1. Đặt vấn đề
Công nghiệp văn hoá (CNVH) là ngành dựa trên hoạt động sáng tạo, sản xuất, tái sản xuất, phổ biến và tiêu thụ sản phẩm, dịch vụ văn hoá thông qua phương thức công nghiệp hoá, hiện đại hoá và thương mại hoá. Trong bối cảnh toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế, CNVH ngày càng được khẳng định là một trong những ngành kinh tế mũi nhọn, đóng góp quan trọng vào tăng trưởng GDP, tạo việc làm và nâng cao vị thế quốc gia trên trường quốc tế. Nhiều quốc gia ở Châu Á đã trở nên nổi tiếng nhờ việc phát triển CNVH, Hàn Quốc, Trung Quốc, … bởi CNVH không chỉ khai thác các giá trị văn hoá, sáng tạo để tạo ra sản phẩm và dịch vụ có giá trị kinh tế, mà còn góp phần bảo tồn, phát huy bản sắc văn hoá dân tộc, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và phát triển bền vững (dẫn theo Lê Thị Bích Thủy, 2023).
Tại Việt Nam CNVH mới được xác định như một bộ phận cấu thành của chiến lược phát triển kinh tế, xã hội với 12 ngành CNVH trọng điểm, bao gồm: điện ảnh, nghệ thuật biểu diễn, mỹ thuật, nhiếp ảnh, triển lãm, quảng cáo, kiến trúc, thiết kế, thời trang, truyền hình, phát thanh, trò chơi điện tử và du lịch văn hóa (Thủ tướng Chính phủ, 2016). Mặc dù ra đời muộn nhưng các ngành CNVH ở nước ta đã có những kết quả đáng kể. Tuy nhiên, để cạnh tranh được với các quốc gia trong khu vực vốn có nền CNVH phát triển, Việt Nam cần nhận diện và đánh giá tiềm năng từng địa phương nhằm đầu tư xây dựng sản phẩm đặc thù, hấp dẫn tại thị trường CNVH trong thời gian tới. Để định vị và phát triển được các sản phẩm đặc thù CNVH cần: nguồn lực văn hoá, sáng tạo, điều kiện hạ tầng và công nghệ, thị trường tiêu thụ và chính sách hỗ trợ. Thanh Hoá là nơi có đủ các điều kiện, tiềm năng và lợi thế để phát triển các ngành CNVH.
2. Tiềm năng phát triển các ngành công nghiệp văn hoá tại Thanh Hoá
2.1. Nguồn lực văn hoá sáng tạo
Bề dày lịch sử văn hóa lâu đời là động lực quan trọng cho sự phát triển của ngành CNVH, bởi chúng sẽ là nguồn chất liệu phong phú, hấp dẫn, sáng tạo, tạo nên những câu chuyện, sản phẩm, dịch vụ văn hoá mang bản sắc riêng, có khả năng chinh phục thị trường trong nước và quốc tế. Vị trí địa lí đặc biệt của Thanh Hoá đã làm cho tỉnh được ví như một Việt Nam thu nhỏ với nhiều cảnh quan thiên nhiên đẹp, độc đáo ở cả đồng bằng, miền núi và vùng biển. Là vùng đất cổ, cái nôi của văn hoá Đông Sơn, nơi phát tích nhiều triều đại phong kiến và nhân vật lịch sử, xứ Thanh có kho tàng đồ sộ di sản văn hoá vật thể và phi vật thể. Thanh Hoá hiện có hơn 1535 di tích lịch sử - văn hoá, danh lam thắng cảnh đã được xếp hạng và kiểm kê bảo vệ trong đó có 856 di tích. Trong đó, có 02 di sản văn hoá thế giới (Thành Nhà Hồ; Nghệ thuật Xòe Thái cùng chia sẻ với các tỉnh khác), 05 di tích quốc gia đặc biệt (Lam Kinh, Bà Triệu, Am Tiên, Lăng miếu Triệu Tường, Thành Nhà Hồ), 139 di tích quốc gia và 711 di tích cấp tỉnh. Cùng với di sản vật thể, Thanh Hoá còn có hệ thống di sản văn hoá phi vật thể độc đáo, đa dạng, tài sản của 7 dân tộc (Kinh, Mường, Thái, Mông, Dao, Khơ mú, Thổ) tích luỹ qua quá trình sinh sống lâu đời với các lễ hội, phong tục tập quán, các loại hình nghệ thuật truyền thống... Nghệ thuật trình diễn dân gian nổi bật với Trò Xuân Phả, Trò Chiềng, múa đèn Đông Anh, hát nhà trò, dân ca Đông Anh, hò Sông Mã… Trò Xuân Phả (Xứ Thanh) được ghi danh Di sản văn hoá phi vật thể cấp quốc gia (3/2024), cùng hệ thống lễ hội Bà Triệu, Lam Kinh, cầu ngư... (Nguyễn Linh, 2023). Đây là nguồn liệu cho các sản phẩm thiết kế chương trình biểu diễn định kỳ phục vụ du lịch (biển Sầm Sơn/Pù Luông/Thanh Hoá), tour lễ hội theo mùa, số hóa kho tư liệu và biểu diễn…
Cảnh quan và tài nguyên thiên nhiên. Hệ thống danh lam thắng cảnh đa dạng: Biển Sầm Sơn, Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Luông, Vườn quốc gia Bến En, suối cá thần Cẩm Lương, khu bảo tồn Pù Hu… Nhiều địa điểm có giá trị thẩm mỹ cao, tiềm năng trở thành bối cảnh quay phim, nhiếp ảnh, sáng tác mỹ thuật hoặc tổ chức sự kiện văn hoá - nghệ thuật.
Thanh Hóa được mệnh danh là vùng đất trăm nghề, có hệ thống làng nghề phong phú đa dạng. Theo số liệu thống kê, đến năm 2023 tỉnh Thanh Hóa còn 125 làng nghề đang hoạt động (85 làng nghề truyền thống và 40 làng nghề mới), có 69 làng nghề đã được Chủ tịch uỷ ban nhân dân tỉnh quyết định công nhận (Văn phòng Tỉnh ủy Thanh Hóa, 2023). Nhiều sản phẩm thủ công của vùng đã nổi tiếng cả trong và ngoài nước vì sự khéo léo, tinh xảo từ bàn tay và khối óc của các nghệ nhân, thợ thủ công đặc trưng cho từng vùng miền. Nhìn vào bức tranh làng nghề xứ Thanh cho thấy, hầu như các nghề truyền thống ở nước ta đều có mặt ở nơi đây: vùng duyên hải với các làng nghề: chiếu cói (Nga Sơn), mây tre đan (Hoằng Hóa), nước mắm Do Xuyên (Tĩnh Gia), rèn cơ khí (Hậu Lộc); vùng đồng bằng nổi tiếng với làng nghề: làm nón lá truyền thống (Nông Cống), đúc đồng Trà Đông, ươm tơ dệt nhiễu truyền thống Hồng Đô (Thiệu Hóa), bánh gai truyền thống (Thọ Xuân), chế tác đá (Vĩnh Lộc, An Hoạch), gốm Lò Chum...; miền núi có các nghề đặc trưng của đồng bào các dân tộc thiểu số như: dệt thổ cẩm ở Bá Thước, Cẩm Thủy; nghề làm giấy truyền thống (Mường Lát); nghề làm sợi gai (Như Xuân)... Hiện nay, cụm chiếu cói Nga Sơn hiện vẫn còn 37 làng dệt chiếu quy mô lớn, là nguyên liệu đặc trưng có chuỗi giá trị ổn định, có khả năng tạo thành điểm du lịch làng nghề.
Thanh Hoá không chỉ nổi tiếng với bề dày lịch sử, di sản văn hoá và cảnh quan thiên nhiên đa dạng mà còn được biết đến là vùng đất có nền ẩm thực phong phú, mang đậm bản sắc vùng miền. Ẩm thực xứ Thanh là sự kết hợp hài hoà giữa sản vật địa phương, phương pháp chế biến truyền thống cùng với sự giao thoa của ba tiểu vùng: miền núi, đồng bằng và ven biển, đã tạo nên sự đa dạng về khẩu vị, màu sắc và nguyên liệu, nổi tiếng với những đặc sản đậm đà bản sắc như nem chua, giòn, cay, bánh gai Tứ Trụ ngọt bùi, chả tôm nướng than hoa và bánh cuốn thơm mềm. Các gia vị truyền thống như mắm tôm, mắm tép Hà Yên góp phần làm phong phú hương vị món ăn. Đặc biệt, canh lá đắng của người Mường không chỉ độc đáo mà còn mang giá trị văn hoá và y học dân gian. Đây là nguồn tài nguyên văn hoá, du lịch độc đáo, có giá trị khai thác lớn trong phát triển công nghiệp văn hoá.
