1. Đặt vấn đề  
          NCT là một bộ phận dân cư quan trọng của mọi quốc gia, dân tộc. Trên thế giới hiện nay có nhiều cách gọi khác nhau được sử dụng để chỉ NCT. Việc xác định khái niệm NCT còn tùy thuộc vào từng quốc gia, phụ thuộc vào điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của từng nước và phụ thuộc vào cách tiếp cận của các nhà nghiên cứu. Tại Việt Nam, theo Luật Người cao tuổi năm 2009, NCT là công dân Việt Nam từ đủ 60 tuổi trở lên.
          Văn hóa là hồn cốt của dân tộc, là nền tảng tinh thần vững chắc của xã hội, là sức mạnh nội sinh quan trọng bảo đảm sự phát triển bền vững và bảo vệ vững chắc Tổ quốc (Bộ Chính trị, 2020). Văn hóa còn là những giá trị tốt đẹp do cộng đồng sáng tạo, gìn giữ, phát huy và lưu truyền qua nhiều thế hệ. 
Đối với cá nhân, văn hóa là nhu cầu thiết yếu, là yếu tố không thể thiếu cho sự sinh thành và phát triển trong suốt cuộc đời. Quyền văn hóa là các quyền con người liên quan đến lĩnh vực văn hóa, nghệ thuật nhằm bảo đảm các cá nhân và cộng đồng có thể tiếp cận những khía cạnh của đời sống văn hóa và nghệ thuật theo lựa chọn của họ cũng như hưởng thụ các quyền này trong điều kiện bình đẳng, được tôn trọng về nhân phẩm và không phân biệt đối xử. 
          Trên cơ sở đó, quyền văn hóa của NCT được hiểu là các quyền của NCT liên quan đến lĩnh vực văn hóa, nghệ thuật, đảm bảo cho NCT có thể tiếp cận, tham gia, thụ hưởng, bình đẳng trong lĩnh vực này.
          2. Tư tưởng Hồ Chí Minh về người cao tuổi và các luận điểm liên quan đến quyền văn hóa 
          2.1. Tư tưởng Hồ Chí Minh về người cao tuổi
          Tiếp thu truyền thống văn hóa kính lão trọng thọ của dân tộc, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm sâu sắc đến NCT. Tư tưởng Hồ Chí Minh về NCT thể hiện ở hai nội dung cốt lõi: 
          Một là, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn kính trọng, tôn vinh và đặt niềm tin sâu sắc đối với NCT. 
Theo Hồ Chí Minh: “…một lời nói của phụ lão có ảnh hưởng đến hưng bang… Đối với gia đình, đối với Tổ quốc, phụ lão đã có trọng trách là bậc tôn trưởng. Đối với làng xóm, đối với bà con, phụ lão có sự tín nhiệm lớn lao. Phụ lão hô, nhân dân hưởng ứng. Phụ lão làm, nhân dân làm theo” (Hồ Chí Minh, 2011, tập 3, tr.233). Chủ tịch Hồ Chí Minh ngợi ca: “Xưa nay, những người yêu nước không vì tên tuổi già mà chịu ngồi không. Nước ta có những người như Lý Thường Kiệt, càng già càng quắc thước, càng già càng anh hùng” (Hồ Chí Minh, 2011, tập 4, tr.23). Đầu năm 1956, trong bài viết Các cụ già nhiều tuổi nhất của nước ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ghi tên người nhiều tuổi nhất là cụ Hà Văn Quận: 123 tuổi; 6 cụ trên 100 tuổi… đồng thời gửi lời “kính chúc các cụ sống lâu và luôn luôn mạnh khoẻ” (Hồ Chí Minh, 2011, tập 10, tr.250-251). 
