1. Đặt vấn đề
Lịch sử dân tộc Việt Nam là lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước, với biết bao hy sinh gian khổ nhưng cũng đầy tự hào về ý chí quật cường, khát vọng tự do và tinh thần nhân văn sâu sắc của một dân tộc yêu chuộng hòa bình. Ngày 2 tháng 9 năm 1945 đã trở thành dấu mốc chói lọi trong lịch sử dân tộc, khi tại Quảng trường Ba Đình lịch sử, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thay mặt cả dân tộc trịnh trọng đọc bản “Tuyên ngôn độc lập”, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, mở ra kỷ nguyên độc lập, tự do cho dân tộc Việt Nam, khẳng định quyền con người, quyền được sống, quyền tự do, quyền mưu cầu hạnh phúc - những quyền vốn được xem là “thiêng liêng và bất khả xâm phạm” của mọi con người trên trái đất, trong đó có người Việt Nam. Trên cơ sở đó, Hồ Chí Minh đã nâng cao tầm vóc của cách mạng Việt Nam, gắn liền độc lập dân tộc với quyền con người phổ quát, kết hợp hài hòa tinh hoa nhân loại với thực tiễn đấu tranh của nhân dân Việt Nam.
Tám mươi năm qua, Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn về mọi mặt. Bước vào kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình phát triển bền vững, hướng tới phồn vinh, hạnh phúc, với nhiều thời cơ và thách thức đan xen, Đảng Cộng sản Việt Nam (Đảng, Đảng ta) luôn kiên định quan điểm con người là mục tiêu cao nhất và là động lực quyết định của sự phát triển. Vì vậy, nghiên cứu về sự kế thừa và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người trong “Tuyên ngôn độc lập” trong chiến lược phát triển con người của Đảng trong kỷ nguyên mới là một vấn đề vừa có ý nghĩa lý luận, vừa có ý nghĩa thực tiễn cấp bách hiện nay.
2. Tư tưởng quyền con người trong “Tuyên ngôn độc lập” của Chủ tịch Hồ Chí Minh
2.1. Nội dung tư tưởng quyền con người trong “Tuyên ngôn độc lập”
Thứ nhất: “Tuyên ngôn độc lập” đã khẳng định giá trị phổ quát của quyền con người. Ngay trong câu đầu tiên, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trích dẫn “Tuyên ngôn độc lập” Hoa Kỳ (1776) và Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền Pháp (1791), khẳng định một chân lý phổ quát, tiến bộ mà loài người đã đạt được, những lẽ phải không ai chối cãi được: “Tất cả mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc” (Hồ Chí Minh, 2011, quyển 1, tr. 699). Điều này thể hiện quyền con người không chỉ thuộc về cá nhân riêng lẻ mà còn phải được bảo vệ trong khuôn khổ cộng đồng dân tộc và quốc tế.
Thứ hai: “Tuyên ngôn độc lập” đã gắn quyền con người với quyền dân tộc tự quyết. Đây là đóng góp sáng tạo quan trọng của Hồ Chí Minh. Người viết: “Một dân tộc đã gan góc chống ách nô lệ của Pháp hơn 80 năm nay, một dân tộc đã gan góc đứng về phe đồng minh chống phát xít mấy năm nay, dân tộc đó phải được tự do. Dân tộc đó phải được độc lập” (Hồ Chí Minh, 2011, quyển 1, tr.702). Điểm mới ở đây là Hồ Chí Minh coi quyền con người không chỉ là quyền của từng cá nhân, mà còn là quyền của cả một dân tộc bị áp bức, nếu một dân tộc mất độc lập thì không cá nhân nào trong dân tộc ấy được tự do, hạnh phúc đúng nghĩa. Đây là sự phát triển sáng tạo, làm phong phú thêm nội hàm quyền con người, phù hợp với bối cảnh các nước thuộc địa.
Thứ ba: “Tuyên ngôn độc lập” đã xác định quyền con người gắn với cuộc đấu tranh chính nghĩa chống áp bức, bóc lột của chủ nghĩa thực dân đối với nhân dân Việt Nam. Người tố cáo tội ác thực dân Pháp: “Chúng lập ra nhà tù nhiều hơn trường học…Chúng dùng thuốc phiện, rượu cồn để làm suy nhược nòi giống ta… Chúng bắt dân ta đóng hàng trăm thứ thuế vô lý…” (Hồ Chí Minh, 2011, quyển 1, tr.705). Việc nêu rõ tội ác của thực dân chính là chứng cứ hùng hồn chứng minh nhân dân Việt Nam bị tước đoạt quyền con người suốt 80 năm. Từ đó khẳng định: cuộc cách mạng của nhân dân Việt Nam không chỉ là giành quyền dân tộc tự quyết, mà còn là giành lại quyền con người - một lẽ phải hiển nhiên và tất yếu.
2.2. Giá trị tư tưởng và ý nghĩa của quyền con người trong “Tuyên ngôn độc lập”
Thứ nhất là giá trị nhân văn sâu sắc. “Tuyên ngôn độc lập” của Hồ Chí Minh đã đề cao phẩm giá, quyền tự do, hạnh phúc của con người. Khẳng định mục tiêu tối cao của cách mạng Việt Nam là vì con người, cho con người. Con người được đặt vào vị trí trung tâm của cách mạng giải phóng dân tộc.
Thứ hai là giá trị pháp lý và chính trị. “Tuyên ngôn độc lập” là bản tuyên bố đanh thép và mạnh mẽ về quyền con người của nhân dân Việt Nam trước toàn thế giới. Khẳng định cách mạng Việt Nam là hợp đạo lý, hợp pháp, phù hợp với các chuẩn mực tiến bộ chung của cộng đồng quốc tế tiến bộ.
Thứ ba là giá trị thời đại. “Tuyên ngôn độc lập” đã mở ra nhận thức mới về quyền con người trong điều kiện các dân tộc thuộc địa. Đặc biệt là truyền cảm hứng cho các phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc, giành quyền con người ở các nước khác. Đây cũng là cơ sở để Hiến pháp đầu tiên của Việt Nam được ban hành vào năm 1946, khẳng định xóa bỏ các chính sách phân biệt, bóc lột, đảm bảo những quyền cơ bản về đời sống, giáo dục, lao động, quyền bình đẳng trước pháp luật, quyền tự do ngôn luận, tự do tín ngưỡng, tự do hội họp, quyền bầu cử phổ thông của công dân Việt Nam.
Như vậy, tư tưởng quyền con người trong “Tuyên ngôn độc lập” của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vượt xa khuôn khổ một bản tuyên ngôn thông thường. Đó là sự kết hợp hài hòa giữa lý tưởng nhân văn cao đẹp của nhân loại với thực tiễn đấu tranh của dân tộc Việt Nam, khẳng định quyền con người chỉ có ý nghĩa trọn vẹn khi đi liền với quyền dân tộc.
