1. Đặt vấn đề
Trong bối cảnh toàn cầu hóa, chuyển đổi số và sự phát triển nhanh chóng của nền kinh tế tri thức thì “học tập suốt đời” không còn là một lựa chọn mang tính cá nhân mà đã trở thành yêu cầu tất yếu đối với mỗi quốc gia, mỗi con người. Với Việt Nam, học tập suốt đời là con đường để khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc để đưa đất nước bước vào kỷ nguyên phát triển mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc. Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ XI đã khẳng định: “... xây dựng xã hội học tập, tạo điều kiện để người dân được học suốt đời” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2011, tr.218). Việc học tập suốt đời, vì vậy không chỉ là một phương thức phát triển năng lực cá nhân mà còn là một giá trị văn hóa cần được nuôi dưỡng, lan toả và định hình trong hệ giá trị con người Việt Nam. Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam Tô Lâm nhấn mạnh: “Học tập suốt đời để dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám hy sinh vì lợi ích chung, để trở thành người có ích cho xã hội” (Báo điện tử Chính phủ, 2025). Đây là lời hiệu triệu quan trọng, thể hiện tầm nhìn chiến lược của người đứng đầu Đảng ta trong việc đặt văn hoá học tập suốt đời vào trung tâm của chính sách phát triển con người và quốc gia.
Việt Nam với truyền thống hiếu học sẵn có là nền tảng vững chắc để phát triển văn hóa học tập suốt đời. Tuy nhiên, để học tập suốt đời trở thành một giá trị văn hóa sâu sắc cần đặt nó trong mối quan hệ hữu cơ với hệ giá trị con người Việt Nam, nơi các phẩm chất như sáng tạo, trung thực, trách nhiệm, nhân ái, khát vọng vươn lên… được hình thành và phát triển thông qua quá trình học tập liên tục và chủ động của mỗi người dân.
2. Khái niệm học tập suốt đời và văn hóa học tập suốt đời
Trên thế giới, khái niệm “học tập suốt đời” (lifelong learning) được hình thành và phát triển mạnh mẽ vào nửa sau thế kỷ XX, gắn liền với sự biến chuyển sâu sắc về kinh tế, xã hội và công nghệ toàn cầu. Người có công đầu tiên khái quát khái niệm này là Paul Lengrand, nhà giáo dục người Pháp, trong tác phẩm An Introduction to Lifelong Education (Giới thiệu về học tập suốt đời) xuất bản năm 1970 (Paul Lengrand). Trong đó, ông cho rằng giáo dục không thể chỉ giới hạn ở giai đoạn tuổi trẻ hay trong trường học, mà phải được tiếp tục và mở rộng suốt cuộc đời để đáp ứng nhu cầu phát triển toàn diện của con người. Tư tưởng này nhanh chóng được các tổ chức quốc tế, đặc biệt là UNESCO tiếp nhận và phát triển. Hai văn kiện tiêu biểu do UNESCO công bố đã đặt nền móng lý luận cho học tập suốt đời: Báo cáo của Faure: Learning to Be (Học để làm người: Thế giới giáo dục hôm nay và ngày mai) đề cao vai trò học tập suốt đời như một nền tảng để con người “biết làm người”, “học để tồn tại” và khẳng định “Giáo dục phải được tổ chức như một quá trình học tập suốt đời, từ lúc sinh ra đến khi kết thúc cuộc đời” (Faure, 1972, tr. 181). Báo cáo Learning: The Treasure Within (Học tập: kho báu tiềm ẩn bên trong) đã mở rộng khái niệm giáo dục thành bốn trụ cột: học để biết, học để làm, học để cùng chung sống và học để làm người (Delors, 1996). Cả hai báo cáo đều coi học tập suốt đời là “chìa khóa của thế kỷ XXI”, không chỉ vì lợi ích cá nhân mà còn vì sự ổn định và phát triển của cả xã hội.
Có thể nói, học tập suốt đời là một quá trình học tập diễn ra trong suốt cuộc đời của con người, không giới hạn bởi độ tuổi, không gian hay hình thức nhằm liên tục cập nhật kiến thức, kỹ năng, thái độ để thích ứng với những biến đổi của xã hội. Để định vị khái niệm văn hóa học tập suốt đời, trước hết cần xuất phát từ các quan niệm nền tảng về văn hóa. Theo Edward B. Tylor (1871), văn hóa là “một tổng thể phức hợp bao gồm tri thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, phong tục và bất kỳ khả năng, thói quen nào khác mà con người có được với tư cách là một thành viên của xã hội” (Edward B. Tylor, 1871). Định nghĩa này nhấn mạnh tính toàn diện và cấu trúc xã hội của văn hóa. UNESCO (2001) tiếp cận văn hóa như “một tập hợp các đặc điểm về tinh thần, vật chất, trí tuệ và cảm xúc… bao gồm lối sống, hệ giá trị, truyền thống và tín ngưỡng” (UNESCO, 2001) qua đó khẳng định vai trò của văn hóa như một hệ giá trị chi phối hành vi con người. Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp cận văn hóa không chỉ từ góc độ tri thức mà còn từ phương diện đạo đức, lối sống và con người, Người định nghĩa: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa. Văn hóa là tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn”, (Hồ Chí Minh, 2011, tr.458).
Từ các định nghĩa trên, có thể xác định văn hóa học tập suốt đời là một hệ giá trị, thái độ, hành vi và chuẩn mực xã hội đề cao việc học tập liên tục, tự giác và linh hoạt của mỗi cá nhân trong suốt cuộc đời. Đó không chỉ là việc tích lũy kiến thức, mà còn là tinh thần cầu thị, ham học hỏi, không ngừng hoàn thiện bản thân; xây dựng thói quen học tập tự thân, học ở mọi nơi, mọi lúc, qua mọi phương tiện (chính quy, không chính quy, phi chính quy); tôn vinh tri thức, tôn trọng người học và người dạy; tạo lập môi trường khuyến khích học tập và chia sẻ tri thức trong cộng đồng. Văn hóa học tập suốt đời không chỉ gắn với cá nhân mà còn là một thuộc tính của cộng đồng và xã hội học tập.
3. Vai trò của việc xây dựng văn hóa học tập suốt đời trong phát triển toàn diện con người Việt Nam
Có thể nhận diện vai trò của văn hóa học tập suốt đời trong phát triển toàn diện con người Việt Nam ở một số điểm nổi bật sau đây:
Một là, văn hóa học tập suốt đời là thành tố cốt lõi trong xây dựng hệ giá trị con người Việt Nam thời đại mới. Bởi lẽ văn hóa học tập suốt đời phản ánh một thái độ sống chủ động, ham học hỏi, sẵn sàng đổi mới và hoàn thiện bản thân, những điều này phù hợp với yêu cầu của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế. Học tập không chỉ là phương tiện để nâng cao trình độ chuyên môn mà còn là biểu hiện của nhân cách hiện đại, biết tự học, tự đổi mới, tự thích nghi. Điều này được thể hiện rõ khi khẳng định trong Hệ giá trị con người Việt Nam thời kỳ mới, một trong những phẩm chất cần thiết là “ham học, có tinh thần tự học, học suốt đời” (Hội đồng lý luận trung ương, Ban Tuyên giáo Trung ương, Bộ Văn hoá, thể thao và Du lịch, Viện Hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam, 2022).
Hai là, văn hóa học tập suốt đời góp phần nâng cao năng lực thích ứng, sáng tạo và phát triển bền vững. Trong bối cảnh chuyển đổi số, kinh tế tri thức và xã hội học tập, người lao động cần không ngừng cập nhật kiến thức, kỹ năng để thích ứng với thay đổi. Học tập suốt đời không chỉ giúp cá nhân thích nghi với thay đổi nghề nghiệp mà còn thúc đẩy đổi mới sáng tạo và nâng cao năng suất xã hội. Theo UNESCO (2016), học tập suốt đời là “nền tảng cho sự phát triển cá nhân, hội nhập xã hội, khả năng tuyển dụng và việc làm bền vững” (UNESCO, 2016).
Điều này cho thấy vai trò to lớn của học tập suốt đời không chỉ với cá nhân mà còn đối với sự ổn định và tiến bộ của xã hội. Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) cho rằng, quốc gia nào phát triển được văn hóa học tập suốt đời, quốc gia đó sẽ có lợi thế cạnh tranh về mặt nhân lực và đổi mới sáng tạo (OECD, 2021).