          Chủ tịch Hồ Chí Minh có tầm nhìn sâu sắc về phát huy những giá trị văn hoá truyền thống của dân tộc trong việc chăm sóc, thăm hỏi, động viên và khuyến khích NCT giúp đỡ lẫn nhau trong cuộc sống. Ngay sau khi giành được chính quyền từ tay thực dân Pháp, trong quá trình xây dựng nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa non trẻ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định cần thiết lập nhà dưỡng lão, mở nhiều nhà thương, cứu tế những người thất nghiệp. Trong lãnh đạo, chỉ đạo, Chủ tịch Hồ Chí Minh thường xuyên nhắc nhở các tổ chức trong hệ thống chính trị và cán bộ, đảng viên, đoàn viên phải ra sức động viên, giúp đỡ, chăm sóc, bảo vệ sức khoẻ và đảm bảo cuộc sống cho NCT. Bản thân Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn ân cần hỏi thăm sức khỏe, thể hiện tình cảm ấm cúng, chân thành và có sức thuyết phục đối với NCT và nhân dân.
          Hai là, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đề cao vị thế, vai trò của NCT trong công cuộc bảo vệ, xây dựng và phát triển đất nước. 
Với tầm nhìn chiến lược, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhận thấy rõ vị thế, vai trò, tiềm năng, sức mạnh, sự đoàn kết, những giá trị về tinh thần và vật chất của NCT đối với sự nghiệp cách mạng, gia đình và quê hương, đất nước. Theo Hồ Chí Minh, NCT có bề dày kinh nghiệm, sáng tạo trong lao động, là tấm gương sáng về việc thiện. Những thành tích của các cụ phụ lão trong các phong trào diệt giặc đói, diệt giặc dốt, diệt giặc ngoại xâm; phong trào lạc quyên, xây dựng đời sống mới, thi đua lao động sản xuất và gương mẫu, động viên con cháu tham gia chiến đấu, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Bên cạnh đó, NCT còn là vốn văn hóa quý báu, lưu giữ, bảo tồn, trao truyền và phát triển các giá trị văn hóa dân tộc. Vì vậy, thành lập Phụ lão cứu quốc Hội ngay tại các thôn, bản, vùng căn cứ địa cách mạng là nhiệm vụ cần thiết để phát huy vị trí, vai trò của NCT trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Trong Lời hiệu triệu đoàn kết tất cả các bậc phụ lão, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết: “Đất nước hưng thịnh do phụ lão gây dựng. Đất nước tồn tại do phụ lão giúp sức. Đất nước bị mất phụ lão cứu. Đất nước suy sụp phụ lão phù trì. Nước nhà hưng, suy, tồn, vong; phụ lão đều gánh trách nhiệm rất nặng nề” (Hồ Chí Minh, 2011, tập 3, tr.232). 
          2.2. Các luận điểm của Hồ Chí Minh liên quan đến quyền văn hoá
          Theo Hồ Chí Minh, “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa” (Hồ Chí Minh, 2011, tập 3, tr.458). Với cách quan niệm này, theo Hồ Chí Minh toàn bộ những gì con người sáng tạo ra và phương thức sử dụng các sản phẩm ấy nhằm đáp ứng các nhu cầu sống của con người chính là văn hóa. Như vậy, mục đích cao nhất của văn hóa theo quan niệm của Hồ Chí Minh là nhằm đáp ứng nhu cầu sinh tồn và mục đích cuộc sống gồm nhiều mặt, nhiều lĩnh vực trong đời sống con người. Mỗi người dân tại một quốc gia độc lập được đảm bảo các quyền được đáp ứng các nhu cầu chính đáng này của mình trong các lĩnh vực; từ đó hình thành nên các quyền thuộc các lĩnh vực tương ứng như quyền được sống, quyền được tự do, quyền kinh tế, quyền giáo dục, quyền văn hóa...
          Lúc sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh chưa dùng thuật ngữ “quyền văn hóa” nhưng quan niệm về các khía cạnh của quyền văn hóa đã được thể hiện trong các bài nói, bài viết của Hồ Chí Minh như quyền giữ gìn, phát huy bản sắc văn hoá, quyền sáng tạo nghệ thuật, quyền hưởng thụ các sản phẩm văn hoá... Trong Chương trình Việt Minh, tại mục E - Xã hội, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ cần: “Lập các nhà chiếu bóng, diễn kịch, câu lạc bộ, thư viện để nâng cao trình độ trí dục cho nhân dân” (Hồ Chí Minh, 2011, tập 3, tr.632). Hay trong bài viết Vì sao cần phải điều tra dân số, Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng “Về văn hóa - thì cần phải chuẩn bị bao nhiêu sách vở, báo chí, phim ảnh...” (Hồ Chí Minh, 2011, tập 12, tr.497). 