3. Chiến lược phát triển con người của Đảng trong kỷ nguyên mới
3.1. Kế thừa tư tưởng Hồ Chí Minh về con người
Từ Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VI (1986), Đảng ta đã nhấn mạnh vai trò của con người là trung tâm của công cuộc đổi mới. “Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội” (Bổ sung, phát triển năm 2011) đã khẳng định: “Con người là trung tâm của phát triển, đồng thời là chủ thể của phát triển. Tôn trọng, bảo vệ quyền con người, gắn quyền con người với quyền và lợi ích của dân tộc, đất nước và quyền làm chủ của nhân dân” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2011, tr. 76-77).
Trong kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình phát triển của dân tộc, bối cảnh của cách mạng công nghiệp lần thứ tư, toàn cầu hóa sâu rộng, kinh tế tri thức và xã hội số mang lại những cơ hội phát triển vượt bậc cho Việt Nam nhưng đồng thời đặt ra nhiều thách thức gay gắt như: cạnh tranh nguồn nhân lực chất lượng cao, chênh lệch giàu nghèo, bất bình đẳng xã hội, ô nhiễm môi trường, an ninh phi truyền thống…Vì vậy, xây dựng và phát triển con người càng trở nên hết sức quan trọng trong chiến lược phát triển của quốc gia. Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng (2021) xác định phát triển con người toàn diện và xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển bền vững đất nước, “tạo môi trường và điều kiện xã hội thuận lợi nhất để khơi dậy truyền thống yêu nước, niềm tự hào dân tộc, niềm tin, khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc; tài năng, trí tuệ, phẩm chất của con người Việt Nam là trung tâm, mục tiêu và động lực phát triển quan trọng nhất của đất nước” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2021, tr.116). Chiến lược phát triển con người Việt Nam trong kỷ nguyên mới không chỉ là sự tiếp nối tư tưởng Hồ Chí Minh, mà còn đáp ứng yêu cầu của thời đại trong kỷ nguyên mới.
3.2. Nội dung chủ yếu của chiến lược phát triển con người trong kỷ nguyên mới
Thứ nhất: Đảng xác định mục tiêu phát triển con người là trung tâm: “Chăm lo xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện, trọng tâm là bồi dưỡng tinh thần yêu nước, lòng tự hào dân tộc; đạo đức lối sống và nhân cách. Tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức, ý thức tôn trọng pháp luật, mọi người dân Việt Nam đều hiểu biết sâu sắc, tự hào, tôn vinh lịch sử - văn hóa dân tộc. Hướng các hoạt động văn hóa, giáo dục, khoa học vào việc xây dựng thế giới quan khoa học, hướng tới chân - thiện - mỹ. Gắn xây dựng, rèn luyện đạo đức với thực hiện quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân. Nâng cao trí lực, bồi dưỡng tri thức cho con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế, của kinh tế tri thức và xã hội học tập” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2014, tr.50). Nhìn tổng thể, các phương diện cơ bản để phát triển con người Việt Nam trong kỷ nguyên mới bao gồm:
- Về trí tuệ: Nâng cao dân trí, bồi dưỡng năng lực học tập suốt đời.
- Về đạo đức: Xây dựng nhân cách, lối sống lành mạnh, trách nhiệm với xã hội.
- Về thể chất: Đảm bảo sức khỏe, tuổi thọ và chất lượng sống.
- Về tinh thần: Phát huy sáng tạo, ý chí tự cường, khát vọng đóng góp.
- Về thẩm mỹ: Bồi dưỡng tâm hồn đẹp, giàu bản sắc văn hóa.
Những thành tựu về phát triển con người đã góp phần nâng cao năng lực, mở rộng cơ hội để con người Việt nam tiếp cận bình đẳng các nguồn lực trong phát triển bền vững. Tỷ lệ người dân tham gia bảo hiểm y tế đến 2025 đạt trên 95% dân số và đang tiến tới bảo hiểm y tế toàn dân. Chỉ số phát triển con người (HDI) của Việt Nam liên tục tăng: năm 2019 đạt 0,704, xếp thứ 117/189 quốc gia. Năm 2023 đạt 0,766, xếp vào nhóm các quốc gia có mức phát triển chỉ số con người cao, đứng thứ 93/123 quốc gia và vùng lãnh thổ được nghiên cứu (Trung Hưng, 2025).
Thứ hai: Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao. Trong bối cảnh kinh tế tri thức và công nghệ số, chất lượng nguồn nhân lực là yếu tố quyết định năng lực cạnh tranh quốc gia, Đảng ta đã nhấn mạnh:
- Coi giáo dục - đào tạo, khoa học - công nghệ là đột phá chiến lược.
- Ưu tiên phát triển nhân lực trong các lĩnh vực mũi nhọn: trí tuệ nhân tạo, công nghệ thông tin, năng lượng tái tạo…
Việt Nam đặt mục tiêu đến 2030 có khoảng 1,5 triệu lao động công nghệ thông tin. Theo Tổng cục Thống kê, năm 2024, tỷ lệ lao động qua đào tạo ước đạt 69%, có bằng cấp chứng chỉ ước đạt 28,1%. Phấn đấu đến năm 2030 đạt 35- 40% có bằng, chứng chỉ (Quỳnh Chi, 2025).
Thứ ba: Bảo đảm quyền con người, quyền công dân. Đảng và Nhà nước tập trung đảm bảo quyền con người, quyền công dân thông qua việc: Xây dựng hệ thống pháp luật, chính sách ngày càng hoàn thiện, bảo vệ quyền con người.Thực hiện công bằng, tiến bộ xã hội, xóa bỏ rào cản phân biệt đối xử. Bảo đảm quyền tự do sáng tạo, tự do học tập, quyền tham gia quản lý xã hội của mọi công dân.
Nhà nước đã thể chế hóa “Luật Bình đẳng giới” (2006) và “Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2021 - 2030”. Tỷ lệ nữ đại biểu Quốc hội khóa XV đạt 30,26%, cao hơn mức trung bình thế giới (26,5%) (Báo Phụ nữ Việt Nam, 2021).
Thứ tư: Chiến lược phát triển con người của Việt Nam đặc biệt quan tâm đến phát triển bền vững và phát triển bao trùm, thực hiện phương châm không để ai bị bỏ lại phía sau. Chú trọng các nhóm yếu thế: người nghèo, người khuyết tật, đồng bào dân tộc thiểu số, trẻ em… Thực hiện các chương trình giảm nghèo bền vững, an sinh xã hội toàn diện. Cung cấp dịch vụ y tế, giáo dục, việc làm bình đẳng cho mọi đối tượng.
Tỷ lệ hộ nghèo cả nước năm 2025 giảm còn 1,93%, từ mức 9,88% năm 2015. Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển vùng dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021 - 2030 được triển khai mạnh mẽ (Hồng Kiều, 2025).
Thứ năm: Khơi dậy khát vọng, ý chí tự cường dân tộc. Trong chiến lược phát triển con người, Việt Nam đã nhấn mạnh đến xây dựng khát vọng phát triển đất nước hùng cường, nhân dân hạnh phúc; khơi dậy tinh thần đổi mới sáng tạo, trách nhiệm công dân, cống hiến cho cộng đồng.
