1. Tư tưởng Hồ Chí Minh về giao lưu văn hoá
          Tư tưởng Hồ Chí Minh về giao lưu văn hóa là một bộ phận hữu cơ trong hệ thống tư tưởng của Người về văn hóa dân tộc và văn hóa nhân loại. Khác với quan niệm giới hạn văn hóa trong phạm vi hẹp của cộng đồng dân tộc, Hồ Chí Minh nhìn nhận văn hóa như một dòng chảy liên tục trong lịch sử, luôn mang tính giao thoa, tiếp biến và lan tỏa không ngừng. Theo Hồ Chí Minh, giao lưu văn hóa là một quy luật khách quan trong quá trình vận động và phát triển của các nền văn minh. Tuy nhiên, điều cốt lõi trong quá trình giao lưu ấy không phải là sự hòa tan, mà là giữ gìn bản sắc dân tộc, đồng thời biết chắt lọc tinh hoa, phát huy giá trị đặc thù và chủ động đóng góp sáng tạo cho kho tàng văn hóa nhân loại.
          Có thể khái quát tư tưởng Hồ Chí Minh về giao lưu văn hóa thành bốn nội dung trọng tâm sau đây:
          1.1. Giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc trong giao lưu văn hóa
          Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, bản sắc văn hóa dân tộc được xem là chỗ dựa tinh thần vững chắc, tạo nên sức sống trường tồn của một quốc gia. Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhắc nhở mọi người phải “phát triển thuần phong mỹ tục” (Hồ Chí Minh, 2011, t.14, tr.182), “chú ý phát huy cốt cách dân tộc” (Hồ Chí Minh, 1981, tr.359). Với tinh thần khoan dung văn hoá, việc coi trọng, giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc không được tách rời tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại, cụ thể là “…phát triển những truyền thống tốt đẹp của văn hoá dân tộc và hấp thụ những cái mới của văn hoá tiến bộ thế giới, để xây dựng một nền văn hoá Việt Nam có tính chất dân tộc, khoa học và đại chúng” (Hồ Chí Minh, 2011, t.7, tr.40). Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, bảo tồn và phát huy giá trị văn hoá dân tộc là cơ sở để giao lưu, hội nhập với văn hoá thế giới. Giao lưu với thế giới là điều tất yếu trong thời đại mới, nhưng không vì thế mà đánh mất bản sắc. Hồ Chí Minh cảnh báo nguy cơ lai căng, mất gốc, đồng thời yêu cầu cán bộ, trí thức và nhân dân phải nhận thức rõ ranh giới giữa “tiếp thu” và “bắt chước”. Trong quá trình hoạt động cách mạng ở nước ngoài, Hồ Chí Minh luôn chú trọng gìn giữ tiếng Việt, duy trì nét đặc trưng qua trang phục dân tộc, đồng thời khai thác các yếu tố văn hóa Việt Nam như một công cụ để truyền tải tinh thần dân tộc đến bạn bè quốc tế. Chủ tịch Hồ Chí Minh nhiều lần khẳng định giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt chính là giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc: “Tiếng nói là một thứ của rất quý báu của dân tộc, chúng ta phải hết sức giữ gìn lấy nó” (Hồ Chí Minh, 2011, t.12, tr.165), “Ta phải giữ đất nước của chúng ta, Tổ Quốc của chúng ta, phải giữ cái tiếng của chúng ta” (Hồ Chí Minh, 2011, t.15, tr.306). Theo Hồ Chí Minh, bản sắc văn hoá dân tộc chính là nền tảng để Việt Nam khẳng định vị thế và bản lĩnh trong giao lưu quốc tế. Việc gìn giữ bản sắc không chỉ giúp dân tộc ta tự tin đối thoại với thế giới, mà còn biến bản sắc thành sức mạnh mềm, góp phần nâng cao hình ảnh, uy tín quốc gia. Chính vì vậy, Hồ Chí Minh rất coi trọng phát huy bản sắc văn hoá dân tộc trong mối quan hệ hữu cơ với quá trình tiếp biến văn hoá, coi đó là con đường để xây dựng nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.
