1. Thành tựu nổi bật của Văn nghệ dân gian tỉnh Quảng Ninh trong 50 năm qua
Quảng Ninh, mảnh đất địa đầu Tổ quốc, không chỉ nổi tiếng với Vịnh Hạ Long kỳ vĩ mà còn là nơi lưu giữ những giá trị văn hóa nghệ thuật dân gian đặc sắc, phong phú. Trên địa bàn tỉnh có nhiều dân tộc cùng sinh sống như Kinh, Dao, Tày, Sán Dìu, Sán Chỉ, Hoa…, mỗi tộc người đều mang trong mình kho tàng văn hóa dân gian vô cùng phong phú, độc đáo. Hiện Quảng Ninh có 640 di sản văn hóa vật thể (đình, chùa, đền, miếu, danh lam thắng cảnh...); 362 di sản văn hóa phi vật thể (lễ hội, phong tục, tập quán, trò chơi dân gian...) được kiểm kê(1). Trong đó, nhiều loại hình Văn nghệ dân gian ở Quảng Ninh đã được ghi danh là di sản hóa phi vật thể quốc gia. Có thể kể đến như: Thực hành Then của người Tày; Lễ hội đền Cửa Ông; Lễ hội Tiên Công; Lễ hội đình Trà Cổ; Lễ hội đình Quan Lạn; Lễ hội Bạch Đằng; Nghệ thuật trình diễn dân gian hát Soóng Cọ của người Sán Chỉ; Nghệ thuật trình diễn dân gian hát Soọng Cô của người Sán Dìu; Hát Nhà Tơ (Hát Cửa Đình); Lễ hội đình Đầm Hà; Lễ hội đình Vạn Ninh; Lễ hội Xuống đồng; Tục Kiêng gió của người Dao xã Đồng Văn, huyện Bình Liêu; Lễ Cấp sắc người Dao Thanh Y, Lễ mừng cơm mới của người Tày. Trong đó Di sản thực hành Then của người Tày ở huyện Bình Liêu cùng với Di sản thực hành Then của người Tày ở các địa phương khác của Việt Nam đã được ghi danh là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại.
Công tác bảo tồn đã đạt nhiều kết quả đáng ghi nhận
Kể từ khi Luật Di sản văn hóa được ban hành, công tác bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể được cụ thể hóa hơn với hàng loạt đề tài được thực hiện. Riêng về lễ hội có các dự án bảo tồn như: Lễ hội đình Lục Nà, Lễ hội Quan Lạn, Lễ hội Trà Cổ, Lễ hội đình Vạn Ninh, Lễ hội Tiên Công, Lễ hội Xuống đồng…Về diễn xướng dân gian, có hát giao duyên của dân chài vùng biển tỉnh Quảng Ninh, bảo tồn và phát huy một số sinh hoạt văn hóa dân gian của ngư dân làng chài Cửa Vạn, tục hát Soóng Cọ của người Sán Chỉ, hát Soọng Cô của người Sán Dìu…
Bên cạnh đó, nhiều chương trình bảo tồn văn nghệ dân gian trên địa bàn tỉnh đã được thực hiện và đem lại kết quả tốt. Đã tích cực nghiên cứu sưu tầm, bảo tồn và phát huy giá trị một số di sản văn hóa phi vật thể như: Hát nhà tơ - hát múa cửa đình, biên tập bộ sách Di sản Hán Nôm tỉnh Quảng Ninh gồm 3 tập, bộ sách Địa danh Quảng Ninh xưa và nay, phục dựng Lễ cầu mùa dân tộc Sán Chỉ (xã Đại Dực, huyện Tiên Yên), phục dựng Lễ hội đình Tràng Y (Đầm Hà), Lễ hội đình Lộ Phong ở Hạ Long. Có thể thấy, Hạ Long, Ba Chẽ, Bình Liêu, Tiên Yên, Móng Cái là những địa phương thời gian qua khá quan tâm đến bảo tồn các giá trị văn hóa phi vật thể, trong đó trọng tâm chú ý là việc xây dựng các làng văn hóa.
Văn nghệ dân gian tỉnh Quảng Ninh đóng góp vào nền Văn học dân gian
Văn nghệ dân gian tỉnh Quảng Ninh có đóng góp vô cùng quan trọng và đa dạng vào nền văn học dân gian Việt Nam, thể hiện qua nhiều khía cạnh như:
- Bảo tồn và phát huy các thể loại văn học dân gian truyền thống:
Truyện kể dân gian: Quảng Ninh là vùng đất giàu truyền thống lịch sử và văn hóa, với nhiều huyền thoại, cổ tích, truyện trạng, truyện cười đặc sắc liên quan đến vùng đất, con người và các sự kiện lịch sử địa phương. Ví dụ: các truyền thuyết dân gian về Vịnh Hạ Long, Bà bán hàng nước bên sông Bạch Đằng, Nguồn gốc người Trà Cổ, Sự tích cây tre mọc ngược ở huyện Bình Liêu...