Bên cạnh nguồn lực nhân văn, Thanh Hoá còn là địa phương đất rộng, người đông, “địa linh nhân kiệt”, đây chính là nguồn lực quản lý, sáng tạo và thụ hưởng các sản phẩm văn hoá. Theo thống kê sơ bộ của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, trước khi thực hiện mô hình chính quyền hai cấp, toàn tỉnh có 1.848 người làm công tác văn hóa: cấp tỉnh 455 người, cấp huyện là 519 người, trong đó có 731 người được đào tạo trình độ đại học trở lên, chiếm tỷ lệ 81%; có 103 người được đào tạo trình độ sau đại học, chiếm tỷ lệ 11,4% (Số liệu từ Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch Thanh hoá năm 2024). Thêm vào đó, đội ngũ văn nghệ sĩ, trí thức, nghệ nhân dân gian… cũng khá đông đảo. Nguồn nhân lực văn hoá trên là lực lượng nòng cốt “chủ thể sáng tạo” các sản phẩm CNVH.
2.2. Điều kiện hạ tầng và công nghệ thông tin
Thanh Hoá hiện đang sở hữu hệ thống hạ tầng kinh tế - xã hội và công nghệ thông tin - truyền thông ngày càng hoàn thiện, tạo nền tảng quan trọng cho việc phát triển CNVH theo hướng hiện đại, hội nhập và bền vững. Nằm ở cửa ngõ Bắc Trung Bộ, Thanh Hoá có đầy đủ hệ thống giao thông từ đường bộ, đường sắt, đường biển, đến đường hàng không (sân bay Thọ Xuân) đảm bào thông thương giữa các địa phương, liên tỉnh và quốc tế.
Thanh Hoá có hệ thống thiết chế văn hoá, nghệ thuật hoàn chỉnh: Bảo tàng, Nhà hát Lam Sơn, Trung tâm Văn hoá Điện ảnh cùng mạng lưới nhà văn hoá cấp huyện, xã đạt chuẩn nông thôn mới. Đây là nền tảng quan trọng để tổ chức các hoạt động bảo tồn, sáng tạo và truyền bá giá trị văn hoá tới cộng đồng. Bên cạnh đó, các khu du lịch trọng điểm như Sầm Sơn, Hải Tiến, Pù Luông, thành phố Thanh Hoá… đã được đầu tư đồng bộ về hạ tầng lưu trú, hội nghị và không gian tổ chức sự kiện, đủ điều kiện để triển khai các hoạt động lễ hội, liên hoan văn hoá - du lịch quy mô khu vực và quốc gia. Đặc biệt, Sầm Sơn với mục tiêu trở thành “thành phố của lễ hội” đã đầu tư xây dựng quảng trường biển 2 ha, sức chứa 10.000 người, cùng trục cảnh quan lễ hội dài 2,6 km, tạo không gian lý tưởng cho các lễ hội và sự kiện văn hóa - du lịch.
Hạ tầng viễn thông - công nghệ thông tin tại Thanh Hoá được đầu tư đồng bộ, tạo nền tảng cho chuyển đổi số trong văn hoá và du lịch. Đến cuối năm 2024, trên địa bàn tỉnh đã lắp đặt tổng cộng 9.433 trạm thu phát sóng di động (BTS) các loại, đảm bảo phủ sóng thông tin di động tới 99,66% thôn, bản, mạng 4G được phủ khắp và 5G đang được thử nghiệm tại TP. Thanh Hoá và thành phố Sầm Sơn (Mai Luận, 2024). Tỉnh cũng triển khai mạnh mẽ chuyển đổi số gắn với phát triển du lịch và công nghiệp văn hoá, trong đó ưu tiên số hoá di tích, lễ hội, xây dựng tour tham quan ảo (3D/VR), tích hợp thanh toán điện tử và hệ thống vé thông minh. Hiện nay, các hiện vật tiêu biểu tại Di sản thế giới Thành nhà Hồ đều đã được số hoá (chụp ảnh 3D, cập nhật thông tin) và gắn mã QR tại điểm di tích, giúp du khách dễ dàng tra cứu thông tin, Lam Kinh được lắp đặt thiết bị thuyết minh tự động nhằm mang đến trải nghiệm sống động cho người tham quan. Việc ứng dụng công nghệ số trong bảo tồn không chỉ giúp giới thiệu di sản hiệu quả hơn mà còn mở ra cách thức tương tác mới, thu hút giới trẻ đến với di sản văn hoá xứ Thanh.
Đồng thời, kho dữ liệu số về di sản văn hoá, làng nghề và sản phẩm đặc sản địa phương đang được xây dựng nhằm phục vụ quảng bá trực tuyến và phát triển sản phẩm nội dung số. Những điều kiện này cho thấy khả năng tích hợp hạ tầng văn hoá - du lịch với công nghệ số là rất lớn. Các trung tâm văn hoá, khu du lịch không chỉ là nơi phục vụ trải nghiệm mà còn có thể trở thành “trung tâm sản xuất nội dung” cho các sản phẩm nghệ thuật biểu diễn, điện ảnh, lễ hội.
2.3. Thị trường tiêu thụ và chính sách hỗ trợ
Thanh Hoá là thị trường tiêu thụ sản phẩm CNVH rộng mở, được thúc đẩy bởi sự gia tăng mạnh mẽ của du lịch, nhu cầu hưởng thụ văn hoá trong cộng đồng, cùng với sự hội nhập của các sản phẩm sáng tạo vào thị trường trong nước và quốc tế.
Về thị trường tiêu thụ: Trong những năm gần đây, du lịch Thanh Hoá liên tục tăng trưởng ấn tượng, trở thành động lực chính tạo ra nhu cầu đối với các sản phẩm CNVH. Năm 2024, Tỉnh đón khoảng 15,3 triệu lượt khách, doanh thu du lịch đạt gần 33,8 nghìn tỷ đồng (Mai Phương & Linh Sơn, 2025). Đây là nhóm khách hàng tiềm năng cho các sản phẩm văn hoá như hàng thủ công mỹ nghệ, chương trình nghệ thuật, lễ hội, tour trải nghiệm di sản, ẩm thực đặc sản, sản phẩm số và nội dung giải trí. Ngoài thị trường du lịch, Thanh Hoá còn có lợi thế là tỉnh đông dân thứ ba cả nước, với hơn 3,7 triệu dân, hình thành lực lượng tiêu dùng nội địa lớn và đa dạng, đặc biệt là nhóm trẻ tuổi - đối tượng cởi mở với các sản phẩm sáng tạo, công nghệ và giải trí trực tuyến. Bên cạnh đó, các kênh thương mại điện tử, mạng xã hội và nền tảng streaming đang mở rộng khả năng tiếp cận thị trường ngoài tỉnh và quốc tế, tạo cơ hội xuất khẩu sản phẩm CNVH, đặc biệt là đặc sản ẩm thực, hàng thủ công mỹ nghệ, trò chơi điện tử và sản phẩm nội dung số gắn với di sản.
