷ luật nghiêm minh, kiên quyết xử lý hành vi tiêu cực, thiếu trách nhiệm, làm việc hình thức. Việc kiểm tra cần hướng tới thực chất, đánh giá năng lực hành động chính trị dựa trên kết quả công việc và sự hài lòng của nhân dân, thay vì chỉ dựa vào báo cáo hành chính. Những cán bộ né tránh, làm việc hình thức, thiếu trách nhiệm cần bị xử lý nghiêm minh để tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh, thúc đẩy sự tiến bộ chung.
Song hành với việc duy trì kỷ luật, kỷ cương công vụ là cơ chế khích lệ sáng tạo, kịp thời động viên những cán bộ có sáng kiến mới, giải pháp đột phá trong quản lý và thực thi nhiệm vụ. Cần có cơ chế khen thưởng kịp thời đối với các sáng kiến, mô hình đổi mới trong công tác quản lý và lãnh đạo địa phương, tạo động lực cho cán bộ mạnh dạn đổi mới. Cần đẩy mạnh việc nêu gương của cán bộ lãnh đạo, nhất là người đứng đầu, bởi tấm gương thực tiễn có tác động mạnh mẽ hơn nhiều so với lời nói. Việc tôn vinh cần thông qua đánh giá rộng rãi của cộng đồng xã hội (trên nền tảng số), của tập thể cơ quan và tổ chức đảng với nhiều hình thức để tăng cường ý thức và bản lĩnh chính trị của cán bộ, đảng viên. Sự kết hợp hài hoà giữa tăng cường duy trì kỷ luật, kỷ cương công vụ đi đôi với khích lệ sáng tạo vừa bảo đảm tính nghiêm túc của hệ thống cơ quan chính quyền hai cấp, vừa nuôi dưỡng động lực đổi mới, góp phần xây dựng một môi trường chính trị công vụ văn minh, năng động.
4. Kết luận
Văn hóa chính trị trong tiến trình chuyển đổi sang mô hình chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam hiện nay vừa là kết quả của sự kế thừa truyền thống, vừa là sản phẩm của những yêu cầu đổi mới. Việc xây dựng văn hóa chính trị không thể chỉ giới hạn trong phạm vi nội bộ Đảng, mà phải lan tỏa trong toàn bộ hệ thống chính trị và đời sống xã hội. Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý và Nhân dân làm chủ là ba trụ cột cấu thành nền chính trị Việt Nam. Văn hóa chính trị chỉ thực sự bền vững khi cả ba trụ cột này cùng vận hành trong sự thống nhất, khi quyền lực được kiểm soát, trách nhiệm được đề cao và lợi ích của Nhân dân được đặt ở trung tâm. Sự chuyển đổi sang chính quyền hai cấp vì thế vừa là cơ hội để nâng cao hiệu quả quản trị, vừa là phép thử, là thước đo năng lực hành động thực tiễn và văn hóa chính trị của đội ngũ cán bộ và tổ chức chính quyền hai cấp ở Việt Nam hiện nay./.
Cụ thể, ở cấp tỉnh, các vấn đề của văn hóa chính trị gắn với xu hướng mang tính chiến lược, chuyên nghiệp và kiến tạo, phù hợp với yêu cầu cán bộ cấp tỉnh phải có tầm nhìn, kiến thức, khả năng điều phối liên ngành và chịu trách nhiệm về hiệu quả quản trị ở phạm vi rộng; năng lực ra quyết sách, quản trị rủi ro và ứng xử chính trị, ngoại giao được đặt lên hàng đầu. Mô hình hai cấp cũng đòi hỏi cấp tỉnh phải chuyển phương thức từ chỉ đạo cụ thể sang giao quyền và kiểm soát theo kết quả trên tinh thần “địa phương quyết, địa phương làm, địa phương chịu trách nhiệm” như Tổng Bí thư Tô Lâm chỉ đạo (Nguyễn Sĩ Dũng, 2025). Điều này đặt ra yêu cầu thay đổi về tri thức và cách thức lãnh đạo, quản lý trong văn hóa chính trị, từ hành chính mệnh lệnh sang quản trị theo trách nhiệm, trở thành trung tâm điều phối, kiến tạo và kết nối, vừa hoạch định chiến lược phát triển địa phương, vừa bảo đảm sự gắn kết với chính quyền trung ương và cơ sở. Cấp tỉnh trong bối cảnh chuyển đổi số phải lấy dữ liệu và công nghệ là nguồn lực mới, đồng thời coi đổi mới sáng tạo là động lực then chốt để nâng cao năng lực cạnh tranh của địa phương.