          Theo Hồ Chí Minh, quyền văn hóa của mỗi cá nhân không chỉ dừng lại ở việc xây dựng các cơ sở hạ tầng văn hóa mà trên hết các thiết chế văn hóa ấy được lập ra để nhằm thỏa mãn các nhu cầu văn hóa, đáp ứng, đảm bảo quyền văn hóa của mỗi công dân, hướng tới sự phát triển toàn diện của mỗi con người. Có thể hiểu một cách cơ bản, quyền văn hóa trong quan điểm của Hồ Chí Minh là quyền con người liên quan đến lĩnh vực văn hóa, nghệ thuật. Mục tiêu của các quyền này là nhằm bảo đảm các cá nhân và cộng đồng có thể tiếp cận những khía cạnh của đời sống văn hóa và nghệ thuật theo lựa chọn của họ cũng như hưởng thụ các quyền này trong điều kiện bình đẳng, được tôn trọng về nhân phẩm và không phân biệt đối xử.
          3. Thực tiễn đảm bảo quyền văn hóa của người cao tuổi ở Việt Nam từ năm 1986 đến nay
          Kể từ khi tiến hành công cuộc đổi mới (1986) đến nay, Đảng và Nhà nước ta đã lãnh đạo nhân dân đạt được nhiều thành tựu trong công cuộc xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, tích cực, chủ động hội nhập quốc tế; Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng trong lĩnh vực thúc đẩy, bảo vệ quyền con người. Đến nay, Việt Nam đã phê chuẩn, gia nhập 7/9 công ước cơ bản của Liên hợp quốc về quyền con người; 25 công ước của Tổ chức Lao động quốc tế, trong đó có 7/8 công ước cơ bản (Minh Duyên, 2025). Việc bảo đảm quyền con người tại Việt Nam đã có những bước tiến vượt bậc trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó có quyền văn hóa.
          Kế thừa quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về quyền văn hóa, tại Điều 41, Hiến pháp năm 2013, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã ghi nhận: “Mọi người có quyền hưởng thụ và tiếp cận các giá trị văn hóa, tham gia vào đời sống văn hóa, sử dụng các cơ sở văn hóa” (Quốc hội, 2013). Điều 60 Hiến pháp năm 2013 khẳng định rõ hơn nghĩa vụ, trách nhiệm của Nhà nước, nhấn mạnh người dân thực sự là chủ nhân của quyền này. Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực văn hóa, đặc biệt chú trọng nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về văn hóa, tạo lập một hành lang pháp luật rộng mở, thuận lợi cho các hoạt động về bảo tồn di sản văn hóa và tự do hoạt động văn hóa; bảo vệ quyền tác giả, khuyến khích, cổ vũ sự tự do trong sáng tạo nghệ thuật của các tổ chức, cá nhân như: Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005, Luật Điện ảnh năm 2006, Luật Xuất bản năm 2012, Luật Quảng cáo năm 2013, Luật Di sản văn hóa bổ năm 2024…
          Tính đến ngày 09/02/2023, dân số Việt Nam đạt 104,065 triệu người, trong đó có 16,179 triệu người từ 60 tuổi trở lên, chiếm 15,54% dân số (Bộ Công an, 2023). Dự báo đến năm 2050, con số này sẽ tăng lên hơn 25% (Nguyễn Thanh Bình, 2023). Xu thế già hóa dân số đang diễn ra mạnh mẽ hiện nay tác động không nhỏ tới sự phát triển bền vững của nước ta trên nhiều mặt và đặt ra những vấn đề đối với việc đảm bảo quyền con người nói chung, quyền văn hóa nói riêng cho NCT.