Ba là, văn hóa học tập suốt đời là động lực phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao cho đất nước. Con người vừa là trung tâm vừa là động lực của sự phát triển. Trong điều kiện nền kinh tế dựa vào tri thức, việc xây dựng một xã hội học tập, nơi mọi người đều có cơ hội và thói quen học tập suốt đời là điều kiện tiên quyết để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Nghị quyết số 29-NQ/TW năm 2013 về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo (Ban Chấp hành trung ương, 2013) đã chỉ rõ: “Phát triển giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước và của toàn dân... tạo chuyển biến căn bản về chất lượng, hiệu quả giáo dục, phát triển mạnh mẽ phong trào học tập suốt đời trong nhân dân”.
Bốn là, văn hóa học tập suốt đời góp phần xây dựng xã hội học tập và thúc đẩy bình đẳng, công bằng xã hội. Học tập suốt đời là công cụ hiệu quả để thu hẹp khoảng cách phát triển, nâng cao năng lực tiếp cận tri thức cho các nhóm yếu thế, từ đó đảm bảo công bằng xã hội. Văn hóa học tập suốt đời cũng khuyến khích tinh thần trách nhiệm, dấn thân và cống hiến vì cộng đồng. Theo UNESCO (2022), xã hội học tập bền vững là nơi mọi cá nhân đều được học tập ở mọi giai đoạn cuộc đời, góp phần xây dựng một xã hội công bằng, gắn kết và bền vững (UNESCO Institute for Lifelong Learning, 2022).
4. Thành tựu đạt được và những vấn đề đặt ra trong định hướng xây dựng văn hóa học tập suốt đời của con người Việt Nam
4.1. Thành tựu đạt được
Trong những năm gần đây, Việt Nam đã đạt nhiều kết quả tích cực trong việc xây dựng xã hội học tập. Các mô hình “gia đình học tập”, “dòng họ học tập”, “cộng đồng học tập” do Hội Khuyến học Việt Nam triển khai đã góp phần lan tỏa văn hóa học tập trong cộng đồng. Kết quả khảo sát của Hội Khuyến học tại nhiều địa phương cho thấy gần như toàn bộ người dân thừa nhận các mô hình này mang lại lợi ích thiết thực: thúc đẩy phát triển kinh tế, nâng cao đời sống văn hóa, củng cố an ninh - trật tự xã hội và hỗ trợ học sinh, sinh viên trong quá trình học tập, rèn luyện. Tính đến tháng 9/2020, tỷ lệ gia đình học tập đạt 72,77% trên tổng số gia đình; dòng họ học tập đạt 66,51%; cộng đồng học tập đạt 65,38%; đơn vị học tập đạt 85,73% (Nguyễn Hoài, 2020).
Đánh giá mới nhất trong Thông báo kết luận của đồng chí Tổng Bí thư Tô Lâm tại buổi làm việc với Ban Thường vụ Trung ương Hội Khuyến học Việt Nam (16/9/2025) nhấn mạnh: hoạt động khuyến học đã góp phần phát huy truyền thống hiếu học và tư tưởng Hồ Chí Minh về học tập suốt đời; xây dựng, nhân rộng nhiều mô hình, giải thưởng, danh hiệu khuyến tài; đồng thời tham mưu, đề xuất chính sách nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài (Thông báo số 351-TB/VPTW ngày 22/9/2025).
Thành tựu phát triển học tập suốt đời ở Việt Nam có được trước hết nhờ sự quan tâm, chỉ đạo của Đảng và Nhà nước. Ngay từ năm 2007, Bộ Chính trị khóa X ban hành Chỉ thị số 11-CT/TW về tăng cường lãnh đạo đối với công tác khuyến học, khuyến tài, yêu cầu các cấp ủy đẩy mạnh xây dựng trung tâm học tập cộng đồng. Đại hội XI của Đảng (2011) xác định “xây dựng xã hội học tập, tạo điều kiện cho mọi người được học tập suốt đời” là định hướng lớn trong chiến lược phát triển con người. Tiếp đó, Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04/11/2013 của Ban Chấp hành Trung ương khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo đã nhấn mạnh yêu cầu “chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học; xây dựng xã hội học tập, tạo cơ hội học tập suốt đời cho mọi người dân”.
Ở tầm Chính phủ, nhiều đề án, chiến lược cụ thể đã được ban hành. Quyết định số 1373/QĐ-TTg ngày 30/7/2021 phê duyệt Đề án xây dựng xã hội học tập giai đoạn 2021-2030 với mục tiêu thúc đẩy học tập suốt đời, hướng tới xã hội học tập công bằng, bao trùm và bền vững. Tiếp đó, Quyết định số 1705/QĐ-TTg ngày 31/12/2024 phê duyệt Chiến lược phát triển giáo dục đến năm 2030, tầm nhìn 2045, khẳng định cần đẩy mạnh xây dựng xã hội học tập, bảo đảm mọi người dân có điều kiện học tập thường xuyên, học tập suốt đời. Cùng với đó, nhiều chính sách hỗ trợ cụ thể được triển khai, như đề xuất cấp học bổng khuyến khích cho sinh viên hệ vừa học vừa làm, đào tạo từ xa ngang bằng với sinh viên chính quy (Báo Tiền phong, 2021).
Mới đây, Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo tiếp tục khẳng định yêu cầu “phát huy truyền thống hiếu học của dân tộc, xây dựng xã hội học tập, khơi dậy mạnh mẽ phong trào học tập không ngừng, học tập suốt đời”. Dự thảo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng cũng nhấn mạnh việc “phát triển các mô hình, phương thức, phong trào học tập theo hướng mở rộng, phù hợp với từng đối tượng, vùng miền, địa phương” (Thông báo số 351-TB/VPTW ngày 22/9/2025).
Có thể thấy, việc xây dựng văn hóa học tập và thúc đẩy học tập suốt đời tại Việt Nam không chỉ được định hướng bởi hệ thống chính sách, nghị quyết, chỉ thị từ Trung ương mà còn được nuôi dưỡng từ truyền thống hiếu học, tinh thần tương thân tương ái của cộng đồng. Chính sự kết hợp giữa yếu tố chính trị - xã hội với nền tảng văn hóa truyền thống đã tạo động lực mạnh mẽ cho sự hình thành và phát triển xã hội học tập ở Việt Nam.
4.2. Những vấn đề đặt ra trong việc xây dựng văn hóa học tập suốt đời
Bên cạnh những mặt đã đạt được thì việc xây dựng văn hóa học tập suốt đời vẫn tồn tại những vấn đề sau:
Thứ nhất, nhận thức xã hội về học tập suốt đời còn hạn chế. Dù khái niệm “học tập suốt đời” đã được đưa vào các chính sách lớn và sớm, tuy nhiên theo đánh giá của Bộ Giáo dục và Đào tạo: “Nhận thức về công tác khuyến học, khuyến tài xây dựng xã hội học tập chưa đúng mức. Các hoạt động học tập suốt đời ở ngoài nhà trường chưa đa dạng, phong phú, điều kiện hoạt động còn nhiều khó khăn. Sự tham gia của các cơ sở giáo dục đại học trong công tác khuyến học, khuyến tài, xây dựng xã hội học tập còn hạn chế...” (Bộ Giáo dục và đào tạo, 2023).
Thứ hai, hệ thống giáo dục ngoài nhà trường còn yếu và thiếu tính bền vững. Học tập suốt đời không thể chỉ diễn ra trong nhà trường mà cần có mạng lưới học tập cộng đồng. Tuy nhiên, tại Việt Nam các trung tâm học tập cộng đồng (TTHTCĐ) vẫn còn hình thức, thiếu chuyên môn và ngân sách hoạt động. Theo kết quả khảo sát của UNESCO (2020) chỉ khoảng 30% các TTHTCĐ có đủ tài liệu và cơ sở vật chất phục vụ học tập, phần lớn hoạt động theo phong trào, không thường xuyên (UNESCO, 2020). Thiếu kỹ năng học tập và tự học cũng là nguyên nhân quan trọng. Theo thống kê “có tới 1,35 triệu thanh niên Việt Nam, tương đương 10,4% thanh niên Việt Nam đang rơi vào tình trạng “ba không” - không học, không làm, không tham gia đào tạo (Not in Education, Employment or Training - NEET) (Báo Tiền Phong, 2025).