Cấp xã là đơn vị hành chính gần dân nhất đang đứng trước yêu cầu đổi mới tư duy quản trị để phù hợp với mô hình chính quyền số. Không chỉ dừng lại ở việc giải quyết công việc hành chính nhanh hơn, mà còn hướng tới xây dựng môi trường minh bạch, chủ động cung cấp dịch vụ công trực tuyến, tạo điều kiện cho người dân giám sát và tham gia quản lý xã hội. Ở cấp cơ sở, văn hóa chính trị mang tính “gần dân” hơn mà trọng tâm là văn hóa công vụ, thể hiện ở thái độ phục vụ, tinh thần trách nhiệm, năng lực giải quyết vấn đề nhằm nâng cao niềm tin của người dân.
Ngoài ra, một đặc trưng quan trọng khác là tính thích ứng và điều chỉnh. Trong quá trình triển khai chính quyền hai cấp, với tính chất khẩn trương “vừa chạy vừa xếp hàng”, chủ trương chung cho các cơ quan địa phương là vận dụng nguyên tắc “vừa làm vừa điều chỉnh”, điều này đòi hỏi sự linh hoạt và sáng suốt, văn hoá chính trị trong mô hình chính quyền hai cấp vì thế cũng đề cao việc dám chịu trách nhiệm, sẵn sàng thử nghiệm chính sách và điều chỉnh trên cơ sở ý kiến nhân dân và tổng kết hiệu quả thực tiễn.
2.2. Nhìn từ cấu trúc của văn hoá chính trị
Khi chính quyền địa phương chuyển sang mô hình hai cấp, cấu trúc quyền lực, cơ chế phân cấp, phân quyền cũng như mối quan hệ giữa chính quyền và công dân đều thay đổi sâu sắc. Vì thế, văn hóa chính trị cũng phải thích ứng để bảo đảm tính hiệu lực, tính chính danh và tính tham gia.
Thứ nhất, về tri thức chính trị
Trong mô hình chính quyền hai cấp, yêu cầu về tri thức chính trị rất phong phú. Cán bộ trên cơ sở kiến thức đã được đào tạo và tích luỹ từ trước, nay phải hiểu rõ về mối quan hệ giữa các cấp, về phân cấp, phân quyền, quản lý ngân sách, quản lý đô thị, phát triển kinh tế - xã hội… sau chuyển đổi sang chính quyền hai cấp.
Đặc biệt, là yêu cầu cán bộ phải có hiểu biết sâu sắc về mọi mặt đời sống chính trị, kinh tế, xã hội giữa các địa phương sáp nhập lại với nhau, xác định điểm mạnh, lợi thế, tiềm năng của địa phương cũng như những điểm yếu hoặc phức tạp phát sinh trong chuyển đổi để có thể xử lý tốt, tạo sự hoà nhập và thống nhất cao trong quyết tâm hành động của bộ máy chính quyền. Nếu năng lực không đáp ứng hoặc áp lực vượt quá khả năng chịu đựng, rất dễ dẫn đến tình trạng làm việc đối phó, thiếu trách nhiệm, hoặc thậm chí là buông xuôi, gây bức xúc trong nhân dân và ảnh hưởng tiêu cực đến chất lượng dịch vụ công và tổ chức các hoạt động xã hội.