Ca dao, tục ngữ, vè: Những câu ca dao, tục ngữ, vè ở Quảng Ninh mang đậm dấu ấn của cuộc sống lao động, sinh hoạt văn hóa, phong tục tập quán của người dân vùng biển và vùng mỏ. Tiêu biểu nhất là Ca dao Vùng Mỏ - Một kiệt tác về văn học dân gian rất đặc sắc và độc đáo chỉ riêng có ở khu mỏ Quảng Ninh mà không địa phương nào ở Việt Nam có được.
Hát dân ca: Quảng Ninh có nhiều làn điệu dân ca đặc sắc như hát đúm (Quảng Yên), hát nhà tơ - hát múa cửa đình (Móng Cái, Đầm Hà, Hải Hà, Vân Đồn), hát giao duyên của dân chài vùng biển, hát Soọng Cô, Soóng Cọ (vùng đồng bào dân tộc thiểu số). Những làn điệu này không chỉ là hình thức giải trí mà còn chứa đựng giá trị văn hóa, lịch sử và nghệ thuật cao.
Các loại hình diễn xướng dân gian: Các lễ hội truyền thống ở Quảng Ninh thường gắn liền với các hình thức diễn xướng dân gian phong phú như chèo, múa nghi lễ, các trò chơi dân gian, góp phần làm phong phú thêm bức tranh văn hóa dân gian cả nước.
- Công tác sưu tầm, biên tập, xuất bản sách: Đã xuất bản 15 đầu sách về văn học dân gian các dân tộc. Tiêu biểu là truyền thuyết về Vịnh Hạ Long, Bái Tử Long gắn liền với lịch sử chống giặc ngoại xâm của dân tộc Việt Nam.
- Công tác truyền dạy và trình diễn: Hội Văn nghệ dân gian tỉnh phối hợp với các địa phương mở được 21 lớp do các Nghệ nhân truyền dạy cho hơn 2.500 người về các nội dung: hát, múa cửa đình; hát dân ca chèo cổ; hát Đúm; hát Then - đàn Tính 2 dây; May, thêu trang phục dân tộc Dao và các loại hình văn hóa dân gian khác, góp phần gìn giữ văn hóa truyền thống các dân tộc trên địa bàn toàn tỉnh.
Như vậy, văn nghệ dân gian tỉnh Quảng Ninh không chỉ là một bộ phận cấu thành quan trọng mà còn là một nguồn tài nguyên phong phú, độc đáo, đóng góp thiết thực vào sự đa dạng và giàu có của nền văn học dân gian Việt Nam. Nó phản ánh một cách chân thực và sinh động đời sống vật chất, tinh thần, lịch sử và văn hóa của người dân vùng đất này - nơi địa đầu phía Đông Bắc của Tổ quốc.
Công tác đào tạo và phát triển nghệ thuật biểu diễn, nghề truyền thống dân gian
Hội Văn nghệ Dân gian tỉnh Quảng Ninh (thành lập năm 2008, trên cơ sở Chi hội Văn nghệ dân gian Việt Nam tại Quảng Ninh thành lập năm 2000) đến nay đã phát triển trên 300 hội viên, đóng vai trò quan trọng trong việc tập hợp, nghiên cứu, bảo tồn và phát triển văn nghệ dân gian. 50 năm qua là một quá trình lâu dài với nhiều nỗ lực và thành tựu đáng ghi nhận. Giai đoạn đầu sau giải phóng (1975 - 1986), nhiệm vụ chính của Hội là ưu tiên phục hồi và củng cố các đội văn nghệ quần chúng, khơi dậy tinh thần yêu nước và cách mạng. Chú trọng truyền dạy các làn điệu, hình thức văn nghệ truyền thống cơ bản. Đội ngũ cán bộ văn hóa và nghệ nhân chủ yếu dựa vào kinh nghiệm và sự truyền thụ trực tiếp. Giai đoạn đổi mới và hội nhập (1986 đến nay), nhận thức rõ vai trò của văn nghệ dân gian trong bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, phát triển du lịch, Hội đã chú trọng mở rộng các hình thức đào tạo như: Truyền dạy trực tiếp từ nghệ nhân, mở các lớp tập huấn, bồi dưỡng, đưa văn nghệ dân gian vào trường học, hỗ trợ các câu lạc bộ, đội nhóm...