Phong trào khởi nghiệp đổi mới sáng tạo (start-up) phát triển nhanh: Việt Nam hiện có hơn 3.000 start-up công nghệ, đứng thứ 3 Đông Nam Á. Năm 2023, Việt Nam xếp thứ 48/132 nền kinh tế trong Chỉ số Đổi mới sáng tạo toàn cầu (GII), tăng 2 bậc so với năm 2022 (Trần Trung Hiếu, 2023).
3.3. Ý nghĩa của chiến lược phát triển con người trong kỷ nguyên mới
Đối với con người: Mỗi cá nhân được phát triển toàn diện, được tôn trọng, bảo vệ quyền và cơ hội cống hiến. Nâng cao chất lượng sống, hạnh phúc và tự do sáng tạo.
Đối với xã hội: Tạo ra nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa-hiện đại hóa. Xây dựng xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, đoàn kết.
Đối với đất nước: Làm nền tảng vững chắc để thực hiện mục tiêu: đến 2045 Việt Nam trở thành nước phát triển, thu nhập cao.
Như vậy, chiến lược phát triển con người của Đảng trong kỷ nguyên mới là sự cụ thể hóa, phát triển sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về con người và quyền con người. Đó là chiến lược toàn diện, lâu dài, nhân văn, nhằm phát huy mạnh mẽ tiềm năng con người Việt Nam, đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững, hiện thực hóa khát vọng về một Việt Nam hùng cường, thịnh vượng và hạnh phúc. Từ quyền con người ở nghĩa tự do, bình đẳng, hạnh phúc trong bối cảnh mất nước, bị đô hộ, Đảng ta đã phát triển thành chiến lược xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa - không chỉ “được sống” mà còn “sống tốt”, phát triển hết tiềm năng, nhân cách trong một xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Có thể nói: từ “Tuyên ngôn độc lập” đến các nghị quyết, chiến lược phát triển của Đảng là một tiến trình nhất quán, sáng tạo trong tư tưởng nhân văn của cách mạng Việt Nam.
4. Mối quan hệ giữa tư tưởng quyền con người trong “Tuyên ngôn độc lập” và chiến lược phát triển con người của Đảng trong kỷ nguyên mới
4.1. Tư tưởng quyền con người trong “Tuyên ngôn độc lập”: nền tảng lý luận, tinh thần nhân văn
Ngày 2/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Tất cả mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc” (Hồ Chí Minh, 2011, Toàn tập, tập 4, tr.1). Người nhấn mạnh quyền con người gắn liền với độc lập dân tộc. Tư tưởng đó vừa khẳng định quyền con người là mục tiêu cao nhất của cách mạng Việt Nam, vừa gắn quyền cá nhân với quyền tập thể dân tộc.
Ba nội dung cốt lõi mà Hồ Chí Minh nhấn mạnh là: Quyền con người là tự nhiên, thiêng liêng, bất khả xâm phạm. Quyền con người phải được bảo đảm trong khuôn khổ của một dân tộc độc lập. Độc lập, tự do, hạnh phúc của mỗi người là lý tưởng tối cao của cách mạng.
4.2. Chiến lược phát triển con người trong kỷ nguyên mới: kế thừa và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh
Trong bối cảnh mới - toàn cầu hóa, hội nhập, cách mạng công nghiệp 4.0 - Đảng ta xác định con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của phát triển.
Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng (2021) nhấn mạnh: “Động lực và nguồn lực phát triển quan trọng của đất nước là khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, ý chí tự cường dân tộc, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc và khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2021, tr. 34).
Nội dung chiến lược phát triển con người hôm nay không chỉ là bảo đảm quyền con người tối thiểu (quyền sống, tự do, mưu cầu hạnh phúc) mà còn mở rộng: quyền học tập, quyền phát triển, quyền tham gia, quyền sáng tạo…, phù hợp với chuẩn mực nhân quyền hiện đại.
4.3. Mối quan hệ: kế thừa - cụ thể hóa - phát triển
Thứ nhất: Kế thừa tư tưởng quyền con người của Hồ Chí Minh. Chiến lược phát triển con người của Đảng hôm nay xuất phát từ nền tảng tư tưởng Hồ Chí Minh trong “Tuyên ngôn độc lập”: quyền sống, quyền tự do, quyền hạnh phúc của mỗi người phải được tôn trọng và bảo đảm. “Tuyên ngôn độc lập” nói: “Tất cả mọi người đều có quyền bình đẳng…”. Hiến pháp 2013, Điều 14 khẳng định: “Ở nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam, quyền con người… được tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật”.
Thứ hai: Cụ thể hóa trong điều kiện lịch sử mới. Nếu năm 1945 nhiệm vụ cấp bách là giành độc lập dân tộc để trả lại quyền con người bị tước đoạt, thì hôm nay nhiệm vụ là phát triển toàn diện con người - không chỉ “được sống” mà còn “sống tốt”, phát huy hết tiềm năng cá nhân trong một xã hội dân chủ, công bằng, văn minh. Khi đó quyền con người chủ yếu là quyền tự do thoát khỏi áp bức, bóc lột. Nay còn là quyền học tập, tiếp cận công nghệ, hưởng an sinh xã hội, bình đẳng giới, tự do sáng tạo…
Thứ ba: Phát triển lên một tầm cao mới. Từ tư tưởng quyền con người của Hồ Chí Minh, Đảng đã nâng lên thành chiến lược phát triển con người, coi đây là động lực then chốt, là mục tiêu của mọi chính sách phát triển.Ví dụ: Khẩu hiệu “Không để ai bị bỏ lại phía sau” trong các chương trình giảm nghèo, an sinh xã hội. Đầu tư phát triển giáo dục, khoa học công nghệ để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.
4.4. Ý nghĩa của mối quan hệ giữa tư tưởng quyền con người trong “Tuyên ngôn độc lập” và chiến lược phát triển con người của Đảng trong kỷ nguyên mới
Mối quan hệ giữa tư tưởng quyền con người trong “Tuyên ngôn độc lập” và chiến lược phát triển con người của Đảng trong kỷ nguyên mới là một quá trình lịch sử liên tục, kế thừa và phát triển sáng tạo.
Về lý luận: Khẳng định tính kế thừa, phát triển sáng tạo của Đảng trong vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh. Chứng minh tính toàn diện và tiến bộ của tư tưởng quyền con người gắn với điều kiện cụ thể của Việt Nam.
Về thực tiễn: Làm rõ mục tiêu của chiến lược phát triển: không chỉ phát triển kinh tế mà phải phát triển con người toàn diện. Góp phần tạo ra đồng thuận xã hội, khơi dậy sức mạnh nội lực dân tộc.
Về thời đại: Khẳng định cam kết của Việt Nam với các chuẩn mực nhân quyền quốc tế. Thích ứng với xu thế phát triển bền vững và nhân văn của thế giới.
Tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng, còn chiến lược hôm nay là cụ thể hóa và mở rộng những giá trị nhân văn đó trong bối cảnh mới, nhằm hiện thực hóa khát vọng Việt Nam hùng cường, phồn vinh, hạnh phúc.