Thứ hai, về ý thức chính trị
Trong bối cảnh chuyển đổi sang mô hình chính quyền hai cấp, ý thức chính trị có vai trò quyết định, bởi cải cách hành chính không chỉ là thay đổi bộ máy, mà quan trọng hơn là thay đổi tư duy, thay đổi cách nghĩ, cách làm của đội ngũ cán bộ. Quá trình sắp xếp, tinh gọn bộ máy có thể tạo ra một tâm lý xáo trộn trong hàng ngũ cán bộ, đảng viên, nếu không được làm công tác tư tưởng tốt và quản trị chặt chẽ, sẽ làm gia tăng chủ nghĩa cơ hội, chạy chức, chạy quyền bằng mọi giá, hoặc ngược lại là thiếu động lực, ảnh hưởng nghiêm trọng đến tinh thần cống hiến của cán bộ. Mặt khác, các chủ trương về đạo đức công vụ, chống tham nhũng nếu không đi đôi với hành động quyết liệt, thực chất sẽ trực tiếp làm suy giảm lòng tin của nhân dân, ảnh hưởng tiêu cực đến hình ảnh và vị thế của Đảng và Nhà nước; nhưng nếu quá căng thẳng thì khó động viên được tinh thần cán bộ trong bối cảnh nhiều thay đổi và khó khăn hiện nay. Vì vậy, cần có cách làm phù hợp để đảm bảo triển khai nghiêm được kỷ luật công vụ mà vẫn động viên được cán bộ và tập hợp được sức mạnh của toàn đội ngũ.
Thứ ba, về năng lực hành động chính trị
Việt Nam đang bước vào giai đoạn chuyển đổi mô hình phát triển: từ tăng trưởng dựa vào tài nguyên và lao động giá rẻ sang kinh tế tri thức, số hoá, kinh tế xanh. Không chỉ là mở rộng địa bàn, mà còn là thay đổi cách thức phát triển gắn với số hoá, lợi thế công nghệ, hội nhập quốc tế để nâng cấp, tạo sức bật mới của các tỉnh, thành trong tiến vào kỷ nguyên mới. Không gian phát triển của 34 tỉnh thành vừa có tiềm năng, vừa gặp thách thức riêng với nhiều vấn đề chưa từng có:
Trong chuyển đổi số quốc gia, chính quyền địa phương là chủ thể số hoá và là là chủ thể quản trị và khai thác kết quả số hoá (Thủ tướng Chính phủ, 2020). Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh đã triển khai đô thị thông minh với dữ liệu dân cư, giao thông, y tế, giáo dục; một số tỉnh thành khác như Quảng Ninh, Huế… cũng đang xây dựng chính quyền số. Tổng Bí thư Tô Lâm từng nhấn mạnh “không có chuyển đổi số, mô hình chính quyền hai cấp sẽ không thể vận hành hiệu quả” (Phương Liên, 2025), sắp tới, nhiều tỉnh/thành sẽ phải trở thành chủ thể số hoá trong xây dựng chính quyền số với dữ liệu lớn (Big Data), nên cũng nảy sinh vấn đề mới như chênh lệch năng lực số giữa các địa phương. Nhiều địa phương có thể đứng trước nguy cơ tỉnh số hóa, nhưng trình độ cán bộ chưa đáp ứng đủ và nhiều người dân chưa kịp số hóa. Mạng lưới giao thông - logistics mới như cao tốc, cảng biển, sân bay mở ra không gian phát triển mới khiến lần đầu tiên nhiều tỉnh có kết nối trực tiếp quốc tế nhưng kèm theo là vấn đề mới về sốt đất, hay áp lực hạ tầng đô thị. Nhiều địa phương có sự bứt phá trong khi nhiều địa phương chưa bắt kịp, có phần tụt lại phía sau dẫn đến sự phân hoá phát triển mới, lực lượng lao động trẻ và giỏi vẫn rời quê lên đô thị lớn để lại vùng trũng nguồn nhân lực. Các vấn đề xã hội mới nổi diễn ra ở nhiều địa phương như xung đột đất đai, đền bù tái định cư trong các dự án lớn; mâu thuẫn giữa phát triển công nghiệp với bảo vệ môi trường và sinh kế truyền thống; các vấn đề an ninh phi truyền thống như tội phạm công nghệ cao, buôn bán xuyên biên giới, tôn giáo-dân tộc trong bối cảnh mới… Những vấn đề này chưa từng xuất hiện cùng lúc, với quy mô và cường độ như hiện nay, đặt ra đòi hỏi tư duy cao về phát triển bền vững, tích hợp liên ngành về kinh tế, xã hội, môi trường, văn hóa và công nghệ để có thể quy hoạch không gian phát triển liên vùng, phát triển kinh tế xanh - kinh tế số như động lực mới với nguồn nhân lực địa phương và tăng cường quản trị văn hoá - xã hội để tránh xung đột mới.