Qua quá trình hoạt động, Quảng Ninh là một trong những tỉnh có nhiều nghệ nhân dân gian tiêu biểu, đóng góp quan trọng vào việc bảo tồn, truyền dạy và phát huy các giá trị văn hóa phi vật thể. Tính đến thời điểm này, tỉnh đã có 76 nghệ nhân được phong tặng danh hiệu Nghệ nhân dân gian Việt Nam, trong đó có 2 nghệ nhân được phong tặng danh hiệu Nghệ nhân Nhân dân là: Nghệ nhân Nhân dân Đặng Thị Tự (xã Đầm Hà), người lưu giữ hàng trăm làn điệu hát Cửa đình và Nghệ nhân Nhân dân Lê Đức Chắn (phường Phong Hải), người duy nhất ở Quảng Ninh nắm giữ kỹ thuật đóng thuyền vỏ gỗ buồm cánh dơi chạy ngược nước; 36 Nghệ nhân được phong tặng danh hiệu Nghệ nhân Ưu tú(2). Tiêu biểu như: Nghệ nhân Ưu tú Lương Thiêm Phú (xã Tình Húc, Bình Liêu), chuyên sáng tác và truyền dạy hát Then, kỹ thuật làm đàn tính; Nghệ nhân Ưu tú Hoàng Thiêm Thành (xã Lục Hồn, Bình Liêu), nghệ nhân Then cổ, gìn giữ nghi lễ truyền thống; Nghệ nhân Ưu tú Phạm Thị Thanh Quyết (phường Phong Hải, thị xã Quảng Yên), người dành hơn 20 năm sưu tầm, truyền dạy và xuất bản sách về hát Đúm, bà đã sưu tầm và xuất bản cuốn sách “Hát Đúm Hà Nam - Yên Hưng” với hơn 2.000 bài hát cổ; Nghệ nhân Ưu tú Ngô Đăng Nhuận (92 tuổi, phường Phong Hải, thị xã Quảng Yên), người có hơn 40 năm gắn bó với hát Đúm, từng tham gia nhiều hội diễn toàn quốc… Các nghệ nhân dân gian Quảng Ninh không chỉ là những “báu vật nhân văn sống” mà còn là cầu nối quan trọng giữa quá khứ và hiện tại, giúp thế hệ trẻ hiểu và trân quý giá trị văn hóa truyền thống.
Trong những năm qua, văn nghệ dân gian tỉnh Quảng Ninh đã có những bước phát triển vượt bậc, góp phần quan trọng vào việc bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc. Nhiều giá trị văn hóa phi vật thể được nhận diện, nghiên cứu, bảo tồn và phát huy, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa tinh thần của người dân và thu hút du khách. Vai trò và giá trị của văn nghệ dân gian ngày càng được các cấp chính quyền và cộng đồng nhận thức rõ hơn. Công tác xây dựng được đội ngũ văn nghệ sĩ, nghệ nhân kế cận mặc dù còn nhiều khó khăn, nhưng đã có nhiều nỗ lực trong việc đào tạo và phát triển đội ngũ kế cận, đảm bảo sự tiếp nối của các loại hình văn nghệ truyền thống. Văn nghệ dân gian trở thành một sản phẩm du lịch độc đáo, thu hút du khách đến với Quảng Ninh.
Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đạt được, văn nghệ dân gian tỉnh Quảng Ninh vẫn còn những hạn chế, cả do nguyên nhân chủ quan và khách quan. Có thể kể đến như, nhiều loại hình văn học nghệ thuật có nguy cơ mai một do thiếu nghệ nhân kế cận, do thiếu kinh phí bảo tồn, thiếu không gian trình diễn chuyên nghiệp; Công tác khai thác, phát huy trong phát triển du lịch chưa hiệu quả thiếu sự kết nối giữa các địa phương; Công tác nghiên cứu còn manh mún; Công tác quản lý và định hướng phát triển còn nhiều bất cập; Đội ngũ nghệ nhân ngày càng cao tuổi, trong khi chưa có đội ngủ trẻ kế cận tương xứng; Đời sống của nhiều nghệ nhân còn khó khăn, chưa có chính sách đãi ngộ xứng đáng để họ yên tâm truyền nghề... Là những khó khăn, bất cập rất cần nhận được sự quan tâm của các cấp lãnh đạo và toàn xã hội.
2. Giải pháp và định hướng phát triển văn nghệ dân gian tỉnh Quảng Ninh trong thời gian tới
2.1. Tăng cường công tác bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống
Tiếp tục sưu tầm, nghiên cứu, phục dựng và bảo tồn các loại hình nghệ thuật dân gian truyền thống. Xây dựng các chương trình đào tạo bài bản, chuyên nghiệp, mở trường lớp truyền nghề, chú trọng cả lý thuyết và thực hành.
Xây dựng các thiết chế văn hóa, tạo không gian cho các hoạt động văn nghệ dân gian.
Xây dựng chính sách đặc thù. Ban hành Nghị quyết chuyên đề về bảo vệ di sản. Thành lập Quỹ bảo tồn văn nghệ dân gian. Thành lập Quỹ Bảo trợ Nghệ nhân dân gian để hỗ trợ nghệ nhân.