Về chính sách: Trên cơ sở Chiến lược phát triển công nghiệp văn hoá Việt Nam đến năm 2030 Ban hành kèm theo Quyết định số 1755/QĐ - TTg ngày 8/9/2016 của Thủ tướng Chính phủ, tỉnh đã chủ động ban hành và triển khai nhiều chủ trương, kế hoạch, đề án nhằm thúc đẩy lĩnh vực này phát triển bền vững. Kế hoạch số 169/KH-UBND ngày 29/9/2017 của UBND tỉnh Thanh Hóa về thực hiện chiến lược phát triển ngành CNVH tỉnh Thanh Hoá đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 là văn bản đầu tiên cụ thể hóa Chiến lược phát triển công nghiệp văn hóa quốc gia tại địa phương, đầu tư phát triển các loại hình: du lịch văn hóa, nghệ thuật biểu diễn, điện ảnh, xuất bản, thủ công mỹ nghệ... Nhằm cụ thể hoá các lĩnh vực CNVH, tỉnh xây dựng Quy hoạch phát triển du lịch Thanh Hoá đến năm 2030, tầm nhìn 2045 với định hướng lấy du lịch văn hoá - di sản làm trụ cột, tạo sự gắn kết chặt chẽ với các ngành CNVH khác. Cùng với đó, Chương trình chuyển đổi số ngành văn hoá, thể thao và du lịch được triển khai, ưu tiên số hoá di sản, phát triển sản phẩm du lịch thông minh và đẩy mạnh quảng bá văn hoá qua nền tảng số. Tỉnh cũng chú trọng bảo tồn và phát huy di sản văn hoá phi vật thể, vật thể thông qua việc hỗ trợ phục dựng lễ hội truyền thống, trò diễn dân gian đặc sắc, đầu tư vào các di tích trọng điểm và đào tạo nghệ nhân trẻ nhằm duy trì mạch nguồn sáng tạo văn hoá. Ngoài ra, Thanh Hoá khuyến khích xã hội hoá đầu tư vào các thiết chế văn hoá, khu vui chơi giải trí, tổ hợp dịch vụ sáng tạo bằng cơ chế ưu đãi về thuế, thuê đất và hỗ trợ thủ tục hành chính. Các chính sách xúc tiến thương mại và quảng bá sản phẩm CNVH cũng được tỉnh chú trọng, bao gồm việc hỗ trợ doanh nghiệp và cộng đồng tham gia hội chợ, triển lãm quốc tế; xây dựng thương hiệu địa phương cho sản phẩm thủ công, ẩm thực, mỹ thuật; tổ chức thường niên các lễ hội văn hoá - du lịch quy mô lớn như Lễ hội biển Sầm Sơn, Lễ hội Lam Kinh… Những chính sách này không chỉ tạo môi trường thuận lợi cho sự hình thành và phát triển các ngành công nghiệp văn hoá ở Thanh Hoá, mà còn góp phần nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm văn hoá địa phương trên thị trường trong nước và quốc tế.
Thanh Hoá đề cao mô hình hợp tác công - tư trong phát triển hạ tầng văn hoá và giải trí. Chính quyền tỉnh khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực văn hoá, đồng thời cam kết tạo điều kiện thuận lợi để doanh nghiệp phối hợp nâng cấp hạ tầng theo tiêu chuẩn quốc tế. Thực tế thời gian qua, nhiều dự án văn hoá - du lịch tại Thanh Hoá được triển khai dưới dạng đối tác công tư, điển hình là sự hợp tác với Tập đoàn Sun Group trong việc tổ chức các sự kiện lễ hội lớn và xây dựng tổ hợp vui chơi giải trí ở Sầm Sơn. Việc UBND tỉnh bắt tay với doanh nghiệp giúp huy động nguồn lực dồi dào, đưa công nghệ hiện đại vào các công trình văn hoá - du lịch quy mô lớn, qua đó nâng tầm chất lượng dịch vụ. Sự kiện Lễ hội biển Sầm Sơn gần đây là minh chứng tiêu biểu: chương trình do tỉnh phối hợp cùng Sun Group dàn dựng hoành tráng, ứng dụng hệ thống kỹ xảo âm thanh - ánh sáng tiên tiến, thu hút hơn 300.000 người tham dự (Yên Chi, 2025). Nhờ cách làm này, Thanh Hoá đang hình thành những tổ hợp văn hoá - giải trí hiện đại, vừa bảo tồn giá trị truyền thống vừa đáp ứng thị hiếu giải trí mới, tạo động lực đưa CNVH của tỉnh phát triển trong tương lai.
3. Khai thác tiềm năng trong phát triển các ngành công nghiệp văn hoá tại Thanh Hoá
Hiện nay, Thanh Hoá đã bước đầu khai thác được các tiềm năng phát triển một số sản phẩm CNVH.
Trong lĩnh vực du lịch văn hoá, Thanh Hoá đã tập trung huy động tối đa các nguồn lực để đầu tư phát triển và hoàn thiện hệ thống kết cấu hạ tầng, đồng thời chú trọng công tác bảo tồn, tôn tạo di sản nhằm phục vụ hiệu quả các hoạt động du lịch gắn với yếu tố văn hoá - lịch sử. Hằng năm, Tỉnh tổ chức chuỗi trên 70 sự kiện văn hoá, lễ hội, kết hợp xây dựng các chương trình tham quan kết nối tới những điểm đến tiêu biểu như Khu Di tích lịch sử Lam Kinh, Di tích lịch sử và kiến trúc nghệ thuật quốc gia đặc biệt Bà Triệu, Đền Nưa - Am Tiên, Di sản văn hoá thế giới Thành nhà Hồ… Tỉnh cũng đầu tư nhiều dự án nhằm tu bổ, phục hồi các di tích trọng điểm: Khu di tích Lam Kinh, Khu di tích Phủ Trịnh - Nghè Vẹt, Khu lăng miếu Triệu Tường, Thành nhà Hồ và đền Bà Triệu.
Bên cạnh đó, hiện toàn tỉnh có 83 doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ lữ hành, hơn 1.300 cơ sở lưu trú với khoảng 45.000 phòng, đảm bảo cho du khách trong và ngoài nước lưu trú. Nhiều di tích sau khi được đầu tư đã trở thành điểm du lịch nổi tiếng, thu hút đông đảo khách nội địa và quốc tế. Riêng năm 2024, tỉnh đón 15,3 triệu lượt khách (đạt 110,9% kế hoạch), tổng thu du lịch ước đạt 33.815 tỷ đồng (đạt 104,4% kế hoạch). Trong đó, một số điểm đến ghi nhận lượng khách đáng kể như Sầm Sơn (905.000 lượt), thị xã Nghi Sơn (86.700 lượt), Hải Tiến (89.800 lượt), TP Thanh Hoá (65.600 lượt), khu du lịch Pù Luông (62.500 lượt), Thành nhà Hồ (11.700 lượt), Lam Kinh (9.200 lượt), Bến En (3.400 lượt) và Bản Mạ (3.700 lượt) (Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, 2024). Những con số này cho thấy tiềm năng lớn và sức hấp dẫn ngày càng gia tăng của du lịch văn hoá xứ Thanh, đồng thời khẳng định vai trò then chốt của lĩnh vực này trong phát triển CNVH của tỉnh.
Lĩnh vực điện ảnh, từ năm 2017 đến nay, Trung tâm Văn hoá - Điện ảnh tỉnh đã tổ chức hơn 70 đợt chiếu và tuần phim với khoảng 7.350 buổi, doanh thu đạt khoảng 309,9 triệu đồng, thu hút trung bình 60.000 - 70.000 lượt người xem mỗi năm. Bên cạnh đó, hoạt động chiếu phim thương mại do hai doanh nghiệp là Công ty TNHH Lottecinema Việt Nam và Công ty Beta Media đảm nhiệm, mang lại tổng doanh thu trên 59 tỷ đồng; trong đó, Lottecinema đạt khoảng 32,4 tỷ đồng với 486.994 lượt khán giả, còn Beta Media đạt khoảng 26,7 tỷ đồng với 416.343 lượt khán giả (Văn phòng Tỉnh ủy Thanh Hóa, 2024). Nhìn chung, điện ảnh ở Thanh Hoá đã góp phần đáp ứng nhu cầu hưởng thụ văn hoá của người dân và hoàn thành tốt nhiệm vụ tuyên truyền chính trị - xã hội. Tuy nhiên, quy mô và tính đa dạng của các hoạt động còn hạn chế; phim chiếu chủ yếu phục vụ nhiệm vụ chính trị, trong khi sản phẩm điện ảnh mang tính thương mại và sáng tạo nội dung gắn với di sản, văn hoá địa phương chưa nhiều. Hệ thống rạp chiếu hiện đại mới tập trung ở một số khu vực đô thị, chưa bao phủ rộng khắp, dẫn đến việc tiếp cận điện ảnh của người dân ở vùng sâu, vùng xa còn hạn chế. Điều này đòi hỏi tỉnh cần có chiến lược khai thác điện ảnh như một ngành CNVH đúng nghĩa, kết hợp giữa sản xuất, phát hành và quảng bá, đồng thời gắn với thế mạnh di sản - du lịch để nâng cao giá trị kinh tế và văn hoá.