Thứ ba, chênh lệch cơ hội học tập giữa các vùng, nhóm đối tượng còn có khoảng cách rộng. Văn hóa học tập suốt đời yêu cầu sự bình đẳng trong tiếp cận tri thức. Tuy nhiên, hiện nay khoảng cách giữa đô thị và nông thôn, giữa người giàu và người nghèo, giữa người trẻ và người cao tuổi trong tiếp cận học tập vẫn còn lớn. Nghiên cứu của Trần Bá Tiến cho thấy ở một số tỉnh miền núi phía Bắc, tỷ lệ người trưởng thành tham gia học tập ngoài nhà trường dưới 10%, trong khi tại TP.HCM là trên 55% (Trần Bá Tiến, 2022, tr.12-18).
Thứ tư, thiếu cơ chế, chính sách khuyến khích học tập thường xuyên.Việc thiếu các cơ chế ghi nhận, đánh giá và động viên người dân học tập ngoài trường học làm giảm động lực duy trì học tập suốt đời. Hiện chưa có khung công nhận kết quả học tập phi chính quy, dẫn đến nhiều người học kỹ năng nghề hoặc tham gia các lớp cộng đồng không được công nhận bằng cấp, chứng chỉ. Việc thiếu khung pháp lý và cơ chế tài chính bền vững cũng là một rào cản. Theo báo cáo đánh giá của ADB (2020), ngân sách đầu tư cho giáo dục không chính quy tại Việt Nam chỉ chiếm khoảng 0,3% ngân sách toàn ngành, còn thấp để mở rộng mở rộng mạnh mẽ hơn nữa mạng lưới học tập cộng đồng hiệu quả.
5. Kiến nghị và giải pháp
Để phát triển văn hóa học tập suốt đời như một giá trị của con người Việt Nam, cần có các giải pháp tổng thể, đồng bộ từ thể chế đến xã hội, từ chính sách vĩ mô đến hành động cụ thể ở cấp cơ sở.
Trước hết hoàn thiện giải pháp về thể chế, chính sách. Để triển khai văn hóa học tập suốt đời, trước hết cần nghiên cứu ban hành Luật về học tập suốt đời. Chiến lược phát triển giáo dục đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 cũng đặt ra nhiệm vụ cần “nghiên cứu đề xuất xây dựng Luật Học tập suốt đời” (Thủ tướng Chính phủ, 2024) như là một giải pháp để bổ sung, hoàn thiện cơ chế, chính sách pháp luật về giáo dục và đào tạo, thúc đẩy học tập suốt đời và xây dựng xã hội học tập tại Việt Nam, nhằm xác định học tập suốt đời không chỉ là nhu cầu mà còn là trách nhiệm của mỗi công dân. Hiện nay Việt Nam mới có luật liên quan đến giáo dục, cần luật riêng để điều chỉnh chính sách cho giáo dục không chính quy và phi chính quy(*). Có chính sách tài chính hỗ trợ học tập cho người trưởng thành như: Xây dựng quỹ học tập cộng đồng, cơ chế miễn giảm học phí, ưu đãi thuế cho doanh nghiệp đầu tư giáo dục thường xuyên; Công nhận kết quả học tập không chính quy; Thiết lập hệ thống kiểm định và công nhận học tập từ kinh nghiệm, tự học và học ngoài trường lớp để thúc đẩy động lực học tập.
Hai là, nâng cao nhận thức xã hội về văn hóa học tập suốt đời, xây dựng môi trường văn hóa học tập từ gia đình đến xã hội. Để nâng cao nhận thức xã hội cần sử dụng hiệu quả các kênh truyền hình, báo chí, mạng xã hội để tuyên truyền về lợi ích của học tập suốt đời, đặc biệt là gắn với yêu cầu phát triển cá nhân và thích ứng với thời đại số như: phát động chiến dịch “Mỗi người dân là một người học suốt đời” trên toàn quốc; “Tuần lễ học tập suốt đời hằng năm”; Đưa nội dung học tập suốt đời vào chương trình giáo dục phổ thông và đại học để giúp thế hệ trẻ hình thành nhận thức sớm về giá trị học tập liên tục và tự chủ trong tri thức; Phát động các phong trào thi đua “gia đình học tập”, “dòng họ học tập”, “cộng đồng học tập” trên phạm vi rộng, gắn với xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh.
Ba là, nâng cao vai trò của các thiết chế văn hóa và truyền thông. Các trung tâm học tập cộng đồng, thư viện, nhà văn hóa cần được nâng cấp cơ sở vật chất và trang bị công nghệ số để trở thành trung tâm học tập suốt đời đa chức năng, dễ tiếp cận, phục vụ học tập liên tục, linh hoạt. Tăng cường sự tham gia của hệ thống truyền thông đại chúng và truyền thông số trong việc lan tỏa giá trị học tập suốt đời, thông qua các chương trình truyền hình, podcast giáo dục, diễn đàn cộng đồng học tập, nhằm hình thành thói quen học tập và ý thức tự hoàn thiện của người dân. Ngoài ra cần tăng cường vai trò của các tổ chức xã hội như Hội Khuyến học, Hội Cựu giáo chức, Đoàn Thanh niên trong tuyên truyền và hỗ trợ người dân tham gia học tập thường xuyên. Đồng thời thực hiện lồng ghép giáo dục ý thức học tập suốt đời trong các chương trình văn hóa cộng đồng, hội nghị dân cư, hoạt động đoàn thể.
Bốn là, lồng ghép giá trị học tập suốt đời vào hệ thống giáo dục. Học tập suốt đời không chỉ là phương tiện để mưu sinh, mà phải trở thành phương thức sống, một “giá trị tự thân” của con người Việt Nam trong thời đại tri thức. Tư duy “học một lần cho cả đời” cần được thay thế bằng tư duy “học cả đời để thích nghi và phát triển”. Tăng cường giáo dục học sinh, sinh viên về giá trị của việc học suốt đời ngay từ trong chương trình phổ thông.
Năm là, phát triển hệ thống giáo dục ngoài nhà trường. Mở rộng và nâng cao chất lượng các trung tâm học tập cộng đồng (TTHTCĐ). Cần đầu tư cơ sở vật chất, bồi dưỡng cán bộ và kết nối với các tổ chức xã hội, doanh nghiệp. Khuyến khích các tổ chức tư nhân và doanh nghiệp tham gia giáo dục thường xuyên. Phát triển các mô hình học tập tại nơi làm việc (workplace learning), các khóa học kỹ năng mềm, kỹ năng số. Đẩy mạnh học tập trực tuyến mở (MOOCs), Nhà nước cần hỗ trợ phát triển nền tảng học trực tuyến quốc gia và công nhận kết quả học tập từ các nền tảng uy tín trên thế giới như Coursera, edX… hoặc của Việt Nam như FUNiX...
Sáu là, thu hẹp chênh lệch cơ hội học tập. Đầu tư cho vùng sâu, vùng xa, dân tộc thiểu số, bảo đảm người dân ở mọi vùng miền đều có điều kiện tiếp cận tri thức. Cần hỗ trợ thiết bị công nghệ, internet miễn phí cho các cộng đồng khó khăn. Phát triển các chương trình học linh hoạt và đa dạng, tăng cường các khóa học ngắn hạn, học online, học theo nhu cầu của người học nhằm phục vụ mọi lứa tuổi, trình độ. Khuyến học trong gia đình và cộng đồng, huy động vai trò của Hội Khuyến học, tổ dân phố để lan toả giá trị học tập trong đời sống hằng ngày. Đầu tư hệ thống hạ tầng công nghệ số phục vụ học tập, nền tảng học trực tuyến quốc gia, thư viện học liệu mở, kho học liệu số có bản quyền. Tổ chức đào tạo nâng cao năng lực số và kỹ năng tự học qua mạng cho người dân, đặc biệt là nhóm dễ bị tổn thương như phụ nữ nông thôn, người cao tuổi, người lao động tự do.