2.2. Đổi mới và sáng tạo trong phát triển văn nghệ dân gian
Khuyến khích các nghệ sĩ trẻ sáng tạo ra những sản phẩm văn hóa mới, kết hợp giữa truyền thống và hiện đại.
Có chính sách đãi ngộ, tôn vinh xứng đáng đối với các nghệ nhân, văn nghệ sĩ có đóng góp (hỗ trợ kinh phí cho nghệ nhân).
Đẩy mạnh số hóa di sản, ứng dụng công nghệ 3D trong lưu trữ, số hóa tư liệu. Xây dựng kho dữ liệu điện tử về văn nghệ dân gian Quảng Ninh, bao gồm video, audio, hình ảnh các buổi diễn xướng. Ứng dụng công nghệ thông tin vào việc quảng bá và giới thiệu văn nghệ dân gian.
Tổ chức các cuộc thi, liên hoan nghệ thuật dân gian để lan tỏa giá trị và tạo động lực cho sự phát triển của văn nghệ dân gian.
2.3. Gắn kết văn nghệ dân gian với phát triển du lịch bền vững
Phát triển du lịch văn hóa: Xây dựng các sản phẩm du lịch văn hóa độc đáo, gắn liền với văn nghệ dân gian.
Tổ chức các sự kiện văn hóa nghệ thuật dân gian quy mô lớn, thu hút du khách trong và ngoài nước. Xây dựng tour “Con đường di sản”.
Tổ chức đêm diễn dân gian tại các điểm du lịch Tour trải nghiệm: Kết hợp tham quan di tích với thưởng thức nghệ thuật dân gian (hát dân ca trên thuyền ở vịnh Hạ Long, hoặc múa Lân ở phố cổ Móng Cái...).
Xây dựng không gian tái hiện đời sống các dân tộc tại Bình Liêu, Ba Chẽ.
Tăng cường quảng bá: Xây dựng thương hiệu “Quảng Ninh - Điểm đến văn hóa”. Sản xuất phim tài liệu, chương trình truyền hình thực tế giới thiệu nghệ nhân và di sản.
Đẩy mạnh xã hội hóa công tác bảo tồn và phát huy văn nghệ dân gian, khuyến khích sự tham gia của cộng đồng.
Nâng cao chất lượng dịch vụ du lịch văn hóa, đảm bảo tính chuyên nghiệp và bền vững.
2.4. Tăng cường sự phối hợp giữa các cấp, các ngành
Tăng cường sự phối hợp giữa các cơ quan quản lý nhà nước, các tổ chức văn hóa nghệ thuật, các doanh nghiệp du lịch và cộng đồng dân cư.
Xây dựng cơ chế phối hợp hiệu quả để thực hiện các mục tiêu phát triển văn nghệ dân gian.
Tăng cường quảng bá văn nghệ dân gian trên các nền tảng mạng xã hội.
Đưa vào giáo dục và truyền thông, đưa các làn điệu dân ca, truyện cổ vào chương trình ngoại khóa trường học. Biên soạn giáo trình địa phương. Định hướng lâu dài phát triển Văn nghệ dân gian.
Xây dựng Quảng Ninh thành trung tâm văn hóa dân gian khu vực. Phấn đấu có thêm 2-3 di sản được UNESCO công nhận.
Xây dựng các chương trình trọng điểm như “Mỗi làng một sản phẩm văn hóa”, “Bảo tàng số về văn nghệ dân gian”, “Trường học di sản”...
Mở rộng hợp tác quốc tế, giao lưu văn hóa với các tỉnh có di sản Then (Lạng Sơn, Cao Bằng) và quốc tế (Trung Quốc, Lào, Thái Lan)... Tham gia các liên hoan nghệ thuật dân gian khu vực và thế giới.
Kết luận:
Văn nghệ dân gian Quảng Ninh đã khẳng định vị thế là “báu vật” văn hóa của địa phương. Những tác phẩm, nghệ nhân, loại hình và lễ hội tiêu biểu đã góp phần làm nên diện mạo đa sắc màu của văn học nghệ thuật tỉnh nhà. Trong giai đoạn mới, việc kết hợp giữa bảo tồn và phát triển, giữa truyền thống và hiện đại sẽ là chìa khóa để văn nghệ dân gian Quảng Ninh tiếp tục tỏa sáng. Để phát huy những giá trị quý báu này, cần có sự chung tay của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội. Với quyết tâm và những giải pháp đồng bộ, chúng ta hoàn toàn có thể xây dựng Quảng Ninh thành điểm sáng về bảo tồn và phát huy giá trị văn nghệ dân gian trong khu vực và cả nước, góp phần xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc./.