Về nghệ thuật biểu diễn, sự ra đời của nhà hát Nhà hát Nghệ thuật Lam Sơn với sự kết hợp giữa Ca múa kịch Lam Sơn và nhà hát nghệ thuật truyền thống đã góp phần nâng cao hoạt động biểu điễn nghệ thuật tại Thanh Hoá. Nhiều chương trình ca múa, kịch nói, dân ca - dân vũ hiện đại được dàn dựng, các trích đoạn, vở mới của các loại hình nghệ thuật truyền thống được khôi phục và làm mới, đưa tổng doanh thu từ năm 2017 đến nay đạt khoảng 11,16 tỷ đồng (Văn phòng Tỉnh ủy Thanh Hóa, 2024). Đây là minh chứng cho vai trò then chốt của tỉnh Thanh Hoá trong việc vừa thực hiện nhiệm vụ chính trị, vừa bước đầu khai thác yếu tố thương mại của sản phẩm biểu diễn, thể hiện rõ vai trò gìn giữ bản sắc văn hoá Xứ Thanh.
Về mỹ thuật, nhiếp ảnh và triển lãm, các hoạ sĩ, nghệ sĩ nhiếp ảnh trong tỉnh tích cực tham gia triển lãm mỹ thuật - nhiếp ảnh ở cấp quốc tế, quốc gia, khu vực và địa phương. Nhiều tác phẩm đạt giá trị nghệ thuật cao, được đánh giá tốt và giành giải thưởng uy tín, góp phần quảng bá hình ảnh và văn hoá Thanh Hoá. Các hoạt động triển lãm, hội thi, thực tế sáng tác, giao lưu văn học - nghệ thuật diễn ra sôi nổi, tạo môi trường cho sáng tạo và trao đổi chuyên môn.
Ngoài ra, Quy hoạch quảng cáo ngoài trời đến năm 2020, định hướng đến năm 2030 của tỉnh đã tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động quảng cáo phát triển đúng quy định, góp phần hỗ trợ các ngành CNVH khác trong khâu truyền thông và xúc tiến thương mại.
Mặc dù sở hữu nguồn lực văn hoá phong phú và đã đạt được một số kết quả bước đầu trong khai thác các lĩnh vực như du lịch văn hoá, nghệ thuật biểu diễn, điện ảnh, thủ công mỹ nghệ..., song công nghiệp văn hoá Thanh Hoá vẫn chưa khai thác được hết tiềm năng, bộc lộ nhiều hạn chế cần được khắc phục. Trước hết, nhận thức về CNVH tại một số cấp quản lý và trong cộng đồng sáng tạo còn chưa đầy đủ, dẫn đến thiếu sự định hướng chiến lược và đồng bộ trong quy hoạch phát triển ngành. Cơ cấu sản phẩm còn nghèo nàn, thiếu tính đột phá, sáng tạo và chưa phù hợp với thị hiếu đa dạng của thị trường trong nước và quốc tế. Quy mô sản xuất nhỏ lẻ, chủ yếu phục vụ nhiệm vụ chính trị, xã hội, chưa thực sự tạo ra giá trị gia tăng về kinh tế. Nguồn nhân lực chất lượng cao trong lĩnh vực sáng tạo, thiết kế, truyền thông và quản lý văn hoá còn thiếu cả về số lượng và năng lực chuyên môn. Hệ sinh thái hỗ trợ khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo trong lĩnh vực văn hoá chưa hình thành rõ nét. Các thiết chế văn hoá tuy được đầu tư nhưng chưa khai thác hiệu quả, thiếu liên kết với doanh nghiệp và hoạt động thị trường. Ngoài ra, việc ứng dụng công nghệ số trong sáng tạo, phân phối và tiếp cận công chúng còn hạn chế; thiếu các mô hình kinh doanh văn hoá hiện đại, nền tảng thương mại điện tử chuyên biệt và cơ chế tài chính linh hoạt. Những tồn tại này cho thấy CNVH Thanh Hoá vẫn đang trong giai đoạn đầu phát triển, chưa phát huy được hết tiềm năng, lợi thế, đòi hỏi phải có chính sách, nguồn lực và mô hình vận hành phù hợp hơn trong thời gian tới.
4. Kết luận
Thanh Hoá với bề dày lịch sử, di sản phong phú và cảnh quan đa dạng có tiềm năng lớn để phát triển CNVH. Những năm qua, tỉnh đã đạt kết quả đáng ghi nhận ở nhiều lĩnh vực như du lịch văn hoá, nghệ thuật biểu diễn, điện ảnh, thủ công mỹ nghệ… Tuy nhiên, so với tiềm năng, ngành vẫn còn hạn chế về sản phẩm, tính chuyên nghiệp, ứng dụng công nghệ và sức cạnh tranh. Để trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, Thanh Hoá cần tiếp tục hoàn thiện chính sách, đầu tư hạ tầng, đẩy mạnh chuyển đổi số, xã hội hoá và nâng cao chất lượng nhân lực, qua đó khai thác hiệu quả lợi thế và khẳng định vị thế trên bản đồ văn hoá Việt Nam./.
Công nghiệp văn hoá (CNVH) là ngành dựa trên hoạt động sáng tạo, sản xuất, tái sản xuất, phổ biến và tiêu thụ sản phẩm, dịch vụ văn hoá thông qua phương thức công nghiệp hoá, hiện đại hoá và thương mại hoá. Trong bối cảnh toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế, CNVH ngày càng được khẳng định là một trong những ngành kinh tế mũi nhọn, đóng góp quan trọng vào tăng trưởng GDP, tạo việc làm và nâng cao vị thế quốc gia trên trường quốc tế. Nhiều quốc gia ở Châu Á đã trở nên nổi tiếng nhờ việc phát triển CNVH, Hàn Quốc, Trung Quốc, … bởi CNVH không chỉ khai thác các giá trị văn hoá, sáng tạo để tạo ra sản phẩm và dịch vụ có giá trị kinh tế, mà còn góp phần bảo tồn, phát huy bản sắc văn hoá dân tộc, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và phát triển bền vững (dẫn theo Lê Thị Bích Thủy, 2023).
Tại Việt Nam CNVH mới được xác định như một bộ phận cấu thành của chiến lược phát triển kinh tế, xã hội với 12 ngành CNVH trọng điểm, bao gồm: điện ảnh, nghệ thuật biểu diễn, mỹ thuật, nhiếp ảnh, triển lãm, quảng cáo, kiến trúc, thiết kế, thời trang, truyền hình, phát thanh, trò chơi điện tử và du lịch văn hóa (Thủ tướng Chính phủ, 2016). Mặc dù ra đời muộn nhưng các ngành CNVH ở nước ta đã có những kết quả đáng kể. Tuy nhiên, để cạnh tranh được với các quốc gia trong khu vực vốn có nền CNVH phát triển, Việt Nam cần nhận diện và đánh giá tiềm năng từng địa phương nhằm đầu tư xây dựng sản phẩm đặc thù, hấp dẫn tại thị trường CNVH trong thời gian tới. Để định vị và phát triển được các sản phẩm đặc thù CNVH cần: nguồn lực văn hoá, sáng tạo, điều kiện hạ tầng và công nghệ, thị trường tiêu thụ và chính sách hỗ trợ. Thanh Hoá là nơi có đủ các điều kiện, tiềm năng và lợi thế để phát triển các ngành CNVH.