6. Kết luận
Trong bối cảnh toàn cầu hóa, chuyển đổi số và đổi mới sáng tạo là xu thế tất yếu, việc phát triển văn hóa học tập suốt đời không chỉ là nhu cầu cá nhân mà còn là yêu cầu cấp thiết để xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, phục vụ công cuộc phát triển bền vững đất nước. Văn hóa học tập suốt đời chính là một giá trị cốt lõi cần được xác lập, nuôi dưỡng và phát huy trong hệ giá trị quốc gia về con người Việt Nam - những con người độc lập, tự chủ, có năng lực học tập suốt đời, thích ứng linh hoạt và sáng tạo trước mọi biến đổi.
Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước, cùng với sự hưởng ứng tích cực từ cộng đồng, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu đáng kể trong việc xây dựng xã hội học tập. Tuy nhiên, vẫn còn tồn tại không ít rào cản từ thể chế, cơ sở vật chất, đến nhận thức và năng lực tự học của người dân. Do đó, cần có những giải pháp đồng bộ và chiến lược, đặc biệt là đổi mới tư duy về giáo dục, hoàn thiện hành lang pháp lý, nâng cao vai trò của truyền thông, ứng dụng công nghệ số và tăng cường sự tham gia của toàn xã hội trong phát triển văn hóa học tập. Từ nền tảng văn hóa học tập suốt đời, Việt Nam có thể kiến tạo nên một thế hệ công dân học tập, những con người “vừa hồng, vừa chuyên”, có tri thức, nhân cách và bản lĩnh góp phần hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc, đúng như kỳ vọng mà Đảng, Nhà nước và Tổng Bí thư Tô Lâm đã nhiều lần nhấn mạnh trong định hướng chiến lược quốc gia cho kỷ nguyên mới./.
Trong bối cảnh toàn cầu hóa, chuyển đổi số và sự phát triển nhanh chóng của nền kinh tế tri thức thì “học tập suốt đời” không còn là một lựa chọn mang tính cá nhân mà đã trở thành yêu cầu tất yếu đối với mỗi quốc gia, mỗi con người. Với Việt Nam, học tập suốt đời là con đường để khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc để đưa đất nước bước vào kỷ nguyên phát triển mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc. Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ XI đã khẳng định: “... xây dựng xã hội học tập, tạo điều kiện để người dân được học suốt đời” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2011, tr.218). Việc học tập suốt đời, vì vậy không chỉ là một phương thức phát triển năng lực cá nhân mà còn là một giá trị văn hóa cần được nuôi dưỡng, lan toả và định hình trong hệ giá trị con người Việt Nam. Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam Tô Lâm nhấn mạnh: “Học tập suốt đời để dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám hy sinh vì lợi ích chung, để trở thành người có ích cho xã hội” (Báo điện tử Chính phủ, 2025). Đây là lời hiệu triệu quan trọng, thể hiện tầm nhìn chiến lược của người đứng đầu Đảng ta trong việc đặt văn hoá học tập suốt đời vào trung tâm của chính sách phát triển con người và quốc gia.
Việt Nam với truyền thống hiếu học sẵn có là nền tảng vững chắc để phát triển văn hóa học tập suốt đời. Tuy nhiên, để học tập suốt đời trở thành một giá trị văn hóa sâu sắc cần đặt nó trong mối quan hệ hữu cơ với hệ giá trị con người Việt Nam, nơi các phẩm chất như sáng tạo, trung thực, trách nhiệm, nhân ái, khát vọng vươn lên… được hình thành và phát triển thông qua quá trình học tập liên tục và chủ động của mỗi người dân.
2. Khái niệm học tập suốt đời và văn hóa học tập suốt đời
Trên thế giới, khái niệm “học tập suốt đời” (lifelong learning) được hình thành và phát triển mạnh mẽ vào nửa sau thế kỷ XX, gắn liền với sự biến chuyển sâu sắc về kinh tế, xã hội và công nghệ toàn cầu. Người có công đầu tiên khái quát khái niệm này là Paul Lengrand, nhà giáo dục người Pháp, trong tác phẩm An Introduction to Lifelong Education (Giới thiệu về học tập suốt đời) xuất bản năm 1970 (Paul Lengrand). Trong đó, ông cho rằng giáo dục không thể chỉ giới hạn ở giai đoạn tuổi trẻ hay trong trường học, mà phải được tiếp tục và mở rộng suốt cuộc đời để đáp ứng nhu cầu phát triển toàn diện của con người. Tư tưởng này nhanh chóng được các tổ chức quốc tế, đặc biệt là UNESCO tiếp nhận và phát triển. Hai văn kiện tiêu biểu do UNESCO công bố đã đặt nền móng lý luận cho học tập suốt đời: Báo cáo của Faure: Learning to Be (Học để làm người: Thế giới giáo dục hôm nay và ngày mai) đề cao vai trò học tập suốt đời như một nền tảng để con người “biết làm người”, “học để tồn tại” và khẳng định “Giáo dục phải được tổ chức như một quá trình học tập suốt đời, từ lúc sinh ra đến khi kết thúc cuộc đời” (Faure, 1972, tr. 181). Báo cáo Learning: The Treasure Within (Học tập: kho báu tiềm ẩn bên trong) đã mở rộng khái niệm giáo dục thành bốn trụ cột: học để biết, học để làm, học để cùng chung sống và học để làm người (Delors, 1996). Cả hai báo cáo đều coi học tập suốt đời là “chìa khóa của thế kỷ XXI”, không chỉ vì lợi ích cá nhân mà còn vì sự ổn định và phát triển của cả xã hội.
Có thể nói, học tập suốt đời là một quá trình học tập diễn ra trong suốt cuộc đời của con người, không giới hạn bởi độ tuổi, không gian hay hình thức nhằm liên tục cập nhật kiến thức, kỹ năng, thái độ để thích ứng với những biến đổi của xã hội. Để định vị khái niệm văn hóa học tập suốt đời, trước hết cần xuất phát từ các quan niệm nền tảng về văn hóa. Theo Edward B. Tylor (1871), văn hóa là “một tổng thể phức hợp bao gồm tri thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, phong tục và bất kỳ khả năng, thói quen nào khác mà con người có được với tư cách là một thành viên của xã hội” (Edward B. Tylor, 1871). Định nghĩa này nhấn mạnh tính toàn diện và cấu trúc xã hội của văn hóa. UNESCO (2001) tiếp cận văn hóa như “một tập hợp các đặc điểm về tinh thần, vật chất, trí tuệ và cảm xúc… bao gồm lối sống, hệ giá trị, truyền thống và tín ngưỡng” (UNESCO, 2001) qua đó khẳng định vai trò của văn hóa như một hệ giá trị chi phối hành vi con người. Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp cận văn hóa không chỉ từ góc độ tri thức mà còn từ phương diện đạo đức, lối sống và con người, Người định nghĩa: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa. Văn hóa là tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn”, (Hồ Chí Minh, 2011, tr.458).
Từ các định nghĩa trên, có thể xác định văn hóa học tập suốt đời là một hệ giá trị, thái độ, hành vi và chuẩn mực xã hội đề cao việc học tập liên tục, tự giác và linh hoạt của mỗi cá nhân trong suốt cuộc đời. Đó không chỉ là việc tích lũy kiến thức, mà còn là tinh thần cầu thị, ham học hỏi, không ngừng hoàn thiện bản thân; xây dựng thói quen học tập tự thân, học ở mọi nơi, mọi lúc, qua mọi phương tiện (chính quy, không chính quy, phi chính quy); tôn vinh tri thức, tôn trọng người học và người dạy; tạo lập môi trường khuyến khích học tập và chia sẻ tri thức trong cộng đồng. Văn hóa học tập suốt đời không chỉ gắn với cá nhân mà còn là một thuộc tính của cộng đồng và xã hội học tập.
3. Vai trò của việc xây dựng văn hóa học tập suốt đời trong phát triển toàn diện con người Việt Nam
Có thể nhận diện vai trò của văn hóa học tập suốt đời trong phát triển toàn diện con người Việt Nam ở một số điểm nổi bật sau đây:
Một là, văn hóa học tập suốt đời là thành tố cốt lõi trong xây dựng hệ giá trị con người Việt Nam thời đại mới. Bởi lẽ văn hóa học tập suốt đời phản ánh một thái độ sống chủ động, ham học hỏi, sẵn sàng đổi mới và hoàn thiện bản thân, những điều này phù hợp với yêu cầu của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế. Học tập không chỉ là phương tiện để nâng cao trình độ chuyên môn mà còn là biểu hiện của nhân cách hiện đại, biết tự học, tự đổi mới, tự thích nghi. Điều này được thể hiện rõ khi khẳng định trong Hệ giá trị con người Việt Nam thời kỳ mới, một trong những phẩm chất cần thiết là “ham học, có tinh thần tự học, học suốt đời” (Hội đồng lý luận trung ương, Ban Tuyên giáo Trung ương, Bộ Văn hoá, thể thao và Du lịch, Viện Hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam, 2022).