5. Một số kiến nghị nhằm phát huy chiến lược phát triển con người ở Việt Nam hiện nay
Để tiếp tục quán triệt sâu sắc và phát huy tư tưởng quyền con người của Hồ Chí Minh, đồng thời triển khai có hiệu quả chiến lược phát triển con người của Đảng trong bối cảnh mới, xin kiến nghị một số vấn đề sau:
Thứ nhất, tiếp tục tuyên truyền, giáo dục sâu rộng trong toàn xã hội, nhất là thế hệ trẻ, về giá trị nhân văn sâu sắc của “Tuyên ngôn độc lập”, về quyền con người gắn liền với quyền dân tộc và trách nhiệm công dân. Bổ sung, hoàn thiện nội dung giảng dạy về tư tưởng Hồ Chí Minh và chiến lược phát triển con người trong hệ thống giáo dục chính trị, đào tạo cán bộ các cấp, nhất là cấp cán bộ chiến lược được đào tạo ở Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh.
Thứ hai, hoàn thiện hệ thống pháp luật và chính sách nhằm bảo đảm tốt hơn quyền con người, quyền công dân theo tinh thần Hiến pháp 2013 và các công ước quốc tế mà Việt Nam đã tham gia. Xây dựng các chỉ số đo lường phát triển con người toàn diện, phù hợp với điều kiện cụ thể của Việt Nam, làm cơ sở đánh giá kết quả thực hiện chiến lược phát triển con người.
Thứ ba, tăng cường đầu tư cho giáo dục - đào tạo, nhất là giáo dục chất lượng cao, giáo dục nghề nghiệp gắn với nhu cầu thị trường lao động. Thúc đẩy nghiên cứu khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số để nâng cao năng suất lao động và năng lực cạnh tranh của nguồn nhân lực. Đẩy mạnh các chương trình khuyến khích học tập suốt đời, đào tạo lại và nâng cao kỹ năng cho người lao động, thích ứng với yêu cầu của kỷ nguyên số.
Thứ tư, tiếp tục thực hiện hiệu quả các chương trình giảm nghèo đa chiều, giảm chênh lệch phát triển giữa các vùng miền, giữa các nhóm xã hội, không để ai bị bỏ lại phía sau. Chăm lo tốt hơn các nhóm yếu thế (trẻ em, phụ nữ, người khuyết tật, đồng bào dân tộc thiểu số) để họ được bảo đảm đầy đủ quyền con người và quyền phát triển.
Thứ năm, xây dựng môi trường văn hóa xã hội lành mạnh, đề cao đạo đức, lối sống nhân văn, khơi dậy tinh thần yêu nước, ý chí tự cường và khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc. Khuyến khích tự do sáng tạo, phát huy tối đa tiềm năng, năng lực của mỗi cá nhân trong khuôn khổ pháp luật và lợi ích cộng đồng.
Thứ sáu, chủ động tham gia và thực hiện có trách nhiệm các công ước quốc tế về quyền con người, học tập kinh nghiệm quốc tế về phát triển con người toàn diện. Tăng cường hợp tác quốc tế trong đào tạo nhân lực chất lượng cao, chuyển giao công nghệ và nghiên cứu khoa học.
Những kiến nghị trên đây xuất phát từ yêu cầu thực tiễn của công cuộc đổi mới, phát triển đất nước và hội nhập quốc tế, đồng thời bám sát tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người gắn liền với quyền dân tộc và khát vọng hạnh phúc.
Thực hiện tốt những giải pháp đó sẽ góp phần quan trọng hiện thực hóa chiến lược phát triển con người Việt Nam toàn diện, bền vững trong kỷ nguyên mới.
6. Kết luận
Trong bối cảnh toàn cầu hóa, hội nhập sâu rộng và cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư, việc đặt con người ở vị trí trung tâm của chiến lược phát triển không chỉ là sự lựa chọn đúng đắn về chính trị, kinh tvế mà còn là yêu cầu tất yếu về đạo lý, nhân văn, phù hợp với xu thế tiến bộ của nhân loại. Mối quan hệ giữa tư tưởng quyền con người trong “Tuyên ngôn độc lập” và chiến lược phát triển con người của Đảng thể hiện tính kế thừa, phát triển và sáng tạo, đồng thời khẳng định bản chất nhân văn, tiến bộ và bền vững của cách mạng Việt Nam.
Trong thời gian tới, với quyết tâm chính trị cao hướng tới Đại hội XIV của Đảng, sự đồng thuận xã hội, cùng với những giải pháp đồng bộ, toàn diện và khả thi, tin tưởng rằng chiến lược phát triển con người Việt Nam trong kỷ nguyên mới sẽ được triển khai có hiệu quả, qua đó tiếp tục khẳng định giá trị bền vững của tư tưởng Hồ Chí Minh và khát vọng Việt Nam hùng cường, thịnh vượng trong thế kỷ XXI./.
Lịch sử dân tộc Việt Nam là lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước, với biết bao hy sinh gian khổ nhưng cũng đầy tự hào về ý chí quật cường, khát vọng tự do và tinh thần nhân văn sâu sắc của một dân tộc yêu chuộng hòa bình. Ngày 2 tháng 9 năm 1945 đã trở thành dấu mốc chói lọi trong lịch sử dân tộc, khi tại Quảng trường Ba Đình lịch sử, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thay mặt cả dân tộc trịnh trọng đọc bản “Tuyên ngôn độc lập”, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, mở ra kỷ nguyên độc lập, tự do cho dân tộc Việt Nam, khẳng định quyền con người, quyền được sống, quyền tự do, quyền mưu cầu hạnh phúc - những quyền vốn được xem là “thiêng liêng và bất khả xâm phạm” của mọi con người trên trái đất, trong đó có người Việt Nam. Trên cơ sở đó, Hồ Chí Minh đã nâng cao tầm vóc của cách mạng Việt Nam, gắn liền độc lập dân tộc với quyền con người phổ quát, kết hợp hài hòa tinh hoa nhân loại với thực tiễn đấu tranh của nhân dân Việt Nam.
Tám mươi năm qua, Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn về mọi mặt. Bước vào kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình phát triển bền vững, hướng tới phồn vinh, hạnh phúc, với nhiều thời cơ và thách thức đan xen, Đảng Cộng sản Việt Nam (Đảng, Đảng ta) luôn kiên định quan điểm con người là mục tiêu cao nhất và là động lực quyết định của sự phát triển. Vì vậy, nghiên cứu về sự kế thừa và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người trong “Tuyên ngôn độc lập” trong chiến lược phát triển con người của Đảng trong kỷ nguyên mới là một vấn đề vừa có ý nghĩa lý luận, vừa có ý nghĩa thực tiễn cấp bách hiện nay.