2. Tiềm năng phát triển các ngành công nghiệp văn hoá tại Thanh Hoá
2.1. Nguồn lực văn hoá sáng tạo
Bề dày lịch sử văn hóa lâu đời là động lực quan trọng cho sự phát triển của ngành CNVH, bởi chúng sẽ là nguồn chất liệu phong phú, hấp dẫn, sáng tạo, tạo nên những câu chuyện, sản phẩm, dịch vụ văn hoá mang bản sắc riêng, có khả năng chinh phục thị trường trong nước và quốc tế. Vị trí địa lí đặc biệt của Thanh Hoá đã làm cho tỉnh được ví như một Việt Nam thu nhỏ với nhiều cảnh quan thiên nhiên đẹp, độc đáo ở cả đồng bằng, miền núi và vùng biển. Là vùng đất cổ, cái nôi của văn hoá Đông Sơn, nơi phát tích nhiều triều đại phong kiến và nhân vật lịch sử, xứ Thanh có kho tàng đồ sộ di sản văn hoá vật thể và phi vật thể. Thanh Hoá hiện có hơn 1535 di tích lịch sử - văn hoá, danh lam thắng cảnh đã được xếp hạng và kiểm kê bảo vệ trong đó có 856 di tích. Trong đó, có 02 di sản văn hoá thế giới (Thành Nhà Hồ; Nghệ thuật Xòe Thái cùng chia sẻ với các tỉnh khác), 05 di tích quốc gia đặc biệt (Lam Kinh, Bà Triệu, Am Tiên, Lăng miếu Triệu Tường, Thành Nhà Hồ), 139 di tích quốc gia và 711 di tích cấp tỉnh. Cùng với di sản vật thể, Thanh Hoá còn có hệ thống di sản văn hoá phi vật thể độc đáo, đa dạng, tài sản của 7 dân tộc (Kinh, Mường, Thái, Mông, Dao, Khơ mú, Thổ) tích luỹ qua quá trình sinh sống lâu đời với các lễ hội, phong tục tập quán, các loại hình nghệ thuật truyền thống... Nghệ thuật trình diễn dân gian nổi bật với Trò Xuân Phả, Trò Chiềng, múa đèn Đông Anh, hát nhà trò, dân ca Đông Anh, hò Sông Mã… Trò Xuân Phả (Xứ Thanh) được ghi danh Di sản văn hoá phi vật thể cấp quốc gia (3/2024), cùng hệ thống lễ hội Bà Triệu, Lam Kinh, cầu ngư... (Nguyễn Linh, 2023). Đây là nguồn liệu cho các sản phẩm thiết kế chương trình biểu diễn định kỳ phục vụ du lịch (biển Sầm Sơn/Pù Luông/Thanh Hoá), tour lễ hội theo mùa, số hóa kho tư liệu và biểu diễn…
Cảnh quan và tài nguyên thiên nhiên. Hệ thống danh lam thắng cảnh đa dạng: Biển Sầm Sơn, Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Luông, Vườn quốc gia Bến En, suối cá thần Cẩm Lương, khu bảo tồn Pù Hu… Nhiều địa điểm có giá trị thẩm mỹ cao, tiềm năng trở thành bối cảnh quay phim, nhiếp ảnh, sáng tác mỹ thuật hoặc tổ chức sự kiện văn hoá - nghệ thuật.
Thanh Hóa được mệnh danh là vùng đất trăm nghề, có hệ thống làng nghề phong phú đa dạng. Theo số liệu thống kê, đến năm 2023 tỉnh Thanh Hóa còn 125 làng nghề đang hoạt động (85 làng nghề truyền thống và 40 làng nghề mới), có 69 làng nghề đã được Chủ tịch uỷ ban nhân dân tỉnh quyết định công nhận (Văn phòng Tỉnh ủy Thanh Hóa, 2023). Nhiều sản phẩm thủ công của vùng đã nổi tiếng cả trong và ngoài nước vì sự khéo léo, tinh xảo từ bàn tay và khối óc của các nghệ nhân, thợ thủ công đặc trưng cho từng vùng miền. Nhìn vào bức tranh làng nghề xứ Thanh cho thấy, hầu như các nghề truyền thống ở nước ta đều có mặt ở nơi đây: vùng duyên hải với các làng nghề: chiếu cói (Nga Sơn), mây tre đan (Hoằng Hóa), nước mắm Do Xuyên (Tĩnh Gia), rèn cơ khí (Hậu Lộc); vùng đồng bằng nổi tiếng với làng nghề: làm nón lá truyền thống (Nông Cống), đúc đồng Trà Đông, ươm tơ dệt nhiễu truyền thống Hồng Đô (Thiệu Hóa), bánh gai truyền thống (Thọ Xuân), chế tác đá (Vĩnh Lộc, An Hoạch), gốm Lò Chum...; miền núi có các nghề đặc trưng của đồng bào các dân tộc thiểu số như: dệt thổ cẩm ở Bá Thước, Cẩm Thủy; nghề làm giấy truyền thống (Mường Lát); nghề làm sợi gai (Như Xuân)... Hiện nay, cụm chiếu cói Nga Sơn hiện vẫn còn 37 làng dệt chiếu quy mô lớn, là nguyên liệu đặc trưng có chuỗi giá trị ổn định, có khả năng tạo thành điểm du lịch làng nghề.
Thanh Hoá không chỉ nổi tiếng với bề dày lịch sử, di sản văn hoá và cảnh quan thiên nhiên đa dạng mà còn được biết đến là vùng đất có nền ẩm thực phong phú, mang đậm bản sắc vùng miền. Ẩm thực xứ Thanh là sự kết hợp hài hoà giữa sản vật địa phương, phương pháp chế biến truyền thống cùng với sự giao thoa của ba tiểu vùng: miền núi, đồng bằng và ven biển, đã tạo nên sự đa dạng về khẩu vị, màu sắc và nguyên liệu, nổi tiếng với những đặc sản đậm đà bản sắc như nem chua, giòn, cay, bánh gai Tứ Trụ ngọt bùi, chả tôm nướng than hoa và bánh cuốn thơm mềm. Các gia vị truyền thống như mắm tôm, mắm tép Hà Yên góp phần làm phong phú hương vị món ăn. Đặc biệt, canh lá đắng của người Mường không chỉ độc đáo mà còn mang giá trị văn hoá và y học dân gian. Đây là nguồn tài nguyên văn hoá, du lịch độc đáo, có giá trị khai thác lớn trong phát triển công nghiệp văn hoá.
Bên cạnh nguồn lực nhân văn, Thanh Hoá còn là địa phương đất rộng, người đông, “địa linh nhân kiệt”, đây chính là nguồn lực quản lý, sáng tạo và thụ hưởng các sản phẩm văn hoá. Theo thống kê sơ bộ của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, trước khi thực hiện mô hình chính quyền hai cấp, toàn tỉnh có 1.848 người làm công tác văn hóa: cấp tỉnh 455 người, cấp huyện là 519 người, trong đó có 731 người được đào tạo trình độ đại học trở lên, chiếm tỷ lệ 81%; có 103 người được đào tạo trình độ sau đại học, chiếm tỷ lệ 11,4% (Số liệu từ Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch Thanh hoá năm 2024). Thêm vào đó, đội ngũ văn nghệ sĩ, trí thức, nghệ nhân dân gian… cũng khá đông đảo. Nguồn nhân lực văn hoá trên là lực lượng nòng cốt “chủ thể sáng tạo” các sản phẩm CNVH.
2.2. Điều kiện hạ tầng và công nghệ thông tin
Thanh Hoá hiện đang sở hữu hệ thống hạ tầng kinh tế - xã hội và công nghệ thông tin - truyền thông ngày càng hoàn thiện, tạo nền tảng quan trọng cho việc phát triển CNVH theo hướng hiện đại, hội nhập và bền vững. Nằm ở cửa ngõ Bắc Trung Bộ, Thanh Hoá có đầy đủ hệ thống giao thông từ đường bộ, đường sắt, đường biển, đến đường hàng không (sân bay Thọ Xuân) đảm bào thông thương giữa các địa phương, liên tỉnh và quốc tế.
Thanh Hoá có hệ thống thiết chế văn hoá, nghệ thuật hoàn chỉnh: Bảo tàng, Nhà hát Lam Sơn, Trung tâm Văn hoá Điện ảnh cùng mạng lưới nhà văn hoá cấp huyện, xã đạt chuẩn nông thôn mới. Đây là nền tảng quan trọng để tổ chức các hoạt động bảo tồn, sáng tạo và truyền bá giá trị văn hoá tới cộng đồng. Bên cạnh đó, các khu du lịch trọng điểm như Sầm Sơn, Hải Tiến, Pù Luông, thành phố Thanh Hoá… đã được đầu tư đồng bộ về hạ tầng lưu trú, hội nghị và không gian tổ chức sự kiện, đủ điều kiện để triển khai các hoạt động lễ hội, liên hoan văn hoá - du lịch quy mô khu vực và quốc gia. Đặc biệt, Sầm Sơn với mục tiêu trở thành “thành phố của lễ hội” đã đầu tư xây dựng quảng trường biển 2 ha, sức chứa 10.000 người, cùng trục cảnh quan lễ hội dài 2,6 km, tạo không gian lý tưởng cho các lễ hội và sự kiện văn hóa - du lịch.