Quảng Ninh, mảnh đất địa đầu Tổ quốc, không chỉ nổi tiếng với Vịnh Hạ Long kỳ vĩ mà còn là nơi lưu giữ những giá trị văn hóa nghệ thuật dân gian đặc sắc, phong phú. Trên địa bàn tỉnh có nhiều dân tộc cùng sinh sống như Kinh, Dao, Tày, Sán Dìu, Sán Chỉ, Hoa…, mỗi tộc người đều mang trong mình kho tàng văn hóa dân gian vô cùng phong phú, độc đáo. Hiện Quảng Ninh có 640 di sản văn hóa vật thể (đình, chùa, đền, miếu, danh lam thắng cảnh...); 362 di sản văn hóa phi vật thể (lễ hội, phong tục, tập quán, trò chơi dân gian...) được kiểm kê(1). Trong đó, nhiều loại hình Văn nghệ dân gian ở Quảng Ninh đã được ghi danh là di sản hóa phi vật thể quốc gia. Có thể kể đến như: Thực hành Then của người Tày; Lễ hội đền Cửa Ông; Lễ hội Tiên Công; Lễ hội đình Trà Cổ; Lễ hội đình Quan Lạn; Lễ hội Bạch Đằng; Nghệ thuật trình diễn dân gian hát Soóng Cọ của người Sán Chỉ; Nghệ thuật trình diễn dân gian hát Soọng Cô của người Sán Dìu; Hát Nhà Tơ (Hát Cửa Đình); Lễ hội đình Đầm Hà; Lễ hội đình Vạn Ninh; Lễ hội Xuống đồng; Tục Kiêng gió của người Dao xã Đồng Văn, huyện Bình Liêu; Lễ Cấp sắc người Dao Thanh Y, Lễ mừng cơm mới của người Tày. Trong đó Di sản thực hành Then của người Tày ở huyện Bình Liêu cùng với Di sản thực hành Then của người Tày ở các địa phương khác của Việt Nam đã được ghi danh là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại.
Công tác bảo tồn đã đạt nhiều kết quả đáng ghi nhận
Kể từ khi Luật Di sản văn hóa được ban hành, công tác bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể được cụ thể hóa hơn với hàng loạt đề tài được thực hiện. Riêng về lễ hội có các dự án bảo tồn như: Lễ hội đình Lục Nà, Lễ hội Quan Lạn, Lễ hội Trà Cổ, Lễ hội đình Vạn Ninh, Lễ hội Tiên Công, Lễ hội Xuống đồng…Về diễn xướng dân gian, có hát giao duyên của dân chài vùng biển tỉnh Quảng Ninh, bảo tồn và phát huy một số sinh hoạt văn hóa dân gian của ngư dân làng chài Cửa Vạn, tục hát Soóng Cọ của người Sán Chỉ, hát Soọng Cô của người Sán Dìu…
Bên cạnh đó, nhiều chương trình bảo tồn văn nghệ dân gian trên địa bàn tỉnh đã được thực hiện và đem lại kết quả tốt. Đã tích cực nghiên cứu sưu tầm, bảo tồn và phát huy giá trị một số di sản văn hóa phi vật thể như: Hát nhà tơ - hát múa cửa đình, biên tập bộ sách Di sản Hán Nôm tỉnh Quảng Ninh gồm 3 tập, bộ sách Địa danh Quảng Ninh xưa và nay, phục dựng Lễ cầu mùa dân tộc Sán Chỉ (xã Đại Dực, huyện Tiên Yên), phục dựng Lễ hội đình Tràng Y (Đầm Hà), Lễ hội đình Lộ Phong ở Hạ Long. Có thể thấy, Hạ Long, Ba Chẽ, Bình Liêu, Tiên Yên, Móng Cái là những địa phương thời gian qua khá quan tâm đến bảo tồn các giá trị văn hóa phi vật thể, trong đó trọng tâm chú ý là việc xây dựng các làng văn hóa.
Văn nghệ dân gian tỉnh Quảng Ninh đóng góp vào nền Văn học dân gian
Văn nghệ dân gian tỉnh Quảng Ninh có đóng góp vô cùng quan trọng và đa dạng vào nền văn học dân gian Việt Nam, thể hiện qua nhiều khía cạnh như:
- Bảo tồn và phát huy các thể loại văn học dân gian truyền thống:
Truyện kể dân gian: Quảng Ninh là vùng đất giàu truyền thống lịch sử và văn hóa, với nhiều huyền thoại, cổ tích, truyện trạng, truyện cười đặc sắc liên quan đến vùng đất, con người và các sự kiện lịch sử địa phương. Ví dụ: các truyền thuyết dân gian về Vịnh Hạ Long, Bà bán hàng nước bên sông Bạch Đằng, Nguồn gốc người Trà Cổ, Sự tích cây tre mọc ngược ở huyện Bình Liêu...