2. Tư tưởng quyền con người trong “Tuyên ngôn độc lập” của Chủ tịch Hồ Chí Minh
2.1. Nội dung tư tưởng quyền con người trong “Tuyên ngôn độc lập”
Thứ nhất: “Tuyên ngôn độc lập” đã khẳng định giá trị phổ quát của quyền con người. Ngay trong câu đầu tiên, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trích dẫn “Tuyên ngôn độc lập” Hoa Kỳ (1776) và Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền Pháp (1791), khẳng định một chân lý phổ quát, tiến bộ mà loài người đã đạt được, những lẽ phải không ai chối cãi được: “Tất cả mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc” (Hồ Chí Minh, 2011, quyển 1, tr. 699). Điều này thể hiện quyền con người không chỉ thuộc về cá nhân riêng lẻ mà còn phải được bảo vệ trong khuôn khổ cộng đồng dân tộc và quốc tế.
Thứ hai: “Tuyên ngôn độc lập” đã gắn quyền con người với quyền dân tộc tự quyết. Đây là đóng góp sáng tạo quan trọng của Hồ Chí Minh. Người viết: “Một dân tộc đã gan góc chống ách nô lệ của Pháp hơn 80 năm nay, một dân tộc đã gan góc đứng về phe đồng minh chống phát xít mấy năm nay, dân tộc đó phải được tự do. Dân tộc đó phải được độc lập” (Hồ Chí Minh, 2011, quyển 1, tr.702). Điểm mới ở đây là Hồ Chí Minh coi quyền con người không chỉ là quyền của từng cá nhân, mà còn là quyền của cả một dân tộc bị áp bức, nếu một dân tộc mất độc lập thì không cá nhân nào trong dân tộc ấy được tự do, hạnh phúc đúng nghĩa. Đây là sự phát triển sáng tạo, làm phong phú thêm nội hàm quyền con người, phù hợp với bối cảnh các nước thuộc địa.
Thứ ba: “Tuyên ngôn độc lập” đã xác định quyền con người gắn với cuộc đấu tranh chính nghĩa chống áp bức, bóc lột của chủ nghĩa thực dân đối với nhân dân Việt Nam. Người tố cáo tội ác thực dân Pháp: “Chúng lập ra nhà tù nhiều hơn trường học…Chúng dùng thuốc phiện, rượu cồn để làm suy nhược nòi giống ta… Chúng bắt dân ta đóng hàng trăm thứ thuế vô lý…” (Hồ Chí Minh, 2011, quyển 1, tr.705). Việc nêu rõ tội ác của thực dân chính là chứng cứ hùng hồn chứng minh nhân dân Việt Nam bị tước đoạt quyền con người suốt 80 năm. Từ đó khẳng định: cuộc cách mạng của nhân dân Việt Nam không chỉ là giành quyền dân tộc tự quyết, mà còn là giành lại quyền con người - một lẽ phải hiển nhiên và tất yếu.
2.2. Giá trị tư tưởng và ý nghĩa của quyền con người trong “Tuyên ngôn độc lập”
Thứ nhất là giá trị nhân văn sâu sắc. “Tuyên ngôn độc lập” của Hồ Chí Minh đã đề cao phẩm giá, quyền tự do, hạnh phúc của con người. Khẳng định mục tiêu tối cao của cách mạng Việt Nam là vì con người, cho con người. Con người được đặt vào vị trí trung tâm của cách mạng giải phóng dân tộc.
Thứ hai là giá trị pháp lý và chính trị. “Tuyên ngôn độc lập” là bản tuyên bố đanh thép và mạnh mẽ về quyền con người của nhân dân Việt Nam trước toàn thế giới. Khẳng định cách mạng Việt Nam là hợp đạo lý, hợp pháp, phù hợp với các chuẩn mực tiến bộ chung của cộng đồng quốc tế tiến bộ.
Thứ ba là giá trị thời đại. “Tuyên ngôn độc lập” đã mở ra nhận thức mới về quyền con người trong điều kiện các dân tộc thuộc địa. Đặc biệt là truyền cảm hứng cho các phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc, giành quyền con người ở các nước khác. Đây cũng là cơ sở để Hiến pháp đầu tiên của Việt Nam được ban hành vào năm 1946, khẳng định xóa bỏ các chính sách phân biệt, bóc lột, đảm bảo những quyền cơ bản về đời sống, giáo dục, lao động, quyền bình đẳng trước pháp luật, quyền tự do ngôn luận, tự do tín ngưỡng, tự do hội họp, quyền bầu cử phổ thông của công dân Việt Nam.
Như vậy, tư tưởng quyền con người trong “Tuyên ngôn độc lập” của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vượt xa khuôn khổ một bản tuyên ngôn thông thường. Đó là sự kết hợp hài hòa giữa lý tưởng nhân văn cao đẹp của nhân loại với thực tiễn đấu tranh của dân tộc Việt Nam, khẳng định quyền con người chỉ có ý nghĩa trọn vẹn khi đi liền với quyền dân tộc.
3. Chiến lược phát triển con người của Đảng trong kỷ nguyên mới
3.1. Kế thừa tư tưởng Hồ Chí Minh về con người
Từ Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VI (1986), Đảng ta đã nhấn mạnh vai trò của con người là trung tâm của công cuộc đổi mới. “Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội” (Bổ sung, phát triển năm 2011) đã khẳng định: “Con người là trung tâm của phát triển, đồng thời là chủ thể của phát triển. Tôn trọng, bảo vệ quyền con người, gắn quyền con người với quyền và lợi ích của dân tộc, đất nước và quyền làm chủ của nhân dân” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2011, tr. 76-77).
Trong kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình phát triển của dân tộc, bối cảnh của cách mạng công nghiệp lần thứ tư, toàn cầu hóa sâu rộng, kinh tế tri thức và xã hội số mang lại những cơ hội phát triển vượt bậc cho Việt Nam nhưng đồng thời đặt ra nhiều thách thức gay gắt như: cạnh tranh nguồn nhân lực chất lượng cao, chênh lệch giàu nghèo, bất bình đẳng xã hội, ô nhiễm môi trường, an ninh phi truyền thống…Vì vậy, xây dựng và phát triển con người càng trở nên hết sức quan trọng trong chiến lược phát triển của quốc gia. Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng (2021) xác định phát triển con người toàn diện và xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển bền vững đất nước, “tạo môi trường và điều kiện xã hội thuận lợi nhất để khơi dậy truyền thống yêu nước, niềm tự hào dân tộc, niềm tin, khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc; tài năng, trí tuệ, phẩm chất của con người Việt Nam là trung tâm, mục tiêu và động lực phát triển quan trọng nhất của đất nước” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2021, tr.116). Chiến lược phát triển con người Việt Nam trong kỷ nguyên mới không chỉ là sự tiếp nối tư tưởng Hồ Chí Minh, mà còn đáp ứng yêu cầu của thời đại trong kỷ nguyên mới.