Hai là, văn hóa học tập suốt đời góp phần nâng cao năng lực thích ứng, sáng tạo và phát triển bền vững. Trong bối cảnh chuyển đổi số, kinh tế tri thức và xã hội học tập, người lao động cần không ngừng cập nhật kiến thức, kỹ năng để thích ứng với thay đổi. Học tập suốt đời không chỉ giúp cá nhân thích nghi với thay đổi nghề nghiệp mà còn thúc đẩy đổi mới sáng tạo và nâng cao năng suất xã hội. Theo UNESCO (2016), học tập suốt đời là “nền tảng cho sự phát triển cá nhân, hội nhập xã hội, khả năng tuyển dụng và việc làm bền vững” (UNESCO, 2016).
Điều này cho thấy vai trò to lớn của học tập suốt đời không chỉ với cá nhân mà còn đối với sự ổn định và tiến bộ của xã hội. Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) cho rằng, quốc gia nào phát triển được văn hóa học tập suốt đời, quốc gia đó sẽ có lợi thế cạnh tranh về mặt nhân lực và đổi mới sáng tạo (OECD, 2021).
Ba là, văn hóa học tập suốt đời là động lực phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao cho đất nước. Con người vừa là trung tâm vừa là động lực của sự phát triển. Trong điều kiện nền kinh tế dựa vào tri thức, việc xây dựng một xã hội học tập, nơi mọi người đều có cơ hội và thói quen học tập suốt đời là điều kiện tiên quyết để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Nghị quyết số 29-NQ/TW năm 2013 về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo (Ban Chấp hành trung ương, 2013) đã chỉ rõ: “Phát triển giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước và của toàn dân... tạo chuyển biến căn bản về chất lượng, hiệu quả giáo dục, phát triển mạnh mẽ phong trào học tập suốt đời trong nhân dân”.
Bốn là, văn hóa học tập suốt đời góp phần xây dựng xã hội học tập và thúc đẩy bình đẳng, công bằng xã hội. Học tập suốt đời là công cụ hiệu quả để thu hẹp khoảng cách phát triển, nâng cao năng lực tiếp cận tri thức cho các nhóm yếu thế, từ đó đảm bảo công bằng xã hội. Văn hóa học tập suốt đời cũng khuyến khích tinh thần trách nhiệm, dấn thân và cống hiến vì cộng đồng. Theo UNESCO (2022), xã hội học tập bền vững là nơi mọi cá nhân đều được học tập ở mọi giai đoạn cuộc đời, góp phần xây dựng một xã hội công bằng, gắn kết và bền vững (UNESCO Institute for Lifelong Learning, 2022).
4. Thành tựu đạt được và những vấn đề đặt ra trong định hướng xây dựng văn hóa học tập suốt đời của con người Việt Nam
4.1. Thành tựu đạt được
Trong những năm gần đây, Việt Nam đã đạt nhiều kết quả tích cực trong việc xây dựng xã hội học tập. Các mô hình “gia đình học tập”, “dòng họ học tập”, “cộng đồng học tập” do Hội Khuyến học Việt Nam triển khai đã góp phần lan tỏa văn hóa học tập trong cộng đồng. Kết quả khảo sát của Hội Khuyến học tại nhiều địa phương cho thấy gần như toàn bộ người dân thừa nhận các mô hình này mang lại lợi ích thiết thực: thúc đẩy phát triển kinh tế, nâng cao đời sống văn hóa, củng cố an ninh - trật tự xã hội và hỗ trợ học sinh, sinh viên trong quá trình học tập, rèn luyện. Tính đến tháng 9/2020, tỷ lệ gia đình học tập đạt 72,77% trên tổng số gia đình; dòng họ học tập đạt 66,51%; cộng đồng học tập đạt 65,38%; đơn vị học tập đạt 85,73% (Nguyễn Hoài, 2020).
Đánh giá mới nhất trong Thông báo kết luận của đồng chí Tổng Bí thư Tô Lâm tại buổi làm việc với Ban Thường vụ Trung ương Hội Khuyến học Việt Nam (16/9/2025) nhấn mạnh: hoạt động khuyến học đã góp phần phát huy truyền thống hiếu học và tư tưởng Hồ Chí Minh về học tập suốt đời; xây dựng, nhân rộng nhiều mô hình, giải thưởng, danh hiệu khuyến tài; đồng thời tham mưu, đề xuất chính sách nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài (Thông báo số 351-TB/VPTW ngày 22/9/2025).
Thành tựu phát triển học tập suốt đời ở Việt Nam có được trước hết nhờ sự quan tâm, chỉ đạo của Đảng và Nhà nước. Ngay từ năm 2007, Bộ Chính trị khóa X ban hành Chỉ thị số 11-CT/TW về tăng cường lãnh đạo đối với công tác khuyến học, khuyến tài, yêu cầu các cấp ủy đẩy mạnh xây dựng trung tâm học tập cộng đồng. Đại hội XI của Đảng (2011) xác định “xây dựng xã hội học tập, tạo điều kiện cho mọi người được học tập suốt đời” là định hướng lớn trong chiến lược phát triển con người. Tiếp đó, Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04/11/2013 của Ban Chấp hành Trung ương khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo đã nhấn mạnh yêu cầu “chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học; xây dựng xã hội học tập, tạo cơ hội học tập suốt đời cho mọi người dân”.
Ở tầm Chính phủ, nhiều đề án, chiến lược cụ thể đã được ban hành. Quyết định số 1373/QĐ-TTg ngày 30/7/2021 phê duyệt Đề án xây dựng xã hội học tập giai đoạn 2021-2030 với mục tiêu thúc đẩy học tập suốt đời, hướng tới xã hội học tập công bằng, bao trùm và bền vững. Tiếp đó, Quyết định số 1705/QĐ-TTg ngày 31/12/2024 phê duyệt Chiến lược phát triển giáo dục đến năm 2030, tầm nhìn 2045, khẳng định cần đẩy mạnh xây dựng xã hội học tập, bảo đảm mọi người dân có điều kiện học tập thường xuyên, học tập suốt đời. Cùng với đó, nhiều chính sách hỗ trợ cụ thể được triển khai, như đề xuất cấp học bổng khuyến khích cho sinh viên hệ vừa học vừa làm, đào tạo từ xa ngang bằng với sinh viên chính quy (Báo Tiền phong, 2021).
Mới đây, Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo tiếp tục khẳng định yêu cầu “phát huy truyền thống hiếu học của dân tộc, xây dựng xã hội học tập, khơi dậy mạnh mẽ phong trào học tập không ngừng, học tập suốt đời”. Dự thảo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng cũng nhấn mạnh việc “phát triển các mô hình, phương thức, phong trào học tập theo hướng mở rộng, phù hợp với từng đối tượng, vùng miền, địa phương” (Thông báo số 351-TB/VPTW ngày 22/9/2025).
Có thể thấy, việc xây dựng văn hóa học tập và thúc đẩy học tập suốt đời tại Việt Nam không chỉ được định hướng bởi hệ thống chính sách, nghị quyết, chỉ thị từ Trung ương mà còn được nuôi dưỡng từ truyền thống hiếu học, tinh thần tương thân tương ái của cộng đồng. Chính sự kết hợp giữa yếu tố chính trị - xã hội với nền tảng văn hóa truyền thống đã tạo động lực mạnh mẽ cho sự hình thành và phát triển xã hội học tập ở Việt Nam.
4.2. Những vấn đề đặt ra trong việc xây dựng văn hóa học tập suốt đời
Bên cạnh những mặt đã đạt được thì việc xây dựng văn hóa học tập suốt đời vẫn tồn tại những vấn đề sau:
Thứ nhất, nhận thức xã hội về học tập suốt đời còn hạn chế. Dù khái niệm “học tập suốt đời” đã được đưa vào các chính sách lớn và sớm, tuy nhiên theo đánh giá của Bộ Giáo dục và Đào tạo: “Nhận thức về công tác khuyến học, khuyến tài xây dựng xã hội học tập chưa đúng mức. Các hoạt động học tập suốt đời ở ngoài nhà trường chưa đa dạng, phong phú, điều kiện hoạt động còn nhiều khó khăn. Sự tham gia của các cơ sở giáo dục đại học trong công tác khuyến học, khuyến tài, xây dựng xã hội học tập còn hạn chế...” (Bộ Giáo dục và đào tạo, 2023).