          Kể từ khi nước ta tiến hành công cuộc đổi mới (1986) đến nay, vận dụng, phát triển quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về NCT, Đảng và Nhà nước ta đã thể hiện sự quan tâm sâu sắc đến NCT thông qua việc ban hành nhiều luật, nghị định, pháp lệnh, chỉ thị... đề cao vai trò và đảm bảo các quyền của NCT. Chẳng hạn: Điều 2 và Điều 27 trong Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986 đã chỉ rõ các quyền và nghĩa vụ của các thành viên trong gia đình, trong đó có NCT. Điều 41 Luật Bảo vệ sức khỏe nhân dân năm 1989 nêu rõ NCT được ưu tiên trong khám chữa bệnh, tạo điều kiện thuận lợi cho NCT trong tập thể dục thể thao, nghỉ ngơi và giải trí. Năm 1992, Điều 64 và Điều 67 của Hiến pháp quy định trách nhiệm của con cái trong việc kính trọng và chăm sóc ông bà, cha mẹ; nhà nước và xã hội chăm sóc người già, người tàn tật, trẻ mồ côi. Nghị định 05-CP ngày 26/1/1994 của Chính phủ điều chỉnh mức trợ cấp phúc lợi xã hội cho NCT không nơi nương tựa. Cùng năm, Luật Lao động được ban hành, trong đó Điều 123, 124 và 145 định nghĩa người lao động cao tuổi; xác định điều kiện lao động cho người lao động cao tuổi và chế độ nghỉ hưu. Năm 1995, Luật Dân sự được ban hành, trong đó Điều 37 xác định rõ quyền được hưởng chăm sóc ở các thành viên gia đình, trong đó có NCT. Đến năm 1995, Hội Người cao tuổi Việt Nam chính thức thành lập; là tổ chức xã hội, đại diện cho nguyện vọng, quyền và lợi ích hợp pháp của NCT Việt Nam. Cũng trong năm này, báo Người cao tuổi (nay là tạp chí Người cao tuổi) - cơ quan ngôn luận của Hội Người cao tuổi Việt Nam - phát hành số đầu tiên. Năm 1997, chương trình truyền hình dành cho NCT đầu tiên tại Việt Nam - chương trình Cây cao bóng cả - ra đời. Năm 2000, Nhà nước ban hành Pháp lệnh về người cao tuổi định rõ khuôn khổ pháp luật cho NCT và tổ chức của NCT. Năm 2002, Nghị định 30/2022/NĐ-CP và Thông tư 16/2002/TT-BLĐTBXH được ban hành để quy định và hướng dẫn thực hành Pháp lệnh người cao tuổi và Nghị định 30/2022/NĐ-CP. Đến năm 2009, Luật Người cao tuổi gồm 31 điều được ban hành đã quy định về quyền và nghĩa vụ của NCT; trách nhiệm của gia đình, Nhà nước và xã hội trong việc phụng dưỡng, chăm sóc và phát huy vai trò NCT; Hội người cao tuổi Việt Nam. Ngày 25/4/2015, Chính phủ đã ban hành Quyết định số 544/QĐ-TTg, lấy tháng 10 hằng năm là “Tháng hành động vì người cao tuổi Việt Nam”... 