3.2. Nội dung chủ yếu của chiến lược phát triển con người trong kỷ nguyên mới
Thứ nhất: Đảng xác định mục tiêu phát triển con người là trung tâm: “Chăm lo xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện, trọng tâm là bồi dưỡng tinh thần yêu nước, lòng tự hào dân tộc; đạo đức lối sống và nhân cách. Tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức, ý thức tôn trọng pháp luật, mọi người dân Việt Nam đều hiểu biết sâu sắc, tự hào, tôn vinh lịch sử - văn hóa dân tộc. Hướng các hoạt động văn hóa, giáo dục, khoa học vào việc xây dựng thế giới quan khoa học, hướng tới chân - thiện - mỹ. Gắn xây dựng, rèn luyện đạo đức với thực hiện quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân. Nâng cao trí lực, bồi dưỡng tri thức cho con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế, của kinh tế tri thức và xã hội học tập” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2014, tr.50). Nhìn tổng thể, các phương diện cơ bản để phát triển con người Việt Nam trong kỷ nguyên mới bao gồm:
- Về trí tuệ: Nâng cao dân trí, bồi dưỡng năng lực học tập suốt đời.
- Về đạo đức: Xây dựng nhân cách, lối sống lành mạnh, trách nhiệm với xã hội.
- Về thể chất: Đảm bảo sức khỏe, tuổi thọ và chất lượng sống.
- Về tinh thần: Phát huy sáng tạo, ý chí tự cường, khát vọng đóng góp.
- Về thẩm mỹ: Bồi dưỡng tâm hồn đẹp, giàu bản sắc văn hóa.
Những thành tựu về phát triển con người đã góp phần nâng cao năng lực, mở rộng cơ hội để con người Việt nam tiếp cận bình đẳng các nguồn lực trong phát triển bền vững. Tỷ lệ người dân tham gia bảo hiểm y tế đến 2025 đạt trên 95% dân số và đang tiến tới bảo hiểm y tế toàn dân. Chỉ số phát triển con người (HDI) của Việt Nam liên tục tăng: năm 2019 đạt 0,704, xếp thứ 117/189 quốc gia. Năm 2023 đạt 0,766, xếp vào nhóm các quốc gia có mức phát triển chỉ số con người cao, đứng thứ 93/123 quốc gia và vùng lãnh thổ được nghiên cứu (Trung Hưng, 2025).
Thứ hai: Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao. Trong bối cảnh kinh tế tri thức và công nghệ số, chất lượng nguồn nhân lực là yếu tố quyết định năng lực cạnh tranh quốc gia, Đảng ta đã nhấn mạnh:
- Coi giáo dục - đào tạo, khoa học - công nghệ là đột phá chiến lược.
- Ưu tiên phát triển nhân lực trong các lĩnh vực mũi nhọn: trí tuệ nhân tạo, công nghệ thông tin, năng lượng tái tạo…
Việt Nam đặt mục tiêu đến 2030 có khoảng 1,5 triệu lao động công nghệ thông tin. Theo Tổng cục Thống kê, năm 2024, tỷ lệ lao động qua đào tạo ước đạt 69%, có bằng cấp chứng chỉ ước đạt 28,1%. Phấn đấu đến năm 2030 đạt 35- 40% có bằng, chứng chỉ (Quỳnh Chi, 2025).
Thứ ba: Bảo đảm quyền con người, quyền công dân. Đảng và Nhà nước tập trung đảm bảo quyền con người, quyền công dân thông qua việc: Xây dựng hệ thống pháp luật, chính sách ngày càng hoàn thiện, bảo vệ quyền con người.Thực hiện công bằng, tiến bộ xã hội, xóa bỏ rào cản phân biệt đối xử. Bảo đảm quyền tự do sáng tạo, tự do học tập, quyền tham gia quản lý xã hội của mọi công dân.
Nhà nước đã thể chế hóa “Luật Bình đẳng giới” (2006) và “Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2021 - 2030”. Tỷ lệ nữ đại biểu Quốc hội khóa XV đạt 30,26%, cao hơn mức trung bình thế giới (26,5%) (Báo Phụ nữ Việt Nam, 2021).
Thứ tư: Chiến lược phát triển con người của Việt Nam đặc biệt quan tâm đến phát triển bền vững và phát triển bao trùm, thực hiện phương châm không để ai bị bỏ lại phía sau. Chú trọng các nhóm yếu thế: người nghèo, người khuyết tật, đồng bào dân tộc thiểu số, trẻ em… Thực hiện các chương trình giảm nghèo bền vững, an sinh xã hội toàn diện. Cung cấp dịch vụ y tế, giáo dục, việc làm bình đẳng cho mọi đối tượng.
Tỷ lệ hộ nghèo cả nước năm 2025 giảm còn 1,93%, từ mức 9,88% năm 2015. Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển vùng dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021 - 2030 được triển khai mạnh mẽ (Hồng Kiều, 2025).
Thứ năm: Khơi dậy khát vọng, ý chí tự cường dân tộc. Trong chiến lược phát triển con người, Việt Nam đã nhấn mạnh đến xây dựng khát vọng phát triển đất nước hùng cường, nhân dân hạnh phúc; khơi dậy tinh thần đổi mới sáng tạo, trách nhiệm công dân, cống hiến cho cộng đồng.
Phong trào khởi nghiệp đổi mới sáng tạo (start-up) phát triển nhanh: Việt Nam hiện có hơn 3.000 start-up công nghệ, đứng thứ 3 Đông Nam Á. Năm 2023, Việt Nam xếp thứ 48/132 nền kinh tế trong Chỉ số Đổi mới sáng tạo toàn cầu (GII), tăng 2 bậc so với năm 2022 (Trần Trung Hiếu, 2023).
3.3. Ý nghĩa của chiến lược phát triển con người trong kỷ nguyên mới
Đối với con người: Mỗi cá nhân được phát triển toàn diện, được tôn trọng, bảo vệ quyền và cơ hội cống hiến. Nâng cao chất lượng sống, hạnh phúc và tự do sáng tạo.
Đối với xã hội: Tạo ra nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa-hiện đại hóa. Xây dựng xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, đoàn kết.
Đối với đất nước: Làm nền tảng vững chắc để thực hiện mục tiêu: đến 2045 Việt Nam trở thành nước phát triển, thu nhập cao.
Như vậy, chiến lược phát triển con người của Đảng trong kỷ nguyên mới là sự cụ thể hóa, phát triển sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về con người và quyền con người. Đó là chiến lược toàn diện, lâu dài, nhân văn, nhằm phát huy mạnh mẽ tiềm năng con người Việt Nam, đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững, hiện thực hóa khát vọng về một Việt Nam hùng cường, thịnh vượng và hạnh phúc. Từ quyền con người ở nghĩa tự do, bình đẳng, hạnh phúc trong bối cảnh mất nước, bị đô hộ, Đảng ta đã phát triển thành chiến lược xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa - không chỉ “được sống” mà còn “sống tốt”, phát triển hết tiềm năng, nhân cách trong một xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Có thể nói: từ “Tuyên ngôn độc lập” đến các nghị quyết, chiến lược phát triển của Đảng là một tiến trình nhất quán, sáng tạo trong tư tưởng nhân văn của cách mạng Việt Nam.
4. Mối quan hệ giữa tư tưởng quyền con người trong “Tuyên ngôn độc lập” và chiến lược phát triển con người của Đảng trong kỷ nguyên mới
4.1. Tư tưởng quyền con người trong “Tuyên ngôn độc lập”: nền tảng lý luận, tinh thần nhân văn
Ngày 2/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Tất cả mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc” (Hồ Chí Minh, 2011, Toàn tập, tập 4, tr.1). Người nhấn mạnh quyền con người gắn liền với độc lập dân tộc. Tư tưởng đó vừa khẳng định quyền con người là mục tiêu cao nhất của cách mạng Việt Nam, vừa gắn quyền cá nhân với quyền tập thể dân tộc.