Ca dao, tục ngữ, vè: Những câu ca dao, tục ngữ, vè ở Quảng Ninh mang đậm dấu ấn của cuộc sống lao động, sinh hoạt văn hóa, phong tục tập quán của người dân vùng biển và vùng mỏ. Tiêu biểu nhất là Ca dao Vùng Mỏ - Một kiệt tác về văn học dân gian rất đặc sắc và độc đáo chỉ riêng có ở khu mỏ Quảng Ninh mà không địa phương nào ở Việt Nam có được.
Hát dân ca: Quảng Ninh có nhiều làn điệu dân ca đặc sắc như hát đúm (Quảng Yên), hát nhà tơ - hát múa cửa đình (Móng Cái, Đầm Hà, Hải Hà, Vân Đồn), hát giao duyên của dân chài vùng biển, hát Soọng Cô, Soóng Cọ (vùng đồng bào dân tộc thiểu số). Những làn điệu này không chỉ là hình thức giải trí mà còn chứa đựng giá trị văn hóa, lịch sử và nghệ thuật cao.
Các loại hình diễn xướng dân gian: Các lễ hội truyền thống ở Quảng Ninh thường gắn liền với các hình thức diễn xướng dân gian phong phú như chèo, múa nghi lễ, các trò chơi dân gian, góp phần làm phong phú thêm bức tranh văn hóa dân gian cả nước.
- Công tác sưu tầm, biên tập, xuất bản sách: Đã xuất bản 15 đầu sách về văn học dân gian các dân tộc. Tiêu biểu là truyền thuyết về Vịnh Hạ Long, Bái Tử Long gắn liền với lịch sử chống giặc ngoại xâm của dân tộc Việt Nam.
- Công tác truyền dạy và trình diễn: Hội Văn nghệ dân gian tỉnh phối hợp với các địa phương mở được 21 lớp do các Nghệ nhân truyền dạy cho hơn 2.500 người về các nội dung: hát, múa cửa đình; hát dân ca chèo cổ; hát Đúm; hát Then - đàn Tính 2 dây; May, thêu trang phục dân tộc Dao và các loại hình văn hóa dân gian khác, góp phần gìn giữ văn hóa truyền thống các dân tộc trên địa bàn toàn tỉnh.
Như vậy, văn nghệ dân gian tỉnh Quảng Ninh không chỉ là một bộ phận cấu thành quan trọng mà còn là một nguồn tài nguyên phong phú, độc đáo, đóng góp thiết thực vào sự đa dạng và giàu có của nền văn học dân gian Việt Nam. Nó phản ánh một cách chân thực và sinh động đời sống vật chất, tinh thần, lịch sử và văn hóa của người dân vùng đất này - nơi địa đầu phía Đông Bắc của Tổ quốc.
Công tác đào tạo và phát triển nghệ thuật biểu diễn, nghề truyền thống dân gian
Hội Văn nghệ Dân gian tỉnh Quảng Ninh (thành lập năm 2008, trên cơ sở Chi hội Văn nghệ dân gian Việt Nam tại Quảng Ninh thành lập năm 2000) đến nay đã phát triển trên 300 hội viên, đóng vai trò quan trọng trong việc tập hợp, nghiên cứu, bảo tồn và phát triển văn nghệ dân gian. 50 năm qua là một quá trình lâu dài với nhiều nỗ lực và thành tựu đáng ghi nhận. Giai đoạn đầu sau giải phóng (1975 - 1986), nhiệm vụ chính của Hội là ưu tiên phục hồi và củng cố các đội văn nghệ quần chúng, khơi dậy tinh thần yêu nước và cách mạng. Chú trọng truyền dạy các làn điệu, hình thức văn nghệ truyền thống cơ bản. Đội ngũ cán bộ văn hóa và nghệ nhân chủ yếu dựa vào kinh nghiệm và sự truyền thụ trực tiếp. Giai đoạn đổi mới và hội nhập (1986 đến nay), nhận thức rõ vai trò của văn nghệ dân gian trong bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, phát triển du lịch, Hội đã chú trọng mở rộng các hình thức đào tạo như: Truyền dạy trực tiếp từ nghệ nhân, mở các lớp tập huấn, bồi dưỡng, đưa văn nghệ dân gian vào trường học, hỗ trợ các câu lạc bộ, đội nhóm...