Bối cảnh trên cho thấy thực hiện mô hình chính quyền hai cấp thực sự là một cơ hội thể hiện năng lực hành động chính trị của hệ thống cán bộ với nhiều vấn đề đặt ra:
Sự chuyển dịch vị trí, chức năng của cơ quan công tác có thể đòi hỏi sự hy sinh về quyền lợi, vai trò vị trí công vụ, sự ổn định gia đình (vốn có) của cán bộ, đồng thời cũng đặt ra yêu cầu dấn thân cống hiến, yêu cầu trí lực cao hơn để có thể đảm đương khối lượng công việc mới và lớn.
Cán bộ chuyên môn cấp xã có thể phải phụ trách nhiều nội dung chuyên môn, trong đó không chỉ là chuyên môn đã được đào tạo, đòi hỏi năng lực tổng hợp, thực chất.
Cán bộ lãnh đạo, quản lý ở cả cấp tỉnh và cấp xã đều cần phải có tư duy mới, có tầm nhìn chiến lược dựa trên địa kinh tế - văn hóa - chính trị, điểm mạnh, điểm yếu trong tổng thể quy hoạch phát triển mới của địa phương, từ đó mà hoạch định, điều hành, quản trị, phối hợp để giải quyết các vấn đề mới phát sinh, cũng như tương hỗ để phát huy được thế mạnh của địa phương.
Các tập thể cơ quan Đảng, chính quyền địa phương phải thực sự giải quyết ổn thoả những vấn đề liên quan về đời sống chính trị - xã hội trong nội bộ, xác định đúng tâm thế làm việc, xây dựng được khối đoàn kết, thống nhất, trí tuệ mới có thể đáp ứng với thực tiễn chuyển đổi.
Có thể nói, mỗi cán bộ nói riêng, mỗi tập thể cơ quan chính quyền nói chung, nếu thiếu năng lực hành động thì cũng khó tạo ra sự thay đổi trong thực tiễn công tác và hiệu lực, hiệu quả của mô hình chính quyền hai cấp có thể không đạt như kỳ vọng.
3. Một số giải pháp góp phần nâng cao văn hoá chính trị trong bối cảnh chuyển đổi sang mô hình chính quyền địa phương hai cấp hiện nay
3.1. Tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng gắn với thực tiễn để nâng cao tri thức chính trị cho cán bộ
Nền tảng của văn hoá chính trị là sự hiểu biết đúng đắn về chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối, chủ trương của Đảng. Đào tạo cán bộ phải hướng tới việc rèn luyện năng lực xử lý tình huống chính trị trong đời sống thực tế giúp cán bộ rèn luyện khả năng phán đoán, quyết đoán và linh hoạt. Cán bộ, đảng viên không chỉ nói đúng, nghĩ đúng mà quan trọng hơn là phải làm đúng, làm trúng, làm kịp thời. Chính vì vậy, việc tổ chức bồi dưỡng lý luận chính trị cần theo hướng gắn lý thuyết với thực tiễn, chú trọng cập nhật kiến thức mới và liên ngành, đặc biệt về quản trị công hiện đại, tăng cường tình huống thực tế, đối thoại trực tiếp thay vì truyền đạt một chiều. Đề cao và khuyến khích việc tự học, tự rèn luyện của cán bộ, kết hợp nhuần nhuyễn giữa học theo chương trình đào tạo và học từ thực tiễn công tác tại cơ quan, tận dụng triệt để điều kiện công nghệ, truyền thông để nâng cao tri thức chính trị gắn liền với nội dung công việc phải đảm nhiệm.