Ba nội dung cốt lõi mà Hồ Chí Minh nhấn mạnh là: Quyền con người là tự nhiên, thiêng liêng, bất khả xâm phạm. Quyền con người phải được bảo đảm trong khuôn khổ của một dân tộc độc lập. Độc lập, tự do, hạnh phúc của mỗi người là lý tưởng tối cao của cách mạng.
4.2. Chiến lược phát triển con người trong kỷ nguyên mới: kế thừa và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh
Trong bối cảnh mới - toàn cầu hóa, hội nhập, cách mạng công nghiệp 4.0 - Đảng ta xác định con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của phát triển.
Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng (2021) nhấn mạnh: “Động lực và nguồn lực phát triển quan trọng của đất nước là khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, ý chí tự cường dân tộc, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc và khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2021, tr. 34).
Nội dung chiến lược phát triển con người hôm nay không chỉ là bảo đảm quyền con người tối thiểu (quyền sống, tự do, mưu cầu hạnh phúc) mà còn mở rộng: quyền học tập, quyền phát triển, quyền tham gia, quyền sáng tạo…, phù hợp với chuẩn mực nhân quyền hiện đại.
4.3. Mối quan hệ: kế thừa - cụ thể hóa - phát triển
Thứ nhất: Kế thừa tư tưởng quyền con người của Hồ Chí Minh. Chiến lược phát triển con người của Đảng hôm nay xuất phát từ nền tảng tư tưởng Hồ Chí Minh trong “Tuyên ngôn độc lập”: quyền sống, quyền tự do, quyền hạnh phúc của mỗi người phải được tôn trọng và bảo đảm. “Tuyên ngôn độc lập” nói: “Tất cả mọi người đều có quyền bình đẳng…”. Hiến pháp 2013, Điều 14 khẳng định: “Ở nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam, quyền con người… được tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật”.
Thứ hai: Cụ thể hóa trong điều kiện lịch sử mới. Nếu năm 1945 nhiệm vụ cấp bách là giành độc lập dân tộc để trả lại quyền con người bị tước đoạt, thì hôm nay nhiệm vụ là phát triển toàn diện con người - không chỉ “được sống” mà còn “sống tốt”, phát huy hết tiềm năng cá nhân trong một xã hội dân chủ, công bằng, văn minh. Khi đó quyền con người chủ yếu là quyền tự do thoát khỏi áp bức, bóc lột. Nay còn là quyền học tập, tiếp cận công nghệ, hưởng an sinh xã hội, bình đẳng giới, tự do sáng tạo…
Thứ ba: Phát triển lên một tầm cao mới. Từ tư tưởng quyền con người của Hồ Chí Minh, Đảng đã nâng lên thành chiến lược phát triển con người, coi đây là động lực then chốt, là mục tiêu của mọi chính sách phát triển.Ví dụ: Khẩu hiệu “Không để ai bị bỏ lại phía sau” trong các chương trình giảm nghèo, an sinh xã hội. Đầu tư phát triển giáo dục, khoa học công nghệ để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.
4.4. Ý nghĩa của mối quan hệ giữa tư tưởng quyền con người trong “Tuyên ngôn độc lập” và chiến lược phát triển con người của Đảng trong kỷ nguyên mới
Mối quan hệ giữa tư tưởng quyền con người trong “Tuyên ngôn độc lập” và chiến lược phát triển con người của Đảng trong kỷ nguyên mới là một quá trình lịch sử liên tục, kế thừa và phát triển sáng tạo.
Về lý luận: Khẳng định tính kế thừa, phát triển sáng tạo của Đảng trong vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh. Chứng minh tính toàn diện và tiến bộ của tư tưởng quyền con người gắn với điều kiện cụ thể của Việt Nam.
Về thực tiễn: Làm rõ mục tiêu của chiến lược phát triển: không chỉ phát triển kinh tế mà phải phát triển con người toàn diện. Góp phần tạo ra đồng thuận xã hội, khơi dậy sức mạnh nội lực dân tộc.
Về thời đại: Khẳng định cam kết của Việt Nam với các chuẩn mực nhân quyền quốc tế. Thích ứng với xu thế phát triển bền vững và nhân văn của thế giới.
Tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng, còn chiến lược hôm nay là cụ thể hóa và mở rộng những giá trị nhân văn đó trong bối cảnh mới, nhằm hiện thực hóa khát vọng Việt Nam hùng cường, phồn vinh, hạnh phúc.
5. Một số kiến nghị nhằm phát huy chiến lược phát triển con người ở Việt Nam hiện nay
Để tiếp tục quán triệt sâu sắc và phát huy tư tưởng quyền con người của Hồ Chí Minh, đồng thời triển khai có hiệu quả chiến lược phát triển con người của Đảng trong bối cảnh mới, xin kiến nghị một số vấn đề sau:
Thứ nhất, tiếp tục tuyên truyền, giáo dục sâu rộng trong toàn xã hội, nhất là thế hệ trẻ, về giá trị nhân văn sâu sắc của “Tuyên ngôn độc lập”, về quyền con người gắn liền với quyền dân tộc và trách nhiệm công dân. Bổ sung, hoàn thiện nội dung giảng dạy về tư tưởng Hồ Chí Minh và chiến lược phát triển con người trong hệ thống giáo dục chính trị, đào tạo cán bộ các cấp, nhất là cấp cán bộ chiến lược được đào tạo ở Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh.
Thứ hai, hoàn thiện hệ thống pháp luật và chính sách nhằm bảo đảm tốt hơn quyền con người, quyền công dân theo tinh thần Hiến pháp 2013 và các công ước quốc tế mà Việt Nam đã tham gia. Xây dựng các chỉ số đo lường phát triển con người toàn diện, phù hợp với điều kiện cụ thể của Việt Nam, làm cơ sở đánh giá kết quả thực hiện chiến lược phát triển con người.
Thứ ba, tăng cường đầu tư cho giáo dục - đào tạo, nhất là giáo dục chất lượng cao, giáo dục nghề nghiệp gắn với nhu cầu thị trường lao động. Thúc đẩy nghiên cứu khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số để nâng cao năng suất lao động và năng lực cạnh tranh của nguồn nhân lực. Đẩy mạnh các chương trình khuyến khích học tập suốt đời, đào tạo lại và nâng cao kỹ năng cho người lao động, thích ứng với yêu cầu của kỷ nguyên số.
Thứ tư, tiếp tục thực hiện hiệu quả các chương trình giảm nghèo đa chiều, giảm chênh lệch phát triển giữa các vùng miền, giữa các nhóm xã hội, không để ai bị bỏ lại phía sau. Chăm lo tốt hơn các nhóm yếu thế (trẻ em, phụ nữ, người khuyết tật, đồng bào dân tộc thiểu số) để họ được bảo đảm đầy đủ quyền con người và quyền phát triển.