Qua quá trình hoạt động, Quảng Ninh là một trong những tỉnh có nhiều nghệ nhân dân gian tiêu biểu, đóng góp quan trọng vào việc bảo tồn, truyền dạy và phát huy các giá trị văn hóa phi vật thể. Tính đến thời điểm này, tỉnh đã có 76 nghệ nhân được phong tặng danh hiệu Nghệ nhân dân gian Việt Nam, trong đó có 2 nghệ nhân được phong tặng danh hiệu Nghệ nhân Nhân dân là: Nghệ nhân Nhân dân Đặng Thị Tự (xã Đầm Hà), người lưu giữ hàng trăm làn điệu hát Cửa đình và Nghệ nhân Nhân dân Lê Đức Chắn (phường Phong Hải), người duy nhất ở Quảng Ninh nắm giữ kỹ thuật đóng thuyền vỏ gỗ buồm cánh dơi chạy ngược nước; 36 Nghệ nhân được phong tặng danh hiệu Nghệ nhân Ưu tú(2). Tiêu biểu như: Nghệ nhân Ưu tú Lương Thiêm Phú (xã Tình Húc, Bình Liêu), chuyên sáng tác và truyền dạy hát Then, kỹ thuật làm đàn tính; Nghệ nhân Ưu tú Hoàng Thiêm Thành (xã Lục Hồn, Bình Liêu), nghệ nhân Then cổ, gìn giữ nghi lễ truyền thống; Nghệ nhân Ưu tú Phạm Thị Thanh Quyết (phường Phong Hải, thị xã Quảng Yên), người dành hơn 20 năm sưu tầm, truyền dạy và xuất bản sách về hát Đúm, bà đã sưu tầm và xuất bản cuốn sách “Hát Đúm Hà Nam - Yên Hưng” với hơn 2.000 bài hát cổ; Nghệ nhân Ưu tú Ngô Đăng Nhuận (92 tuổi, phường Phong Hải, thị xã Quảng Yên), người có hơn 40 năm gắn bó với hát Đúm, từng tham gia nhiều hội diễn toàn quốc… Các nghệ nhân dân gian Quảng Ninh không chỉ là những “báu vật nhân văn sống” mà còn là cầu nối quan trọng giữa quá khứ và hiện tại, giúp thế hệ trẻ hiểu và trân quý giá trị văn hóa truyền thống.
Trong những năm qua, văn nghệ dân gian tỉnh Quảng Ninh đã có những bước phát triển vượt bậc, góp phần quan trọng vào việc bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc. Nhiều giá trị văn hóa phi vật thể được nhận diện, nghiên cứu, bảo tồn và phát huy, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa tinh thần của người dân và thu hút du khách. Vai trò và giá trị của văn nghệ dân gian ngày càng được các cấp chính quyền và cộng đồng nhận thức rõ hơn. Công tác xây dựng được đội ngũ văn nghệ sĩ, nghệ nhân kế cận mặc dù còn nhiều khó khăn, nhưng đã có nhiều nỗ lực trong việc đào tạo và phát triển đội ngũ kế cận, đảm bảo sự tiếp nối của các loại hình văn nghệ truyền thống. Văn nghệ dân gian trở thành một sản phẩm du lịch độc đáo, thu hút du khách đến với Quảng Ninh.
Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đạt được, văn nghệ dân gian tỉnh Quảng Ninh vẫn còn những hạn chế, cả do nguyên nhân chủ quan và khách quan. Có thể kể đến như, nhiều loại hình văn học nghệ thuật có nguy cơ mai một do thiếu nghệ nhân kế cận, do thiếu kinh phí bảo tồn, thiếu không gian trình diễn chuyên nghiệp; Công tác khai thác, phát huy trong phát triển du lịch chưa hiệu quả thiếu sự kết nối giữa các địa phương; Công tác nghiên cứu còn manh mún; Công tác quản lý và định hướng phát triển còn nhiều bất cập; Đội ngũ nghệ nhân ngày càng cao tuổi, trong khi chưa có đội ngủ trẻ kế cận tương xứng; Đời sống của nhiều nghệ nhân còn khó khăn, chưa có chính sách đãi ngộ xứng đáng để họ yên tâm truyền nghề... Là những khó khăn, bất cập rất cần nhận được sự quan tâm của các cấp lãnh đạo và toàn xã hội.
2. Giải pháp và định hướng phát triển văn nghệ dân gian tỉnh Quảng Ninh trong thời gian tới
2.1. Tăng cường công tác bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống
Tiếp tục sưu tầm, nghiên cứu, phục dựng và bảo tồn các loại hình nghệ thuật dân gian truyền thống. Xây dựng các chương trình đào tạo bài bản, chuyên nghiệp, mở trường lớp truyền nghề, chú trọng cả lý thuyết và thực hành.
Xây dựng các thiết chế văn hóa, tạo không gian cho các hoạt động văn nghệ dân gian.
Xây dựng chính sách đặc thù. Ban hành Nghị quyết chuyên đề về bảo vệ di sản. Thành lập Quỹ bảo tồn văn nghệ dân gian. Thành lập Quỹ Bảo trợ Nghệ nhân dân gian để hỗ trợ nghệ nhân.
2.2. Đổi mới và sáng tạo trong phát triển văn nghệ dân gian
Khuyến khích các nghệ sĩ trẻ sáng tạo ra những sản phẩm văn hóa mới, kết hợp giữa truyền thống và hiện đại.