Các cấp uỷ trên cơ sở tình hình thực tế về tri thức của cán bộ, phải chịu trách nhiệm định hướng và đề xuất, tổ chức các lớp bồi dưỡng phù hợp, theo chương trình chung hoặc riêng, để cán bộ, đảng viên trong cơ quan được nâng cao kiến thức cần thiết, rèn luyện tác phong, phong cách công vụ khoa học, dân chủ, gương mẫu, nói đi đôi với làm. Việc duy trì cơ chế tự phê bình và phê bình gắn với chuẩn mực đạo đức cách mạng sẽ giúp mỗi cán bộ không ngừng rèn luyện, điều chỉnh hành vi, ứng xử đúng mực, tránh xa thói quan liêu, hình thức. Khi cán bộ hành xử chuẩn mực, liêm chính, hình ảnh chính trị của chính quyền sẽ được củng cố trong lòng nhân dân và việc đào tạo sẽ mang lại hiệu quả thiết thực.
3.2. Đổi mới phương thức lãnh đạo và quản lý, xây dựng đội ngũ cán bộ có ý thức, kỹ năng, năng lực hành động chính trị trong kỷ nguyên số
Nghị quyết Hội nghị lần thứ 11 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII đã chỉ rõ: “Nhiệm vụ trong giai đoạn tới là rất nặng nề và nhạy cảm nhưng cũng là cơ hội để các cấp, các ngành, các địa phương lựa chọn, bố trí, sắp xếp cán bộ. Điều chỉnh kịp thời, ban hành đồng bộ các quy định, hướng dẫn để các cơ quan, đơn vị, tổ chức của hệ thống chính trị vận hành thông suốt, hoạt động hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả theo mô hình tổ chức mới” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2025). Trong kỷ nguyên số, chuyển đổi tư duy, từ quản lý sang quản trị để kiến tạo, đồng hành và phát triển dựa trên nguyên tắc công khai, minh bạch, hiệu quả và lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm phục vụ là vấn đề mới, hết sức quan trọng. Để làm được điều này, hành động chính trị của cán bộ không thể tách rời việc ứng dụng công nghệ. Việc sử dụng hệ thống cơ sở dữ liệu số và dashboard giám sát tiến độ chính sách giúp minh bạch hóa quy trình và thúc đẩy trách nhiệm giải trình. Chính quyền hai cấp cần đẩy mạnh dân chủ cơ sở thông qua thiết lập kênh tương tác trực tiếp với nhân dân như hội nghị đối thoại, cổng thông tin điện tử, đường dây nóng hay thậm chí là qua nền tảng mạng xã hội với các chương trình chính thống. Khi cán bộ trực tiếp lắng nghe, tiếp nhận phản hồi và giải quyết vấn đề của dân, năng lực hành động chính trị sẽ được rèn giũa và nâng cao rõ rệt. Đặc biệt, phương thức hành động “gần dân, sát dân, trọng dân” phải trở thành nguyên tắc xuyên suốt, vì đó là thước đo căn bản nhất của năng lực chính trị thực chất.