Thứ hai, hệ thống giáo dục ngoài nhà trường còn yếu và thiếu tính bền vững. Học tập suốt đời không thể chỉ diễn ra trong nhà trường mà cần có mạng lưới học tập cộng đồng. Tuy nhiên, tại Việt Nam các trung tâm học tập cộng đồng (TTHTCĐ) vẫn còn hình thức, thiếu chuyên môn và ngân sách hoạt động. Theo kết quả khảo sát của UNESCO (2020) chỉ khoảng 30% các TTHTCĐ có đủ tài liệu và cơ sở vật chất phục vụ học tập, phần lớn hoạt động theo phong trào, không thường xuyên (UNESCO, 2020). Thiếu kỹ năng học tập và tự học cũng là nguyên nhân quan trọng. Theo thống kê “có tới 1,35 triệu thanh niên Việt Nam, tương đương 10,4% thanh niên Việt Nam đang rơi vào tình trạng “ba không” - không học, không làm, không tham gia đào tạo (Not in Education, Employment or Training - NEET) (Báo Tiền Phong, 2025).
Thứ ba, chênh lệch cơ hội học tập giữa các vùng, nhóm đối tượng còn có khoảng cách rộng. Văn hóa học tập suốt đời yêu cầu sự bình đẳng trong tiếp cận tri thức. Tuy nhiên, hiện nay khoảng cách giữa đô thị và nông thôn, giữa người giàu và người nghèo, giữa người trẻ và người cao tuổi trong tiếp cận học tập vẫn còn lớn. Nghiên cứu của Trần Bá Tiến cho thấy ở một số tỉnh miền núi phía Bắc, tỷ lệ người trưởng thành tham gia học tập ngoài nhà trường dưới 10%, trong khi tại TP.HCM là trên 55% (Trần Bá Tiến, 2022, tr.12-18).
Thứ tư, thiếu cơ chế, chính sách khuyến khích học tập thường xuyên.Việc thiếu các cơ chế ghi nhận, đánh giá và động viên người dân học tập ngoài trường học làm giảm động lực duy trì học tập suốt đời. Hiện chưa có khung công nhận kết quả học tập phi chính quy, dẫn đến nhiều người học kỹ năng nghề hoặc tham gia các lớp cộng đồng không được công nhận bằng cấp, chứng chỉ. Việc thiếu khung pháp lý và cơ chế tài chính bền vững cũng là một rào cản. Theo báo cáo đánh giá của ADB (2020), ngân sách đầu tư cho giáo dục không chính quy tại Việt Nam chỉ chiếm khoảng 0,3% ngân sách toàn ngành, còn thấp để mở rộng mở rộng mạnh mẽ hơn nữa mạng lưới học tập cộng đồng hiệu quả.
5. Kiến nghị và giải pháp
Để phát triển văn hóa học tập suốt đời như một giá trị của con người Việt Nam, cần có các giải pháp tổng thể, đồng bộ từ thể chế đến xã hội, từ chính sách vĩ mô đến hành động cụ thể ở cấp cơ sở.
Trước hết hoàn thiện giải pháp về thể chế, chính sách. Để triển khai văn hóa học tập suốt đời, trước hết cần nghiên cứu ban hành Luật về học tập suốt đời. Chiến lược phát triển giáo dục đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 cũng đặt ra nhiệm vụ cần “nghiên cứu đề xuất xây dựng Luật Học tập suốt đời” (Thủ tướng Chính phủ, 2024) như là một giải pháp để bổ sung, hoàn thiện cơ chế, chính sách pháp luật về giáo dục và đào tạo, thúc đẩy học tập suốt đời và xây dựng xã hội học tập tại Việt Nam, nhằm xác định học tập suốt đời không chỉ là nhu cầu mà còn là trách nhiệm của mỗi công dân. Hiện nay Việt Nam mới có luật liên quan đến giáo dục, cần luật riêng để điều chỉnh chính sách cho giáo dục không chính quy và phi chính quy(*). Có chính sách tài chính hỗ trợ học tập cho người trưởng thành như: Xây dựng quỹ học tập cộng đồng, cơ chế miễn giảm học phí, ưu đãi thuế cho doanh nghiệp đầu tư giáo dục thường xuyên; Công nhận kết quả học tập không chính quy; Thiết lập hệ thống kiểm định và công nhận học tập từ kinh nghiệm, tự học và học ngoài trường lớp để thúc đẩy động lực học tập.
Hai là, nâng cao nhận thức xã hội về văn hóa học tập suốt đời, xây dựng môi trường văn hóa học tập từ gia đình đến xã hội. Để nâng cao nhận thức xã hội cần sử dụng hiệu quả các kênh truyền hình, báo chí, mạng xã hội để tuyên truyền về lợi ích của học tập suốt đời, đặc biệt là gắn với yêu cầu phát triển cá nhân và thích ứng với thời đại số như: phát động chiến dịch “Mỗi người dân là một người học suốt đời” trên toàn quốc; “Tuần lễ học tập suốt đời hằng năm”; Đưa nội dung học tập suốt đời vào chương trình giáo dục phổ thông và đại học để giúp thế hệ trẻ hình thành nhận thức sớm về giá trị học tập liên tục và tự chủ trong tri thức; Phát động các phong trào thi đua “gia đình học tập”, “dòng họ học tập”, “cộng đồng học tập” trên phạm vi rộng, gắn với xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh.
Ba là, nâng cao vai trò của các thiết chế văn hóa và truyền thông. Các trung tâm học tập cộng đồng, thư viện, nhà văn hóa cần được nâng cấp cơ sở vật chất và trang bị công nghệ số để trở thành trung tâm học tập suốt đời đa chức năng, dễ tiếp cận, phục vụ học tập liên tục, linh hoạt. Tăng cường sự tham gia của hệ thống truyền thông đại chúng và truyền thông số trong việc lan tỏa giá trị học tập suốt đời, thông qua các chương trình truyền hình, podcast giáo dục, diễn đàn cộng đồng học tập, nhằm hình thành thói quen học tập và ý thức tự hoàn thiện của người dân. Ngoài ra cần tăng cường vai trò của các tổ chức xã hội như Hội Khuyến học, Hội Cựu giáo chức, Đoàn Thanh niên trong tuyên truyền và hỗ trợ người dân tham gia học tập thường xuyên. Đồng thời thực hiện lồng ghép giáo dục ý thức học tập suốt đời trong các chương trình văn hóa cộng đồng, hội nghị dân cư, hoạt động đoàn thể.
Bốn là, lồng ghép giá trị học tập suốt đời vào hệ thống giáo dục. Học tập suốt đời không chỉ là phương tiện để mưu sinh, mà phải trở thành phương thức sống, một “giá trị tự thân” của con người Việt Nam trong thời đại tri thức. Tư duy “học một lần cho cả đời” cần được thay thế bằng tư duy “học cả đời để thích nghi và phát triển”. Tăng cường giáo dục học sinh, sinh viên về giá trị của việc học suốt đời ngay từ trong chương trình phổ thông.
Năm là, phát triển hệ thống giáo dục ngoài nhà trường. Mở rộng và nâng cao chất lượng các trung tâm học tập cộng đồng (TTHTCĐ). Cần đầu tư cơ sở vật chất, bồi dưỡng cán bộ và kết nối với các tổ chức xã hội, doanh nghiệp. Khuyến khích các tổ chức tư nhân và doanh nghiệp tham gia giáo dục thường xuyên. Phát triển các mô hình học tập tại nơi làm việc (workplace learning), các khóa học kỹ năng mềm, kỹ năng số. Đẩy mạnh học tập trực tuyến mở (MOOCs), Nhà nước cần hỗ trợ phát triển nền tảng học trực tuyến quốc gia và công nhận kết quả học tập từ các nền tảng uy tín trên thế giới như Coursera, edX… hoặc của Việt Nam như FUNiX...