Hạ tầng viễn thông - công nghệ thông tin tại Thanh Hoá được đầu tư đồng bộ, tạo nền tảng cho chuyển đổi số trong văn hoá và du lịch. Đến cuối năm 2024, trên địa bàn tỉnh đã lắp đặt tổng cộng 9.433 trạm thu phát sóng di động (BTS) các loại, đảm bảo phủ sóng thông tin di động tới 99,66% thôn, bản, mạng 4G được phủ khắp và 5G đang được thử nghiệm tại TP. Thanh Hoá và thành phố Sầm Sơn (Mai Luận, 2024). Tỉnh cũng triển khai mạnh mẽ chuyển đổi số gắn với phát triển du lịch và công nghiệp văn hoá, trong đó ưu tiên số hoá di tích, lễ hội, xây dựng tour tham quan ảo (3D/VR), tích hợp thanh toán điện tử và hệ thống vé thông minh. Hiện nay, các hiện vật tiêu biểu tại Di sản thế giới Thành nhà Hồ đều đã được số hoá (chụp ảnh 3D, cập nhật thông tin) và gắn mã QR tại điểm di tích, giúp du khách dễ dàng tra cứu thông tin, Lam Kinh được lắp đặt thiết bị thuyết minh tự động nhằm mang đến trải nghiệm sống động cho người tham quan. Việc ứng dụng công nghệ số trong bảo tồn không chỉ giúp giới thiệu di sản hiệu quả hơn mà còn mở ra cách thức tương tác mới, thu hút giới trẻ đến với di sản văn hoá xứ Thanh.
Đồng thời, kho dữ liệu số về di sản văn hoá, làng nghề và sản phẩm đặc sản địa phương đang được xây dựng nhằm phục vụ quảng bá trực tuyến và phát triển sản phẩm nội dung số. Những điều kiện này cho thấy khả năng tích hợp hạ tầng văn hoá - du lịch với công nghệ số là rất lớn. Các trung tâm văn hoá, khu du lịch không chỉ là nơi phục vụ trải nghiệm mà còn có thể trở thành “trung tâm sản xuất nội dung” cho các sản phẩm nghệ thuật biểu diễn, điện ảnh, lễ hội.
2.3. Thị trường tiêu thụ và chính sách hỗ trợ
Thanh Hoá là thị trường tiêu thụ sản phẩm CNVH rộng mở, được thúc đẩy bởi sự gia tăng mạnh mẽ của du lịch, nhu cầu hưởng thụ văn hoá trong cộng đồng, cùng với sự hội nhập của các sản phẩm sáng tạo vào thị trường trong nước và quốc tế.
Về thị trường tiêu thụ: Trong những năm gần đây, du lịch Thanh Hoá liên tục tăng trưởng ấn tượng, trở thành động lực chính tạo ra nhu cầu đối với các sản phẩm CNVH. Năm 2024, Tỉnh đón khoảng 15,3 triệu lượt khách, doanh thu du lịch đạt gần 33,8 nghìn tỷ đồng (Mai Phương & Linh Sơn, 2025). Đây là nhóm khách hàng tiềm năng cho các sản phẩm văn hoá như hàng thủ công mỹ nghệ, chương trình nghệ thuật, lễ hội, tour trải nghiệm di sản, ẩm thực đặc sản, sản phẩm số và nội dung giải trí. Ngoài thị trường du lịch, Thanh Hoá còn có lợi thế là tỉnh đông dân thứ ba cả nước, với hơn 3,7 triệu dân, hình thành lực lượng tiêu dùng nội địa lớn và đa dạng, đặc biệt là nhóm trẻ tuổi - đối tượng cởi mở với các sản phẩm sáng tạo, công nghệ và giải trí trực tuyến. Bên cạnh đó, các kênh thương mại điện tử, mạng xã hội và nền tảng streaming đang mở rộng khả năng tiếp cận thị trường ngoài tỉnh và quốc tế, tạo cơ hội xuất khẩu sản phẩm CNVH, đặc biệt là đặc sản ẩm thực, hàng thủ công mỹ nghệ, trò chơi điện tử và sản phẩm nội dung số gắn với di sản.
Về chính sách: Trên cơ sở Chiến lược phát triển công nghiệp văn hoá Việt Nam đến năm 2030 Ban hành kèm theo Quyết định số 1755/QĐ - TTg ngày 8/9/2016 của Thủ tướng Chính phủ, tỉnh đã chủ động ban hành và triển khai nhiều chủ trương, kế hoạch, đề án nhằm thúc đẩy lĩnh vực này phát triển bền vững. Kế hoạch số 169/KH-UBND ngày 29/9/2017 của UBND tỉnh Thanh Hóa về thực hiện chiến lược phát triển ngành CNVH tỉnh Thanh Hoá đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 là văn bản đầu tiên cụ thể hóa Chiến lược phát triển công nghiệp văn hóa quốc gia tại địa phương, đầu tư phát triển các loại hình: du lịch văn hóa, nghệ thuật biểu diễn, điện ảnh, xuất bản, thủ công mỹ nghệ... Nhằm cụ thể hoá các lĩnh vực CNVH, tỉnh xây dựng Quy hoạch phát triển du lịch Thanh Hoá đến năm 2030, tầm nhìn 2045 với định hướng lấy du lịch văn hoá - di sản làm trụ cột, tạo sự gắn kết chặt chẽ với các ngành CNVH khác. Cùng với đó, Chương trình chuyển đổi số ngành văn hoá, thể thao và du lịch được triển khai, ưu tiên số hoá di sản, phát triển sản phẩm du lịch thông minh và đẩy mạnh quảng bá văn hoá qua nền tảng số. Tỉnh cũng chú trọng bảo tồn và phát huy di sản văn hoá phi vật thể, vật thể thông qua việc hỗ trợ phục dựng lễ hội truyền thống, trò diễn dân gian đặc sắc, đầu tư vào các di tích trọng điểm và đào tạo nghệ nhân trẻ nhằm duy trì mạch nguồn sáng tạo văn hoá. Ngoài ra, Thanh Hoá khuyến khích xã hội hoá đầu tư vào các thiết chế văn hoá, khu vui chơi giải trí, tổ hợp dịch vụ sáng tạo bằng cơ chế ưu đãi về thuế, thuê đất và hỗ trợ thủ tục hành chính. Các chính sách xúc tiến thương mại và quảng bá sản phẩm CNVH cũng được tỉnh chú trọng, bao gồm việc hỗ trợ doanh nghiệp và cộng đồng tham gia hội chợ, triển lãm quốc tế; xây dựng thương hiệu địa phương cho sản phẩm thủ công, ẩm thực, mỹ thuật; tổ chức thường niên các lễ hội văn hoá - du lịch quy mô lớn như Lễ hội biển Sầm Sơn, Lễ hội Lam Kinh… Những chính sách này không chỉ tạo môi trường thuận lợi cho sự hình thành và phát triển các ngành công nghiệp văn hoá ở Thanh Hoá, mà còn góp phần nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm văn hoá địa phương trên thị trường trong nước và quốc tế.
Thanh Hoá đề cao mô hình hợp tác công - tư trong phát triển hạ tầng văn hoá và giải trí. Chính quyền tỉnh khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực văn hoá, đồng thời cam kết tạo điều kiện thuận lợi để doanh nghiệp phối hợp nâng cấp hạ tầng theo tiêu chuẩn quốc tế. Thực tế thời gian qua, nhiều dự án văn hoá - du lịch tại Thanh Hoá được triển khai dưới dạng đối tác công tư, điển hình là sự hợp tác với Tập đoàn Sun Group trong việc tổ chức các sự kiện lễ hội lớn và xây dựng tổ hợp vui chơi giải trí ở Sầm Sơn. Việc UBND tỉnh bắt tay với doanh nghiệp giúp huy động nguồn lực dồi dào, đưa công nghệ hiện đại vào các công trình văn hoá - du lịch quy mô lớn, qua đó nâng tầm chất lượng dịch vụ. Sự kiện Lễ hội biển Sầm Sơn gần đây là minh chứng tiêu biểu: chương trình do tỉnh phối hợp cùng Sun Group dàn dựng hoành tráng, ứng dụng hệ thống kỹ xảo âm thanh - ánh sáng tiên tiến, thu hút hơn 300.000 người tham dự (Yên Chi, 2025). Nhờ cách làm này, Thanh Hoá đang hình thành những tổ hợp văn hoá - giải trí hiện đại, vừa bảo tồn giá trị truyền thống vừa đáp ứng thị hiếu giải trí mới, tạo động lực đưa CNVH của tỉnh phát triển trong tương lai.