Cán bộ, đảng viên không chỉ cần có bản lĩnh mà còn phải sở hữu hệ thống kỹ năng để biến quyết tâm chính trị thành hành động hiệu quả. Trước hết là kỹ năng phân tích và hoạch định chính sách, đánh giá tác động kinh tế - xã hội trước khi ban hành một quyết định, đảm bảo chính sách vừa đúng định hướng chính trị vừa phù hợp thực tiễn. Thứ hai là kỹ năng truyền thông chính trị, giúp cán bộ biết cách giải thích, thuyết phục và định hướng dư luận, đặc biệt trong bối cảnh thông tin đa chiều, tin giả và xuyên tạc ngày càng phức tạp. Thứ ba là kỹ năng phối hợp liên ngành bởi hoạt động chính trị không chỉ là công việc cá nhân mà là kết quả của sự phối hợp nhịp nhàng giữa các ngành, giữa Đảng, chính quyền, Mặt trận và các đoàn thể. Khi năng lực lãnh đạo tập thể và khả năng huy động nguồn lực xã hội được nâng cao thì năng lực hành động chính trị của từng cán bộ cũng sẽ được củng cố.
Năng lực hành động chính trị cũng chỉ thực sự được chứng minh khi cán bộ dám chịu trách nhiệm trước quyết định của mình. Do đó, việc công khai trách nhiệm chính trị của từng vị trí, từng chức danh là cần thiết. Mỗi cán bộ cần có bản cam kết kết quả công tác hằng năm, coi đó là thước đo để đánh giá thi đua và đề bạt. Cần xây dựng văn hóa “năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám đột phá vì lợi ích chung; khơi dậy mạnh mẽ ý thức trách nhiệm, khát vọng cống hiến, tinh thần đổi mới, hết lòng, hết sức vì nhân dân phục vụ của đội ngũ cán bộ” (Đảng Cộng sản Việt Nam, Kết luận 14-KL/TW, 2021), tránh tình trạng sợ sai, sợ trách nhiệm dẫn đến trì trệ. Duy trì các diễn đàn tự phê bình và phê bình để cán bộ có thể đối diện với điểm mạnh, điểm yếu của mình, qua đó tạo môi trường rèn luyện bản lĩnh chính trị và thói quen hành động có kỷ luật.
3.3. Tăng cường duy trì kỷ luật, kỷ cương công vụ đi đôi với khích lệ sáng tạo
Văn hoá chính trị không chỉ dừng lại ở phẩm chất cá nhân mà còn thể hiện qua cơ chế vận hành của tổ chức. Chính quyền hai cấp cần thiết lập hệ thống kỷ luật nghiêm minh, kiên quyết xử lý hành vi tiêu cực, thiếu trách nhiệm, làm việc hình thức. Việc kiểm tra cần hướng tới thực chất, đánh giá năng lực hành động chính trị dựa trên kết quả công việc và sự hài lòng của nhân dân, thay vì chỉ dựa vào báo cáo hành chính. Những cán bộ né tránh, làm việc hình thức, thiếu trách nhiệm cần bị xử lý nghiêm minh để tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh, thúc đẩy sự tiến bộ chung.
Song hành với việc duy trì kỷ luật, kỷ cương công vụ là cơ chế khích lệ sáng tạo, kịp thời động viên những cán bộ có sáng kiến mới, giải pháp đột phá trong quản lý và thực thi nhiệm vụ. Cần có cơ chế khen thưởng kịp thời đối với các sáng kiến, mô hình đổi mới trong công tác quản lý và lãnh đạo địa phương, tạo động lực cho cán bộ mạnh dạn đổi mới. Cần đẩy mạnh việc nêu gương của cán bộ lãnh đạo, nhất là người đứng đầu, bởi tấm gương thực tiễn có tác động mạnh mẽ hơn nhiều so với lời nói. Việc tôn vinh cần thông qua đánh giá rộng rãi của cộng đồng xã hội (trên nền tảng số), của tập thể cơ quan và tổ chức đảng với nhiều hình thức để tăng cường ý thức và bản lĩnh chính trị của cán bộ, đảng viên. Sự kết hợp hài hoà giữa tăng cường duy trì kỷ luật, kỷ cương công vụ đi đôi với khích lệ sáng tạo vừa bảo đảm tính nghiêm túc của hệ thống cơ quan chính quyền hai cấp, vừa nuôi dưỡng động lực đổi mới, góp phần xây dựng một môi trường chính trị công vụ văn minh, năng động.