Sáu là, thu hẹp chênh lệch cơ hội học tập. Đầu tư cho vùng sâu, vùng xa, dân tộc thiểu số, bảo đảm người dân ở mọi vùng miền đều có điều kiện tiếp cận tri thức. Cần hỗ trợ thiết bị công nghệ, internet miễn phí cho các cộng đồng khó khăn. Phát triển các chương trình học linh hoạt và đa dạng, tăng cường các khóa học ngắn hạn, học online, học theo nhu cầu của người học nhằm phục vụ mọi lứa tuổi, trình độ. Khuyến học trong gia đình và cộng đồng, huy động vai trò của Hội Khuyến học, tổ dân phố để lan toả giá trị học tập trong đời sống hằng ngày. Đầu tư hệ thống hạ tầng công nghệ số phục vụ học tập, nền tảng học trực tuyến quốc gia, thư viện học liệu mở, kho học liệu số có bản quyền. Tổ chức đào tạo nâng cao năng lực số và kỹ năng tự học qua mạng cho người dân, đặc biệt là nhóm dễ bị tổn thương như phụ nữ nông thôn, người cao tuổi, người lao động tự do.
6. Kết luận
Trong bối cảnh toàn cầu hóa, chuyển đổi số và đổi mới sáng tạo là xu thế tất yếu, việc phát triển văn hóa học tập suốt đời không chỉ là nhu cầu cá nhân mà còn là yêu cầu cấp thiết để xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, phục vụ công cuộc phát triển bền vững đất nước. Văn hóa học tập suốt đời chính là một giá trị cốt lõi cần được xác lập, nuôi dưỡng và phát huy trong hệ giá trị quốc gia về con người Việt Nam - những con người độc lập, tự chủ, có năng lực học tập suốt đời, thích ứng linh hoạt và sáng tạo trước mọi biến đổi.
Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước, cùng với sự hưởng ứng tích cực từ cộng đồng, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu đáng kể trong việc xây dựng xã hội học tập. Tuy nhiên, vẫn còn tồn tại không ít rào cản từ thể chế, cơ sở vật chất, đến nhận thức và năng lực tự học của người dân. Do đó, cần có những giải pháp đồng bộ và chiến lược, đặc biệt là đổi mới tư duy về giáo dục, hoàn thiện hành lang pháp lý, nâng cao vai trò của truyền thông, ứng dụng công nghệ số và tăng cường sự tham gia của toàn xã hội trong phát triển văn hóa học tập. Từ nền tảng văn hóa học tập suốt đời, Việt Nam có thể kiến tạo nên một thế hệ công dân học tập, những con người “vừa hồng, vừa chuyên”, có tri thức, nhân cách và bản lĩnh góp phần hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc, đúng như kỳ vọng mà Đảng, Nhà nước và Tổng Bí thư Tô Lâm đã nhiều lần nhấn mạnh trong định hướng chiến lược quốc gia cho kỷ nguyên mới./.
Trần Thị Thương Huế
Viện Văn hoá và Phát triển, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
----------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------
Tài liệu tham khảo
• ADB. (2020). Lifelong Learning in Asia and the Pacific: Bridging the Gaps. Asian Development Bank.
• Ban Chấp hành Trung ương. (2013). Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04 tháng 11 năm 2013 “về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng nhu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế. Cổng thông tin điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam. https://tulieuvankien.dangcongsan.vn/van-kien-tu-lieu-ve-dang/hoi-nghi-bch-trung-uong/khoa-xi/nghi-quyet-so-29-nqtw-ngay-4112013-hoi-nghi-lan-thu-8-ban-chap-hanh-trung-uong-dang-khoa-xi-ve-doi-moi-can-ban-toan-584.
• Đảng Cộng sản Việt Nam. (2011). Văn kiện Đại Hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI. Nxb Chính trị Quốc gia.
• Delors et al (2013). Learning: The Treasure Within, Paris: Unesco. UNESDOC digital Library. https://unesdoc.unesco.org/ark:/48223/pf0000220050.
• Faure et al. (2013). Learning to Be: The World of education Today and Tomorow. Report of the International Commission on the Development of Education, UNESCO, Paris. https://unesdoc.unesco.org/ark:/48223/pf0000223222.
• Hồng Hạnh. (2016, 21 tháng 9). Những dấu ấn đặt biệt về công tác khuyến học, khuyến tài 20 năm qua. Báo điện tử Dân trí. https://dantri.com.vn/giao-duc/nhung-dau-an-dac-biet-ve-cong-tac-khuyen-hoc-khuyen-tai-20-nam-qua-20160921151125452.htm.
• Hội đồng Lý luận trung ương, Ban Tuyên giáo Trung ương, Bộ Văn hóa, thể thao và Du lịch, Viện Hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam. (2022). Hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa và hệ giá trị gia đình Việt Nam trong thời kỳ mới. Nxb Chính trị Quốc gia Sự thật.
• Nghiêm Huê. (2024, 20 tháng 10). Đề xuất sinh viên hệ đào tạo phi chính quy cũng được cấp học bổng. Báo Tiền phong điện tử. https://tienphong.vn/de-xuat-sinh-vien-he-dao-tao-phi-chinh-quy-cung-duoc-cap-hoc-bong-post1683969.tpo.
• Tô Lâm. (2025, 2 tháng 3). Bài viết của Tổng bí thư Tô Lâm: Học tập suốt đời. Báo điện tử Chính phủ. https://baochinhphu.vn/bai-viet-cua-tong-bi-thu-to-lam-hoc-tap-suot-doi-102250301172143439.htm.
• Hồ Chí Minh. (2011). Toàn tập, Tập 3. Nxb Chính trị quốc gia.
• Hiếu Nguyễn. (2025, 21 tháng 4). Chuyên gia giáo dục Tống Liên Anh: Học tập suốt đời là chìa khoá giúp người trẻ phát triển trong thế giới biến động. Báo Sinh viên Việt Nam. https://svvn.tienphong.vn/chuyen-gia-giao-duc-tong-lien-anh-hoc-tap-suot-doi-la-chia-khoa-giup-nguoi-tre-phat-trien-trong-the-gioi-bien-dong-post1735172.tpo
• OECD. (2021). The role of innovation and human capital for the productivity of industries, OECD science, technology and industry policy papers. March 2021 no. 103 https://www.oecd.org/content/dam/oecd/en/publications/reports/2021/03/the-role-of-innovation-and-human-capital-for-the-productivity-of-industries_737ec506/197c6ae9-en.pdf
• Paul Lengrand. (1970). An Introduction to Lifelong Education. Croom Helm London, the UNESCO press, Paris.
• Thủ tướng Chính phủ. (2021). Quyết định số 1373/QĐ-TTg ngày 30/7/2021 về phê duyệt Đề án xây dựng xã hội học tập giai đoạn 2021-2030.
• Thủ tướng Chính phủ (2024). Quyết định số 1705/QĐ-TTg ngày 31/12/2024 Chiến lược phát triển giáo dục đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.
• Trần Bá Tiến. (2022). Phát triển văn hóa học tập suốt đời ở Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số. Tạp chí Giáo dục và Xã hội, 111, 12-18.
• Trung tâm truyền thông giáo dục Bộ Giáo dục và đào tạo (2023, 9 tháng 6). Phát động phong trào “Cả nước thi đua xây dựng xã hội học tập, đẩy mạnh học tập suốt đời giai đoạn 2023-2030”. Website Bộ Giáo dục và Đào tạo. https://moet.gov.vn/tintuc/Pages/tin-tong-hop.aspx?ItemID=8584.
• Tylor, E. B. (1871). Primitive Culture. London: John Murray.
• UNESCO. (2001). Universal Declaration on Cultural Diversity. Paris: UNESCO.
• UNESCO. (2016). Education 2030: Incheon Declaration and Framework for Action for the implementation of Sustainable Development Goal 4. Paris: UNESCO Publishing.
• UNESCO. (2020). Review of Community Learning Centres in Vietnam. Hanoi Office.
• UNESCO. Institute for Lifelong Learning (2022). Fostering a culture of lifelong learning. Retrieved from https://uil.unesco.org
• Văn phòng Trung ương Đảng (2025). Thông báo số 351-TB/VPTW ngày 22/9/2025 về Kết luận của đồng chí Tổng bí thư Tô Lâm tại buổi làm việc với Ban Thường vụ Trung ương Hội Khuyến học Việt Nam. https://congdankhuyenhoc.vn/ket-luan-cua-tong-bi-thu-to-lam-tai-buoi-lam-viec-voi-ban-thuong-vu-trung-uong-hoi-khuyen-hoc-viet-nam-179250923115726092.htm.