3. Khai thác tiềm năng trong phát triển các ngành công nghiệp văn hoá tại Thanh Hoá
Hiện nay, Thanh Hoá đã bước đầu khai thác được các tiềm năng phát triển một số sản phẩm CNVH.
Trong lĩnh vực du lịch văn hoá, Thanh Hoá đã tập trung huy động tối đa các nguồn lực để đầu tư phát triển và hoàn thiện hệ thống kết cấu hạ tầng, đồng thời chú trọng công tác bảo tồn, tôn tạo di sản nhằm phục vụ hiệu quả các hoạt động du lịch gắn với yếu tố văn hoá - lịch sử. Hằng năm, Tỉnh tổ chức chuỗi trên 70 sự kiện văn hoá, lễ hội, kết hợp xây dựng các chương trình tham quan kết nối tới những điểm đến tiêu biểu như Khu Di tích lịch sử Lam Kinh, Di tích lịch sử và kiến trúc nghệ thuật quốc gia đặc biệt Bà Triệu, Đền Nưa - Am Tiên, Di sản văn hoá thế giới Thành nhà Hồ… Tỉnh cũng đầu tư nhiều dự án nhằm tu bổ, phục hồi các di tích trọng điểm: Khu di tích Lam Kinh, Khu di tích Phủ Trịnh - Nghè Vẹt, Khu lăng miếu Triệu Tường, Thành nhà Hồ và đền Bà Triệu.
Bên cạnh đó, hiện toàn tỉnh có 83 doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ lữ hành, hơn 1.300 cơ sở lưu trú với khoảng 45.000 phòng, đảm bảo cho du khách trong và ngoài nước lưu trú. Nhiều di tích sau khi được đầu tư đã trở thành điểm du lịch nổi tiếng, thu hút đông đảo khách nội địa và quốc tế. Riêng năm 2024, tỉnh đón 15,3 triệu lượt khách (đạt 110,9% kế hoạch), tổng thu du lịch ước đạt 33.815 tỷ đồng (đạt 104,4% kế hoạch). Trong đó, một số điểm đến ghi nhận lượng khách đáng kể như Sầm Sơn (905.000 lượt), thị xã Nghi Sơn (86.700 lượt), Hải Tiến (89.800 lượt), TP Thanh Hoá (65.600 lượt), khu du lịch Pù Luông (62.500 lượt), Thành nhà Hồ (11.700 lượt), Lam Kinh (9.200 lượt), Bến En (3.400 lượt) và Bản Mạ (3.700 lượt) (Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, 2024). Những con số này cho thấy tiềm năng lớn và sức hấp dẫn ngày càng gia tăng của du lịch văn hoá xứ Thanh, đồng thời khẳng định vai trò then chốt của lĩnh vực này trong phát triển CNVH của tỉnh.
Lĩnh vực điện ảnh, từ năm 2017 đến nay, Trung tâm Văn hoá - Điện ảnh tỉnh đã tổ chức hơn 70 đợt chiếu và tuần phim với khoảng 7.350 buổi, doanh thu đạt khoảng 309,9 triệu đồng, thu hút trung bình 60.000 - 70.000 lượt người xem mỗi năm. Bên cạnh đó, hoạt động chiếu phim thương mại do hai doanh nghiệp là Công ty TNHH Lottecinema Việt Nam và Công ty Beta Media đảm nhiệm, mang lại tổng doanh thu trên 59 tỷ đồng; trong đó, Lottecinema đạt khoảng 32,4 tỷ đồng với 486.994 lượt khán giả, còn Beta Media đạt khoảng 26,7 tỷ đồng với 416.343 lượt khán giả (Văn phòng Tỉnh ủy Thanh Hóa, 2024). Nhìn chung, điện ảnh ở Thanh Hoá đã góp phần đáp ứng nhu cầu hưởng thụ văn hoá của người dân và hoàn thành tốt nhiệm vụ tuyên truyền chính trị - xã hội. Tuy nhiên, quy mô và tính đa dạng của các hoạt động còn hạn chế; phim chiếu chủ yếu phục vụ nhiệm vụ chính trị, trong khi sản phẩm điện ảnh mang tính thương mại và sáng tạo nội dung gắn với di sản, văn hoá địa phương chưa nhiều. Hệ thống rạp chiếu hiện đại mới tập trung ở một số khu vực đô thị, chưa bao phủ rộng khắp, dẫn đến việc tiếp cận điện ảnh của người dân ở vùng sâu, vùng xa còn hạn chế. Điều này đòi hỏi tỉnh cần có chiến lược khai thác điện ảnh như một ngành CNVH đúng nghĩa, kết hợp giữa sản xuất, phát hành và quảng bá, đồng thời gắn với thế mạnh di sản - du lịch để nâng cao giá trị kinh tế và văn hoá.
Về nghệ thuật biểu diễn, sự ra đời của nhà hát Nhà hát Nghệ thuật Lam Sơn với sự kết hợp giữa Ca múa kịch Lam Sơn và nhà hát nghệ thuật truyền thống đã góp phần nâng cao hoạt động biểu điễn nghệ thuật tại Thanh Hoá. Nhiều chương trình ca múa, kịch nói, dân ca - dân vũ hiện đại được dàn dựng, các trích đoạn, vở mới của các loại hình nghệ thuật truyền thống được khôi phục và làm mới, đưa tổng doanh thu từ năm 2017 đến nay đạt khoảng 11,16 tỷ đồng (Văn phòng Tỉnh ủy Thanh Hóa, 2024). Đây là minh chứng cho vai trò then chốt của tỉnh Thanh Hoá trong việc vừa thực hiện nhiệm vụ chính trị, vừa bước đầu khai thác yếu tố thương mại của sản phẩm biểu diễn, thể hiện rõ vai trò gìn giữ bản sắc văn hoá Xứ Thanh.
Về mỹ thuật, nhiếp ảnh và triển lãm, các hoạ sĩ, nghệ sĩ nhiếp ảnh trong tỉnh tích cực tham gia triển lãm mỹ thuật - nhiếp ảnh ở cấp quốc tế, quốc gia, khu vực và địa phương. Nhiều tác phẩm đạt giá trị nghệ thuật cao, được đánh giá tốt và giành giải thưởng uy tín, góp phần quảng bá hình ảnh và văn hoá Thanh Hoá. Các hoạt động triển lãm, hội thi, thực tế sáng tác, giao lưu văn học - nghệ thuật diễn ra sôi nổi, tạo môi trường cho sáng tạo và trao đổi chuyên môn.
Ngoài ra, Quy hoạch quảng cáo ngoài trời đến năm 2020, định hướng đến năm 2030 của tỉnh đã tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động quảng cáo phát triển đúng quy định, góp phần hỗ trợ các ngành CNVH khác trong khâu truyền thông và xúc tiến thương mại.