4. Kết luận
Văn hóa chính trị trong tiến trình chuyển đổi sang mô hình chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam hiện nay vừa là kết quả của sự kế thừa truyền thống, vừa là sản phẩm của những yêu cầu đổi mới. Việc xây dựng văn hóa chính trị không thể chỉ giới hạn trong phạm vi nội bộ Đảng, mà phải lan tỏa trong toàn bộ hệ thống chính trị và đời sống xã hội. Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý và Nhân dân làm chủ là ba trụ cột cấu thành nền chính trị Việt Nam. Văn hóa chính trị chỉ thực sự bền vững khi cả ba trụ cột này cùng vận hành trong sự thống nhất, khi quyền lực được kiểm soát, trách nhiệm được đề cao và lợi ích của Nhân dân được đặt ở trung tâm. Sự chuyển đổi sang chính quyền hai cấp vì thế vừa là cơ hội để nâng cao hiệu quả quản trị, vừa là phép thử, là thước đo năng lực hành động thực tiễn và văn hóa chính trị của đội ngũ cán bộ và tổ chức chính quyền hai cấp ở Việt Nam hiện nay./.
TS. Nguyễn Thị Tuyến
Viện Văn hoá và Phát triển, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
----------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------
Tài liệu tham khảo
• Chính phủ.(2020). Quyết định số 749/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ: Phê duyệt "Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm2030". https://datafiles.chinhphu.vn/cpp/files/vbpq/2020/06/749.signed.pdf
• Chính phủ. (2025). Nghị quyết số 74/NQ-CP ngày 07/04/2025: Ban hành Kế hoạch thực hiện sắp xếp đơn vị hành chính và xây dựng mô hình tổ chức chính quyền địa phương 02 cấp. https://tulieuvankien.dangcongsan.vn/he-thong-van-ban/nghi-quyet-cua-chinh-phu/nghi-quyet-so-74nq-cp-ngay-0742025-cua-chinh-phu-ban-hanh-ke-hoach-thuc-hien-sap-xep-don-vi-hanh-chinh-va-xay-dung-mo-11494
• Đảng Cộng sản Việt Nam. (2021). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII. https://tulieuvankien.dangcongsan.vn/van-kien-tu-lieu-ve-dang/book/sach-chinh-tri/van-kien-dai-hoi-dai-bieu-toan-quoc-lan-thu-xiii-tap-1-403
• Đảng Cộng sản Việt Nam. (2021). Kết luận 14-KL/TW ngày 22/9/2021 của Bộ Chính trị về chủ trương khuyến khích và bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo vì lợi ích chung. https://tulieuvankien.dangcongsan.vn/he-thong-van-ban/van-ban-cua-dang/ket-luan-so-14-kltw-ngay-2292021-cua-bo-chinh-tri-ve-chu-truong-khuyen-khich-va-bao-ve-can-bo-nang-dong-sang-tao-vi-7831
• Đảng Cộng sản Việt Nam. (2025). Nghị quyết số 60-NQ/TW ngày 12/4/2025 Hội nghị lần thứ 11 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII. https://tulieuvankien.dangcongsan.vn/Uploads/2025/4/7/13/NQ-60-TW.PDF
• Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh. (2019). Giáo trình Cao cấp lý luận chính trị: Chính trị học. Nxb Lý luận chính trị.