          Như vậy, từ năm 1986 đến nay, cùng với quá trình đổi mới đất nước, NCT Việt Nam đã nhận được sự quan tâm đặc biệt của Đảng, Nhà nước và toàn thể xã hội; các quyền của NCT cơ bản đã được đảm bảo; đời sống vật chất và tinh thần của NCT ngày càng được nâng cao. Năm 2021, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII đã đề ra phương hướng, nhiệm vụ, giải pháp phát triển kinh tế - xã hội của nước ta thời kỳ tới, trong đó có: “Bảo vệ, chăm sóc và phát huy vai trò của người cao tuổi; khuyến khích người cao tuổi tham gia các hoạt động kinh tế, xã hội; tích cực, chủ động xây dựng môi trường thân thiện với người cao tuổi…” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2021, tr.271). Quán triệt tinh thần Nghị quyết Đại hội XIII, nhiều chương trình, kế hoạch chăm lo đời sống cho NCT đã được ban hành và triển khai trên khắp cả nước. Đến nay, NCT Việt Nam được chăm sóc ngày càng tốt hơn, hằng năm có 1,1 triệu NCT được chúc thọ, mừng thọ; 3 triệu NCT được lập hồ sơ theo dõi sức khỏe, 4 triệu NCT được khám sức khỏe định kỳ; trên 95% NCT có thẻ bảo hiểm y tế; cả nước có trên 77 nghìn câu lạc bộ với nhiều loại hình văn hóa, văn nghệ, thể thao thu hút trên 2,5 triệu NCT tham gia. Trên 3.500 Câu lạc bộ liên thế hệ tự giúp nhau, thu hút trên 170.000 NCT tham gia trong cả nước. Mô hình Câu lạc bộ liên thế hệ tự giúp nhau được các tổ chức, cộng đồng trong và ngoài nước đánh giá cao; đạt giải nhất “Sáng kiến vì một châu Á khỏe mạnh” (Hội Người cao tuổi Việt Nam, 2021, tr.13). Năm 2023, Trung ương Hội người cao tuổi Việt Nam đã tổ chức thành công Liên hoan Tiếng hát người cao tuổi Việt Nam thu hút sự tham gia của 54 đoàn nghệ thuật các tỉnh, thành phố với hơn 1000 NCT từ mọi miền đất nước... 
          Tuy nhiên, công tác đảm bảo quyền văn hóa của NCT ở Việt Nam hiện nay vẫn còn tồn tại một số vấn đề cần quan tâm, giải quyết:
          Thứ nhất, công tác chăm sóc NCT Việt Nam hiện chủ yếu tập trung vào việc chăm sóc sức khỏe, đảm bảo an sinh cho NCT; các hoạt động văn hóa, nghệ thuật, giải trí cho NCT ở nước ta còn hạn chế, chưa được quan tâm, đầu tư đúng mức. Trong Chương trình hành động quốc gia về người cao tuổi Việt Nam giai đoạn 2021- 2030, mục tiêu cụ thể đối với giai đoạn 2021-2025 và giai đoạn 2026-2030 chỉ có 2/13 và 3/13 nội dung liên quan tới đời sống văn hóa, nghệ thuật cho NCT (Thủ tướng Chính phủ, 2021).
          Thứ hai, trong xã hội vẫn tồn tại những định kiến về việc NCT tiếp cận, hưởng thụ các sản phẩm, dịch vụ văn hóa, nghệ thuật, giải trí. Bản thân NCT cũng chịu tác động của định kiến này nên chưa chủ động thực hiện quyền văn hóa của mình.
          Thứ ba, thiếu các thiết chế văn hóa dành riêng cho NCT. Tính đến hết tháng 3/2024, cả nước có 66 thiết chế văn hóa cấp tỉnh (trung tâm văn hóa, trung tâm văn hóa nghệ thuật, trung tâm văn hóa - điện ảnh...); 689/705 quận, huyện có trung tâm văn hóa - thể thao hoặc nhà văn hóa, đạt tỷ lệ khoảng 97,7%; 8.207/10.598 xã, phường, thị trấn có trung tâm văn hóa - thể thao, đạt tỷ lệ 77,4%, trong đó có 5.625 trung tâm văn hóa - thể thao đạt chuẩn (đạt tỷ lệ 53%); 69.070/90.508 làng, thôn, bản, ấp… có nhà văn hóa, đạt tỷ lệ khoảng 76,3%, trong đó có 44.836 nhà văn hóa đạt chuẩn (đạt tỷ lệ 49,5%) (Cục Văn hóa cơ sở, 2024, tr.474-485). Tuy nhiên, tại các địa phương chưa có thiết chế văn hóa dành riêng cho NCT; NCT vẫn phải sử dụng chung hoặc chia sẻ các không gian văn hóa với các nhóm đối tượng khác tại cộng đồng, dẫn đến quyền văn hóa cuả NCT chưa được đảm bảo tốt. 