Có chính sách đãi ngộ, tôn vinh xứng đáng đối với các nghệ nhân, văn nghệ sĩ có đóng góp (hỗ trợ kinh phí cho nghệ nhân).
Đẩy mạnh số hóa di sản, ứng dụng công nghệ 3D trong lưu trữ, số hóa tư liệu. Xây dựng kho dữ liệu điện tử về văn nghệ dân gian Quảng Ninh, bao gồm video, audio, hình ảnh các buổi diễn xướng. Ứng dụng công nghệ thông tin vào việc quảng bá và giới thiệu văn nghệ dân gian.
Tổ chức các cuộc thi, liên hoan nghệ thuật dân gian để lan tỏa giá trị và tạo động lực cho sự phát triển của văn nghệ dân gian.
2.3. Gắn kết văn nghệ dân gian với phát triển du lịch bền vững
Phát triển du lịch văn hóa: Xây dựng các sản phẩm du lịch văn hóa độc đáo, gắn liền với văn nghệ dân gian.
Tổ chức các sự kiện văn hóa nghệ thuật dân gian quy mô lớn, thu hút du khách trong và ngoài nước. Xây dựng tour “Con đường di sản”.
Tổ chức đêm diễn dân gian tại các điểm du lịch Tour trải nghiệm: Kết hợp tham quan di tích với thưởng thức nghệ thuật dân gian (hát dân ca trên thuyền ở vịnh Hạ Long, hoặc múa Lân ở phố cổ Móng Cái...).
Xây dựng không gian tái hiện đời sống các dân tộc tại Bình Liêu, Ba Chẽ.
Tăng cường quảng bá: Xây dựng thương hiệu “Quảng Ninh - Điểm đến văn hóa”. Sản xuất phim tài liệu, chương trình truyền hình thực tế giới thiệu nghệ nhân và di sản.
Đẩy mạnh xã hội hóa công tác bảo tồn và phát huy văn nghệ dân gian, khuyến khích sự tham gia của cộng đồng.
Nâng cao chất lượng dịch vụ du lịch văn hóa, đảm bảo tính chuyên nghiệp và bền vững.
2.4. Tăng cường sự phối hợp giữa các cấp, các ngành
Tăng cường sự phối hợp giữa các cơ quan quản lý nhà nước, các tổ chức văn hóa nghệ thuật, các doanh nghiệp du lịch và cộng đồng dân cư.
Xây dựng cơ chế phối hợp hiệu quả để thực hiện các mục tiêu phát triển văn nghệ dân gian.
Tăng cường quảng bá văn nghệ dân gian trên các nền tảng mạng xã hội.
Đưa vào giáo dục và truyền thông, đưa các làn điệu dân ca, truyện cổ vào chương trình ngoại khóa trường học. Biên soạn giáo trình địa phương. Định hướng lâu dài phát triển Văn nghệ dân gian.
Xây dựng Quảng Ninh thành trung tâm văn hóa dân gian khu vực. Phấn đấu có thêm 2-3 di sản được UNESCO công nhận.
Xây dựng các chương trình trọng điểm như “Mỗi làng một sản phẩm văn hóa”, “Bảo tàng số về văn nghệ dân gian”, “Trường học di sản”...
Mở rộng hợp tác quốc tế, giao lưu văn hóa với các tỉnh có di sản Then (Lạng Sơn, Cao Bằng) và quốc tế (Trung Quốc, Lào, Thái Lan)... Tham gia các liên hoan nghệ thuật dân gian khu vực và thế giới.
Kết luận:
Văn nghệ dân gian Quảng Ninh đã khẳng định vị thế là “báu vật” văn hóa của địa phương. Những tác phẩm, nghệ nhân, loại hình và lễ hội tiêu biểu đã góp phần làm nên diện mạo đa sắc màu của văn học nghệ thuật tỉnh nhà. Trong giai đoạn mới, việc kết hợp giữa bảo tồn và phát triển, giữa truyền thống và hiện đại sẽ là chìa khóa để văn nghệ dân gian Quảng Ninh tiếp tục tỏa sáng. Để phát huy những giá trị quý báu này, cần có sự chung tay của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội. Với quyết tâm và những giải pháp đồng bộ, chúng ta hoàn toàn có thể xây dựng Quảng Ninh thành điểm sáng về bảo tồn và phát huy giá trị văn nghệ dân gian trong khu vực và cả nước, góp phần xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc./.
Vũ Kim Tuyến
Chủ tịch Hội Văn nghệ Dân gian tỉnh Quảng Ninh
----------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------
1. Báo Quảng Ninh, https://baoquangninh.vn/di-san-van-hoa-phi-vat-the-quang-ninh-co-gi-3272256.html, ngày 3/12/2023
2. Báo Quảng ninh, https://baoquangninh.vn/nghe-nhan-dan-gian-miet-mai-trao-truyen-di-san-van-hoa-3269918.html, ngày 19/11/2023