Mặc dù sở hữu nguồn lực văn hoá phong phú và đã đạt được một số kết quả bước đầu trong khai thác các lĩnh vực như du lịch văn hoá, nghệ thuật biểu diễn, điện ảnh, thủ công mỹ nghệ..., song công nghiệp văn hoá Thanh Hoá vẫn chưa khai thác được hết tiềm năng, bộc lộ nhiều hạn chế cần được khắc phục. Trước hết, nhận thức về CNVH tại một số cấp quản lý và trong cộng đồng sáng tạo còn chưa đầy đủ, dẫn đến thiếu sự định hướng chiến lược và đồng bộ trong quy hoạch phát triển ngành. Cơ cấu sản phẩm còn nghèo nàn, thiếu tính đột phá, sáng tạo và chưa phù hợp với thị hiếu đa dạng của thị trường trong nước và quốc tế. Quy mô sản xuất nhỏ lẻ, chủ yếu phục vụ nhiệm vụ chính trị, xã hội, chưa thực sự tạo ra giá trị gia tăng về kinh tế. Nguồn nhân lực chất lượng cao trong lĩnh vực sáng tạo, thiết kế, truyền thông và quản lý văn hoá còn thiếu cả về số lượng và năng lực chuyên môn. Hệ sinh thái hỗ trợ khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo trong lĩnh vực văn hoá chưa hình thành rõ nét. Các thiết chế văn hoá tuy được đầu tư nhưng chưa khai thác hiệu quả, thiếu liên kết với doanh nghiệp và hoạt động thị trường. Ngoài ra, việc ứng dụng công nghệ số trong sáng tạo, phân phối và tiếp cận công chúng còn hạn chế; thiếu các mô hình kinh doanh văn hoá hiện đại, nền tảng thương mại điện tử chuyên biệt và cơ chế tài chính linh hoạt. Những tồn tại này cho thấy CNVH Thanh Hoá vẫn đang trong giai đoạn đầu phát triển, chưa phát huy được hết tiềm năng, lợi thế, đòi hỏi phải có chính sách, nguồn lực và mô hình vận hành phù hợp hơn trong thời gian tới.
4. Kết luận
Thanh Hoá với bề dày lịch sử, di sản phong phú và cảnh quan đa dạng có tiềm năng lớn để phát triển CNVH. Những năm qua, tỉnh đã đạt kết quả đáng ghi nhận ở nhiều lĩnh vực như du lịch văn hoá, nghệ thuật biểu diễn, điện ảnh, thủ công mỹ nghệ… Tuy nhiên, so với tiềm năng, ngành vẫn còn hạn chế về sản phẩm, tính chuyên nghiệp, ứng dụng công nghệ và sức cạnh tranh. Để trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, Thanh Hoá cần tiếp tục hoàn thiện chính sách, đầu tư hạ tầng, đẩy mạnh chuyển đổi số, xã hội hoá và nâng cao chất lượng nhân lực, qua đó khai thác hiệu quả lợi thế và khẳng định vị thế trên bản đồ văn hoá Việt Nam./.
ThS. Bùi Thị Hậu
Đại học Văn hóa, Thể thao và Du lịch Thanh Hóa
----------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------
Tài liệu tham khảo
• Mai Phương, Linh Sơn. (2025, 01 tháng 01). Năm 2024, du lịch Thanh hóa được nâng tầm với nhiều sản phẩm mới. Báo và Đài phát thanh Truyền hình Thanh hóa. https://truyenhinhthanhhoa.vn/nam-2024-du-lich-thanh-hoa-duoc-nang-tam-voi-nhieu-san-pham-moi-18025010121225246.htm
• Yên Chi (2025, 21 tháng 4), Sầm Sơn khai màn du lịch hè bằng lễ hội biển. Báo điện tử Vnexpress. https://vnexpress.net/sam-son-khai-man-du-lich-he-bang-le-hoi-bien-4876025.html
• Nguyễn Linh. (2023, 18 tháng 11). Thanh hóa: Bảo tồn phát huy giá trị di sản văn hóa góp phần phát triển kinh tế xã hội. Báo Văn hóa điện tử. https://baovanhoa.vn/van-hoa/thanh-hoa-bao-ton-phat-huy-gia-tri-di-san-van-hoa-gop-phan-phat-trien-ktxh-54359.html
• Mai Luận. (2024, 5 tháng 12). Công nghệ thúc đẩy phát triển kinh tế số ở Thanh Hóa. Báo Nhân dân điện tử. https://nhandan.vn/cong-nghe-thuc-day-trien-kinh-te-so-o-thanh-hoa-post848729.html
• Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Thanh Hóa (2024, 24 tháng 12). Kết quả công tác phát triển du lịch Thanh Hóa năm 2024, bài học kinh nghiệm và phương hướng trong năm 2025. Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật điện tử. http://www.vanhoanghethuat.vn/ket-qua-cong-tac-phat-trien-du-lich-thanh-hoa-nam-2024-bai-hoc-kinh-nghiem-va-phuong-huong-trong-nam-2025.htm
• Thủ tướng Chính phủ. (2016). Quyết định số 1755/QĐ-TTg ngày 08 tháng 9 năm 2016 phê duyệt Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030.
• Lê Thị Bích Thủy. (2023). Giáo trình Phát triển công nghiệp văn hóa. Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội.
• Ủy ban nhân dân tỉnh Thanh Hóa. (2017). Kế hoạch số 169/KH-UBND ngày 29/9/2017 về thực hiện Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa.
• Văn phòng Tỉnh ủy Thanh Hóa. (2023, 31 tháng 8). Thực trạng phát triển làng nghề trên địa bàn tỉnh. Cổng Thông tin điện tử Tỉnh ủy Thanh Hóa. https://thanhhoa.dcs.vn/tinhuy/pages/2023-8-31/Thuc-trang-phat-trien-lang-nghe-tren-dia-ban-tinh78bbc9dwew6y.aspx
• Văn phòng Tỉnh ủy Thanh Hóa. (2024, 12 tháng 1). Thực trạng phát triển các ngành công nghiệp văn hóa trên địa bàn tỉnh. Cổng Thông tin điện tử Tỉnh ủy Thanh Hóa. https://thanhhoa.dcs.vn/tinhuy/pages/2024-1-12/Thuc-trang-phat-trien-cac-nganh-cong-nghiep-van-ho8678wyrp2hpw.aspx
• Yên Chi (2025, 21 tháng 4), Sầm Sơn khai màn du lịch hè bằng lễ hội biển. Báo điện tử Vnexpress. https://vnexpress.net/sam-son-khai-man-du-lich-he-bang-le-hoi-bien-4876025.html
• Nguyễn Linh. (2023, 18 tháng 11). Thanh hóa: Bảo tồn phát huy giá trị di sản văn hóa góp phần phát triển kinh tế xã hội. Báo Văn hóa điện tử. https://baovanhoa.vn/van-hoa/thanh-hoa-bao-ton-phat-huy-gia-tri-di-san-van-hoa-gop-phan-phat-trien-ktxh-54359.html
• Mai Luận. (2024, 5 tháng 12). Công nghệ thúc đẩy phát triển kinh tế số ở Thanh Hóa. Báo Nhân dân điện tử. https://nhandan.vn/cong-nghe-thuc-day-trien-kinh-te-so-o-thanh-hoa-post848729.html
• Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Thanh Hóa (2024, 24 tháng 12). Kết quả công tác phát triển du lịch Thanh Hóa năm 2024, bài học kinh nghiệm và phương hướng trong năm 2025. Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật điện tử. http://www.vanhoanghethuat.vn/ket-qua-cong-tac-phat-trien-du-lich-thanh-hoa-nam-2024-bai-hoc-kinh-nghiem-va-phuong-huong-trong-nam-2025.htm
• Thủ tướng Chính phủ. (2016). Quyết định số 1755/QĐ-TTg ngày 08 tháng 9 năm 2016 phê duyệt Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030.
• Lê Thị Bích Thủy. (2023). Giáo trình Phát triển công nghiệp văn hóa. Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội.
• Ủy ban nhân dân tỉnh Thanh Hóa. (2017). Kế hoạch số 169/KH-UBND ngày 29/9/2017 về thực hiện Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa.
• Văn phòng Tỉnh ủy Thanh Hóa. (2023, 31 tháng 8). Thực trạng phát triển làng nghề trên địa bàn tỉnh. Cổng Thông tin điện tử Tỉnh ủy Thanh Hóa. https://thanhhoa.dcs.vn/tinhuy/pages/2023-8-31/Thuc-trang-phat-trien-lang-nghe-tren-dia-ban-tinh78bbc9dwew6y.aspx
• Văn phòng Tỉnh ủy Thanh Hóa. (2024, 12 tháng 1). Thực trạng phát triển các ngành công nghiệp văn hóa trên địa bàn tỉnh. Cổng Thông tin điện tử Tỉnh ủy Thanh Hóa. https://thanhhoa.dcs.vn/tinhuy/pages/2024-1-12/Thuc-trang-phat-trien-cac-nganh-cong-nghiep-van-ho8678wyrp2hpw.aspx