          Thứ tư, chưa hình thành thị trường sản phẩm, dịch vụ văn hóa giải trí dành riêng cho NCT. Tại Việt Nam, công nghiệp giải trí mới đang trong quá trình hình thành và đối tượng mà ngành này hướng tới tập trung chủ yếu vào những người tiêu dùng trẻ tuổi, NCT chưa phải là đối tượng được ngành công nghiệp giải trí quan tâm. Các sản phẩm văn hóa, nghệ thuật, giải trí dành riêng cho NCT còn thiếu vắng, những sản phẩm đã có lại đơn điệu, nghèo nàn (trừ ngành du lịch bắt đầu có những chương trình, sản phẩm du lịch dành cho đối tượng du khách lớn tuổi song chưa nhiều). Về phía tư nhân, các cơ sở cung cấp dịch vụ cho NCT đã được thành lập song chủ yếu tập trung vào cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe cho NCT, các hoạt động, sản phẩm, dịch vụ văn hóa, nghệ thuật chỉ chiếm một tỷ lệ rất nhỏ trong chương trình hoạt động. 
          4. Một số giải pháp vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh nhằm đảm bảo quyền văn hóa của người cao tuổi trong giai đoạn hiện nay
          Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, văn hóa đóng vai trò quan trọng trong sự nghiệp phát triển con người và xã hội. NCT không chỉ là đối tượng thụ hưởng quyền văn hóa mà còn là những người sáng tạo, lưu giữ và truyền bá các giá trị văn hóa dân tộc. Để đảm bảo và phát huy quyền văn hóa của NCT ở Việt Nam theo tư tưởng Hồ Chí Minh trong bối cảnh già hóa dân số mạnh mẽ như hiện nay, cần thực hiện đồng bộ các giải pháp sau:
          Một là, nâng cao nhận thức về vai trò của NCT trong đời sống văn hóa. Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhấn mạnh rằng NCT là kho tàng tri thức, kinh nghiệm và văn hóa quý báu của dân tộc. Vì vậy, cần trân trọng, phát huy vai trò của NCT trong đời sống xã hội; đẩy mạnh công tác tuyên truyền về quyền văn hóa của NCT, nâng cao nhận thức của xã hội về vai trò của NCT trong việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa. Đồng thời, cần phát huy vai trò của NCT trong gìn giữ, phát huy và truyền thụ các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc cho thế hệ trẻ.    
          Hai là, tạo điều kiện để NCT tiếp cận và tham gia nhiều hơn vào các hoạt động văn hóa, nghệ thuật. Theo Hồ Chí Minh, văn hóa phải phục vụ con người, đặc biệt là các đối tượng yếu thế như NCT. Để đảm bảo quyền văn hóa của NCT, cần xây dựng các thiết chế văn hóa dành riêng cho NCT như thư viện, nhà văn hóa, câu lạc bộ dưỡng sinh, trung tâm học tập cộng đồng; hỗ trợ NCT tham gia các hoạt động văn hóa, nghệ thuật, thể thao, du lịch, góp phần nâng cao đời sống tinh thần của họ. Đồng thời, tạo cơ hội để NCT tham gia sâu vào các hoạt động nghiên cứu, sáng tạo văn hóa, nghệ thuật; khuyến khích họ đóng góp ý kiến trong xây dựng chính sách phát triển văn hóa; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin để giúp NCT tiếp cận với tri thức mới và môi trườngvăn hóa số.
          Ba là, xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh cho NCT. Theo Hồ Chí Minh, văn hóa không chỉ là tri thức mà còn là môi trường sống, sinh hoạt hàng ngày của con người. Xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh cũng là phương thức bảo đảm quyền văn hóa của NCT. Theo đó, cần phát triển các mô hình gia đình văn hóa, khu dân cư văn hóa thân thiện với NCT; chăm sóc sức khỏe tinh thần, nâng cao chất lượng cuộc sống cho NCT thông qua các chương trình văn hóa, nghệ thuật, thể dục thể thao, du lịch; khuyến khích NCT tham gia các phong trào xã hội, hoạt động thiện nguyện để họ tiếp tục cống hiến cho cộng đồng.