• Nguyễn Sĩ Dũng (2025, 15 tháng 5). Phân quyền đúng, tăng trưởng mạnh. Báo điện tử Chính phủ. https://xaydungchinhsach.chinhphu.vn/phan-quyen-dung-tang-truong-manh-119250515074850053.htm
• Phương Liên. (2025, 24 tháng 9). Tổng Bí thư Tô Lâm: Không có chuyển đổi số, mô hình hành chính hai cấp sẽ không thể vận hành hiệu quả. Báo Điện tử Chính phủ. https://baochinhphu.vn/tong-bi-thu-to-lam-khong-co-chuyen-doi-so-mo-hinh-hanh-chinh-hai-cap-se-khong-the-van-hanh-hieu-qua-102250702160914314.htm
• Quốc hội.(2025). Luật số 72/2025/QH15, Luật Tổ chức chính quyền địa phương. https://datafiles.chinhphu.vn/cpp/files/vbpq/2025/7/2025_807-808_72-2025-qh15..pdf
• Chính phủ.(2020). Quyết định số 749/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ: Phê duyệt "Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm2030". https://datafiles.chinhphu.vn/cpp/files/vbpq/2020/06/749.signed.pdf
• Chính phủ. (2025). Nghị quyết số 74/NQ-CP ngày 07/04/2025: Ban hành Kế hoạch thực hiện sắp xếp đơn vị hành chính và xây dựng mô hình tổ chức chính quyền địa phương 02 cấp. https://tulieuvankien.dangcongsan.vn/he-thong-van-ban/nghi-quyet-cua-chinh-phu/nghi-quyet-so-74nq-cp-ngay-0742025-cua-chinh-phu-ban-hanh-ke-hoach-thuc-hien-sap-xep-don-vi-hanh-chinh-va-xay-dung-mo-11494
• Đảng Cộng sản Việt Nam. (2021). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII. https://tulieuvankien.dangcongsan.vn/van-kien-tu-lieu-ve-dang/book/sach-chinh-tri/van-kien-dai-hoi-dai-bieu-toan-quoc-lan-thu-xiii-tap-1-403
• Đảng Cộng sản Việt Nam. (2021). Kết luận 14-KL/TW ngày 22/9/2021 của Bộ Chính trị về chủ trương khuyến khích và bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo vì lợi ích chung. https://tulieuvankien.dangcongsan.vn/he-thong-van-ban/van-ban-cua-dang/ket-luan-so-14-kltw-ngay-2292021-cua-bo-chinh-tri-ve-chu-truong-khuyen-khich-va-bao-ve-can-bo-nang-dong-sang-tao-vi-7831
• Đảng Cộng sản Việt Nam. (2025). Nghị quyết số 60-NQ/TW ngày 12/4/2025 Hội nghị lần thứ 11 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII. https://tulieuvankien.dangcongsan.vn/Uploads/2025/4/7/13/NQ-60-TW.PDF
• Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh. (2019). Giáo trình Cao cấp lý luận chính trị: Chính trị học. Nxb Lý luận chính trị.
• Nguyễn Sĩ Dũng (2025, 15 tháng 5). Phân quyền đúng, tăng trưởng mạnh. Báo điện tử Chính phủ. https://xaydungchinhsach.chinhphu.vn/phan-quyen-dung-tang-truong-manh-119250515074850053.htm
• Phương Liên. (2025, 24 tháng 9). Tổng Bí thư Tô Lâm: Không có chuyển đổi số, mô hình hành chính hai cấp sẽ không thể vận hành hiệu quả. Báo Điện tử Chính phủ. https://baochinhphu.vn/tong-bi-thu-to-lam-khong-co-chuyen-doi-so-mo-hinh-hanh-chinh-hai-cap-se-khong-the-van-hanh-hieu-qua-102250702160914314.htm
• Quốc hội.(2025). Luật số 72/2025/QH15, Luật Tổ chức chính quyền địa phương. https://datafiles.chinhphu.vn/cpp/files/vbpq/2025/7/2025_807-808_72-2025-qh15..pdf