* “Giáo dục không chính quy” có nghĩa là các hoạt động giáo dục trong đó có các nhóm mục tiêu rõ ràng về người sử dụng dịch vụ và cung cấp các mục tiêu, hình thức, chương trình, phương pháp giáo dục. Quá trình đào tạo linh hoạt và đa dạng theo nhu cầu và năng khiếu của các nhóm mục tiêu, có chuẩn về thủ tục đánh giá; “Giáo dục PCQ” là hoạt động giáo dục diễn ra trong cuộc sống hàng ngày, mỗi cá nhân có thể lựa chọn việc học tập suốt đời của mình theo sở thích, nhu cầu, sự chuẩn bị sẵn sàng và phù hợp với năng khiếu của bản thân (Đạo luật thúc đẩy Giáo dục KCQ và PCQ của Thái Lan).
“Giáo dục phi chính quy” là hoạt động giáo dục diễn ra trong cuộc sống hàng ngày, mỗi cá nhân có thể lựa chọn việc học tập suốt đời của mình theo sở thích, nhu cầu, sự chuẩn bị sẵn sàng và phù hợp với năng khiếu của bản thân. (Đạo luật thúc đẩy Giáo dục KCQ và PCQ của Thái Lan).
• ADB. (2020). Lifelong Learning in Asia and the Pacific: Bridging the Gaps. Asian Development Bank.
• Ban Chấp hành Trung ương. (2013). Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04 tháng 11 năm 2013 “về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng nhu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế. Cổng thông tin điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam. https://tulieuvankien.dangcongsan.vn/van-kien-tu-lieu-ve-dang/hoi-nghi-bch-trung-uong/khoa-xi/nghi-quyet-so-29-nqtw-ngay-4112013-hoi-nghi-lan-thu-8-ban-chap-hanh-trung-uong-dang-khoa-xi-ve-doi-moi-can-ban-toan-584.
• Đảng Cộng sản Việt Nam. (2011). Văn kiện Đại Hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI. Nxb Chính trị Quốc gia.
• Delors et al (2013). Learning: The Treasure Within, Paris: Unesco. UNESDOC digital Library. https://unesdoc.unesco.org/ark:/48223/pf0000220050.
• Faure et al. (2013). Learning to Be: The World of education Today and Tomorow. Report of the International Commission on the Development of Education, UNESCO, Paris. https://unesdoc.unesco.org/ark:/48223/pf0000223222.
• Hồng Hạnh. (2016, 21 tháng 9). Những dấu ấn đặt biệt về công tác khuyến học, khuyến tài 20 năm qua. Báo điện tử Dân trí. https://dantri.com.vn/giao-duc/nhung-dau-an-dac-biet-ve-cong-tac-khuyen-hoc-khuyen-tai-20-nam-qua-20160921151125452.htm.
• Hội đồng Lý luận trung ương, Ban Tuyên giáo Trung ương, Bộ Văn hóa, thể thao và Du lịch, Viện Hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam. (2022). Hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa và hệ giá trị gia đình Việt Nam trong thời kỳ mới. Nxb Chính trị Quốc gia Sự thật.
• Nghiêm Huê. (2024, 20 tháng 10). Đề xuất sinh viên hệ đào tạo phi chính quy cũng được cấp học bổng. Báo Tiền phong điện tử. https://tienphong.vn/de-xuat-sinh-vien-he-dao-tao-phi-chinh-quy-cung-duoc-cap-hoc-bong-post1683969.tpo.
• Tô Lâm. (2025, 2 tháng 3). Bài viết của Tổng bí thư Tô Lâm: Học tập suốt đời. Báo điện tử Chính phủ. https://baochinhphu.vn/bai-viet-cua-tong-bi-thu-to-lam-hoc-tap-suot-doi-102250301172143439.htm.
• Hồ Chí Minh. (2011). Toàn tập, Tập 3. Nxb Chính trị quốc gia.
• Hiếu Nguyễn. (2025, 21 tháng 4). Chuyên gia giáo dục Tống Liên Anh: Học tập suốt đời là chìa khoá giúp người trẻ phát triển trong thế giới biến động. Báo Sinh viên Việt Nam. https://svvn.tienphong.vn/chuyen-gia-giao-duc-tong-lien-anh-hoc-tap-suot-doi-la-chia-khoa-giup-nguoi-tre-phat-trien-trong-the-gioi-bien-dong-post1735172.tpo
• OECD. (2021). The role of innovation and human capital for the productivity of industries, OECD science, technology and industry policy papers. March 2021 no. 103 https://www.oecd.org/content/dam/oecd/en/publications/reports/2021/03/the-role-of-innovation-and-human-capital-for-the-productivity-of-industries_737ec506/197c6ae9-en.pdf
• Paul Lengrand. (1970). An Introduction to Lifelong Education. Croom Helm London, the UNESCO press, Paris.
• Thủ tướng Chính phủ. (2021). Quyết định số 1373/QĐ-TTg ngày 30/7/2021 về phê duyệt Đề án xây dựng xã hội học tập giai đoạn 2021-2030.
• Thủ tướng Chính phủ (2024). Quyết định số 1705/QĐ-TTg ngày 31/12/2024 Chiến lược phát triển giáo dục đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.
• Trần Bá Tiến. (2022). Phát triển văn hóa học tập suốt đời ở Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số. Tạp chí Giáo dục và Xã hội, 111, 12-18.
• Trung tâm truyền thông giáo dục Bộ Giáo dục và đào tạo (2023, 9 tháng 6). Phát động phong trào “Cả nước thi đua xây dựng xã hội học tập, đẩy mạnh học tập suốt đời giai đoạn 2023-2030”. Website Bộ Giáo dục và Đào tạo. https://moet.gov.vn/tintuc/Pages/tin-tong-hop.aspx?ItemID=8584.
• Tylor, E. B. (1871). Primitive Culture. London: John Murray.
• UNESCO. (2001). Universal Declaration on Cultural Diversity. Paris: UNESCO.
• UNESCO. (2016). Education 2030: Incheon Declaration and Framework for Action for the implementation of Sustainable Development Goal 4. Paris: UNESCO Publishing.
• UNESCO. (2020). Review of Community Learning Centres in Vietnam. Hanoi Office.
• UNESCO. Institute for Lifelong Learning (2022). Fostering a culture of lifelong learning. Retrieved from https://uil.unesco.org
• Văn phòng Trung ương Đảng (2025). Thông báo số 351-TB/VPTW ngày 22/9/2025 về Kết luận của đồng chí Tổng bí thư Tô Lâm tại buổi làm việc với Ban Thường vụ Trung ương Hội Khuyến học Việt Nam. https://congdankhuyenhoc.vn/ket-luan-cua-tong-bi-thu-to-lam-tai-buoi-lam-viec-voi-ban-thuong-vu-trung-uong-hoi-khuyen-hoc-viet-nam-179250923115726092.htm.
* “Giáo dục không chính quy” có nghĩa là các hoạt động giáo dục trong đó có các nhóm mục tiêu rõ ràng về người sử dụng dịch vụ và cung cấp các mục tiêu, hình thức, chương trình, phương pháp giáo dục. Quá trình đào tạo linh hoạt và đa dạng theo nhu cầu và năng khiếu của các nhóm mục tiêu, có chuẩn về thủ tục đánh giá; “Giáo dục PCQ” là hoạt động giáo dục diễn ra trong cuộc sống hàng ngày, mỗi cá nhân có thể lựa chọn việc học tập suốt đời của mình theo sở thích, nhu cầu, sự chuẩn bị sẵn sàng và phù hợp với năng khiếu của bản thân (Đạo luật thúc đẩy Giáo dục KCQ và PCQ của Thái Lan).
“Giáo dục phi chính quy” là hoạt động giáo dục diễn ra trong cuộc sống hàng ngày, mỗi cá nhân có thể lựa chọn việc học tập suốt đời của mình theo sở thích, nhu cầu, sự chuẩn bị sẵn sàng và phù hợp với năng khiếu của bản thân. (Đạo luật thúc đẩy Giáo dục KCQ và PCQ của Thái Lan).