Thứ năm, xây dựng môi trường văn hóa xã hội lành mạnh, đề cao đạo đức, lối sống nhân văn, khơi dậy tinh thần yêu nước, ý chí tự cường và khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc. Khuyến khích tự do sáng tạo, phát huy tối đa tiềm năng, năng lực của mỗi cá nhân trong khuôn khổ pháp luật và lợi ích cộng đồng.
Thứ sáu, chủ động tham gia và thực hiện có trách nhiệm các công ước quốc tế về quyền con người, học tập kinh nghiệm quốc tế về phát triển con người toàn diện. Tăng cường hợp tác quốc tế trong đào tạo nhân lực chất lượng cao, chuyển giao công nghệ và nghiên cứu khoa học.
Những kiến nghị trên đây xuất phát từ yêu cầu thực tiễn của công cuộc đổi mới, phát triển đất nước và hội nhập quốc tế, đồng thời bám sát tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người gắn liền với quyền dân tộc và khát vọng hạnh phúc.
Thực hiện tốt những giải pháp đó sẽ góp phần quan trọng hiện thực hóa chiến lược phát triển con người Việt Nam toàn diện, bền vững trong kỷ nguyên mới.
6. Kết luận
Trong bối cảnh toàn cầu hóa, hội nhập sâu rộng và cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư, việc đặt con người ở vị trí trung tâm của chiến lược phát triển không chỉ là sự lựa chọn đúng đắn về chính trị, kinh tvế mà còn là yêu cầu tất yếu về đạo lý, nhân văn, phù hợp với xu thế tiến bộ của nhân loại. Mối quan hệ giữa tư tưởng quyền con người trong “Tuyên ngôn độc lập” và chiến lược phát triển con người của Đảng thể hiện tính kế thừa, phát triển và sáng tạo, đồng thời khẳng định bản chất nhân văn, tiến bộ và bền vững của cách mạng Việt Nam.
Trong thời gian tới, với quyết tâm chính trị cao hướng tới Đại hội XIV của Đảng, sự đồng thuận xã hội, cùng với những giải pháp đồng bộ, toàn diện và khả thi, tin tưởng rằng chiến lược phát triển con người Việt Nam trong kỷ nguyên mới sẽ được triển khai có hiệu quả, qua đó tiếp tục khẳng định giá trị bền vững của tư tưởng Hồ Chí Minh và khát vọng Việt Nam hùng cường, thịnh vượng trong thế kỷ XXI./.
PGS.TS, Phạm Duy Đức
Nguyên Viện trưởng Viện Văn hóa và Phát triển, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
----------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------
Tài liệu tham khảo
• Báo Phụ nữ Việt Nam. (2021, 10 tháng 6). Tỷ lệ nữ đại biểu Quốc hội khóa XV là 30,26%. Báo Phụ nữ Việt Nam điện tử. https://phunuvietnam.vn/ty-le-nu-dai-bieu-quoc-hoi-khoa-xv-la-3026-20210610161715607.htm
• Quỳnh Chi. (2025, 13 tháng 1). Gần 38 triệu lao động chưa qua đào tạo. Báo Lao động điện tử. https://laodong.vn/cong-doan/gan-38-trieu-lao-dong-chua-qua-dao-tao-1449133.ldo
• Đảng Cộng sản Việt Nam. (2011). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI. Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
• Đảng Cộng sản Việt Nam. (2014). Văn kiện Hội nghị lần thứ chín Ban Chấp hành Trung ương khóa XI. Văn phòng Trung ương Đảng.
• Đảng Cộng sản Việt Nam. (2021). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII (Tập I). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
• Trần Trung Hiếu. (2023, 10 tháng 10). Trụ cột của tam giác vàng khởi nghiệp Đông Nam Á. Báo Nhân Dân điện tử. https://nhandan.vn/tru-cot-cua-tam-giac-vang-khoi-nghiep-dong-nam-a-post777011
• Trung Hưng. (2025, 21 tháng 8). Việt Nam thuộc nhóm các quốc gia có mức phát triển con người cao. Báo Nhân Dân điện tử. https://nhandan.vn/infographic-viet-nam-thuoc-nhom-cac-quoc-gia-co-muc-phat-trien-con-nguoi-cao-post879411.html?utm
• Hồng Kiều. (2025, 26 tháng 8). Kỳ tích giảm nghèo của Việt Nam: Hành trình trở thành hình mẫu toàn cầu: Báo Vietnamplus điện tử. https://www.vietnamplus.vn/ky-tich-giam-ngheo-cua-viet-nam-hanh-trinh-tro-thanh-hinh-mau-toan-cau-post1056463.vnp
• Hồ Chí Minh. (2011). Tuyển tập (Quyển 1). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
• Hồ Chí Minh. (2011). Hồ Chí Minh toàn tập (Tập 4). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
Tài liệu tham khảo
• Báo Phụ nữ Việt Nam. (2021, 10 tháng 6). Tỷ lệ nữ đại biểu Quốc hội khóa XV là 30,26%. Báo Phụ nữ Việt Nam điện tử. https://phunuvietnam.vn/ty-le-nu-dai-bieu-quoc-hoi-khoa-xv-la-3026-20210610161715607.htm
• Quỳnh Chi. (2025, 13 tháng 1). Gần 38 triệu lao động chưa qua đào tạo. Báo Lao động điện tử. https://laodong.vn/cong-doan/gan-38-trieu-lao-dong-chua-qua-dao-tao-1449133.ldo
• Đảng Cộng sản Việt Nam. (2011). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI. Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
• Đảng Cộng sản Việt Nam. (2014). Văn kiện Hội nghị lần thứ chín Ban Chấp hành Trung ương khóa XI. Văn phòng Trung ương Đảng.
• Đảng Cộng sản Việt Nam. (2021). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII (Tập I). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
• Trần Trung Hiếu. (2023, 10 tháng 10). Trụ cột của tam giác vàng khởi nghiệp Đông Nam Á. Báo Nhân Dân điện tử. https://nhandan.vn/tru-cot-cua-tam-giac-vang-khoi-nghiep-dong-nam-a-post777011
• Trung Hưng. (2025, 21 tháng 8). Việt Nam thuộc nhóm các quốc gia có mức phát triển con người cao. Báo Nhân Dân điện tử. https://nhandan.vn/infographic-viet-nam-thuoc-nhom-cac-quoc-gia-co-muc-phat-trien-con-nguoi-cao-post879411.html?utm
• Hồng Kiều. (2025, 26 tháng 8). Kỳ tích giảm nghèo của Việt Nam: Hành trình trở thành hình mẫu toàn cầu: Báo Vietnamplus điện tử. https://www.vietnamplus.vn/ky-tich-giam-ngheo-cua-viet-nam-hanh-trinh-tro-thanh-hinh-mau-toan-cau-post1056463.vnp
• Hồ Chí Minh. (2011). Tuyển tập (Quyển 1). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
• Hồ Chí Minh. (2011). Hồ Chí Minh toàn tập (Tập 4). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.