          Bốn là, hoàn thiện chính sách pháp luật về quyền văn hóa của NCT. Nhà nước cần đẩy mạnh xây dựng, bổ sung và hoàn thiện các chính sách hỗ trợ NCT trong việc tiếp cận các dịch vụ văn hóa, giải trí; ban hành các chính sách ưu đãi cho NCT trong lĩnh vực văn hóa, nghệ thuật, thể thao, du lịch... Bên cạnh đó, cần có cơ chế khuyến khích doanh nghiệp, tổ chức xã hội đầu tư vào các dịch vụ văn hóa, nghệ thuật dành cho NCT, xây dựng và phát triển ngành “kinh tế bạc” ở nước ta./.
TS, Hà Đỗ Quyên
Vụ Các trường chính trị, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
ThS. Lô Thị Thu Hường
Trường Chính trị Hoàng Văn Thụ, tỉnh Lạng Sơn
----------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------
Tài liệu tham khảo
• Nguyễn Thanh Bình. (2023, 06 tháng 6), Già hóa dân số nhanh ở Việt Nam và khuyến nghị chính sách. Báo Nhân dân điện tử. https://nhandan.vn/gia-hoa-dan-so-nhanh-o-viet-nam-va-khuyen-nghi-chinh-sach-post756305.html . 
• Bộ Công an. (2023). Công văn số 644/BCA-C06 về việc phân tích dữ liệu người cao tuổi, ngày 7/3/2023.
• Bộ Chính trị. (2020). Kết luận số 76/KL/TW ngày 04/6/2020 về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 33-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI) về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước. Hệ thống tư liệu - văn kiện Đảng. https://tulieuvankien.dangcongsan.vn/he-thong-van-ban/van-ban-cua-dang/ket-luan-so-76kltw-ngay-462020-cua-bo-chinh-tri-ve-tiep-tuc-thuc-hien-nghi-quyet-so-33-nqtw-cua-ban-chap-hanh-trung-uong-6470 
• Cục Văn hóa cơ sở. (2024). Xây dựng và hoàn thiện hệ thống thiết chế văn hóa, thể thao các cấp, Kỷ yếu Hội thảo khoa học: “50 năm xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn” do Hội đồng Lý luận Trung ương và Thành ủy Hà Nội tổ chức. 
• Minh Duyên. (2025, 02 tháng 01). Việt Nam thực thi nhiều chính sách, bảo đảm quyền con người trên mọi lĩnh vực. Chuyên trang tư liệu của Thông tấn xã Việt Nam. https://nvsk.vnanet.vn/viet-nam-thuc-thi-nhieu-chinh-sach-bao-dam-quyen-con-nguoi-tren-moi-linh-vuc-1-160068.vna 
• Đảng Cộng sản Việt Nam. (2021). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập 1. Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
• Hồ Chí Minh. (2011). Toàn tập, tập 3, 4, 10, 12. Nxb Chính trị quốc gia.
• Hội Người cao tuổi Việt Nam (2021), Kỷ yếu Đại hội và triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội VI Hội Người cao tuổi Việt Nam, nhiệm kỳ 2016 -2021. Nxb Thế giới.
• Quốc hội. (2013). Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Báo điện tử Chính phủ. https://xaydungchinhsach.chinhphu.vn/toan-van-hien-phap-nuoc-cong-hoa-xa-hoi-chu-nghia-viet-nam-119231225213002261.htm 
• Thủ tướng Chính phủ. (2021). Quyết định số 2156/QD-TTg ngày 21/12/2021 phê duyệt Chương trình hành động quốc gia về người cao tuổi Việt Nam giai đoạn 2021-2030, https://datafiles.chinhphu.vn/cpp/files/vbpq/2021/12/2156.signed_01.pdf