          1.2. Tiếp thu có chọn lọc giá trị văn hóa nhân loại
          Một điểm đặc sắc trong tư tưởng Hồ Chí Minh là sự cầu thị văn hóa. Hồ Chí Minh quan niệm phải biết học cái hay, cái tốt của người ta để làm giàu thêm cho văn hóa dân tộc, nhưng không được bắt chước một cách máy móc, rập khuôn. Người cho rằng văn hóa nhân loại là một kho tàng phong phú, từ văn học cổ điển Pháp, tinh thần cách mạng của Nga, đến tính kỷ luật của Nhật Bản, sự kiên cường của Trung Quốc. Trong các bức thư, bài viết Hồ Chí Minh thường trích dẫn các tác giả nổi tiếng của phương Đông và phương Tây, như Lỗ Tấn, Rousseau, Voltaire, Karl Marx, Tolstoy... cho thấy một tinh thần cởi mở, tiếp biến có chọn lọc. Tuy nhiên, cởi mở, khoan dung nhưng Hồ Chí Minh không chủ trương tiếp thu ồ ạt, mà nhấn mạnh nguyên tắc “gạn đục khơi trong”, chọn lọc tinh hoa để kế thừa, học hỏi. Nguyên tắc “gạn đục khơi trong” mà Hồ Chí Minh đề cập không chỉ là phương pháp chọn lọc, mà còn là thái độ chủ động, tỉnh táo trong hội nhập. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, việc tiếp thu giá trị văn hoá nhân loại phải đặt trên nền tảng vững chắc của bản sắc dân tộc, lấy lợi ích của nhân dân và sự phát triển của đất nước làm tiêu chí đánh giá. Trong nhiều bài viết, Hồ Chí Minh nhấn mạnh sự cần thiết phải học hỏi kỹ thuật, khoa học, nghệ thuật tiên tiến của các nước, đồng thời bồi đắp tinh thần yêu nước, nhân ái, cần cù, sáng tạo - những phẩm chất đã làm nên bản lĩnh Việt Nam. Hồ Chí Minh khẳng định việc học hỏi tinh hoa thế giới không đồng nghĩa với hoà tan, mà là làm phong phú thêm bản sắc, củng cố sức sống của văn hoá dân tộc. 
          1.3. Lan tỏa giá trị văn hóa Việt Nam ra thế giới
          Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ là lãnh tụ chính trị kiệt xuất mà còn là người đi tiên phong trong việc thực hành “ngoại giao văn hóa” trước khi khái niệm này được phổ biến rộng rãi. Hồ Chí Minh nhận thức sâu sắc rằng văn hóa là sức mạnh mềm, có khả năng “chinh phục trái tim” và tạo dựng sự hiểu biết, tin cậy lẫn nhau giữa các dân tộc. Ngay từ những năm đầu của sự nghiệp cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chủ trương dùng văn hóa như một công cụ đặc biệt trong đối ngoại để quảng bá hình ảnh Việt Nam ra thế giới. Trong các chuyến công tác ở nước ngoài, Chủ tịch Hồ Chí Minh thường lựa chọn những món quà mang đậm bản sắc dân tộc như sản phẩm thủ công mỹ nghệ, tranh dân gian, hay các làn điệu dân ca Việt Nam. Trong các bài diễn thuyết trước bạn bè quốc tế, Hồ Chí Minh luôn tinh tế lồng ghép và giới thiệu những giá trị đặc trưng của văn hóa Việt Nam như tinh thần yêu nước, đạo lý nhân nghĩa, lối sống giản dị và sức sáng tạo của văn hóa dân gian. Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Nhân dân ta từ lâu đã sống với nhau có tình có nghĩa như thế. Từ khi có Đảng ta lãnh đạo và giáo dục, tình nghĩa ấy càng cao đẹp hơn, trở thành tình nghĩa đồng bào, đồng chí, tình nghĩa năm châu bốn biển một nhà” (Hồ Chí Minh, 2011, t.15, tr.668). Chủ tịch Hồ Chí Minh rất chú trọng tăng cường quan hệ hữu nghị, giao lưu văn hoá với các quốc gia, mở rộng quan hệ quốc tế theo hướng đa phương hóa, đa dạng hóa, sẵn sàng “làm bạn với tất cả mọi nước dân chủ và không gây thù oán với một ai” (Hồ Chí Minh, 2011, t.5, tr.256).
          Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, văn hóa chính là một hình thức đối ngoại mềm, là nhịp cầu hữu nghị kết nối Việt Nam với cộng đồng quốc tế. Thông qua việc lồng ghép các yếu tố văn hoá như nghệ thuật, phong tục, ngôn ngữ, văn học, ẩm thực Việt Nam trong hoạt động ngoại giao, Hồ Chí Minh đã để lại dấu ấn mạnh mẽ trong lòng bạn bè năm châu, góp phần định hình hình ảnh Việt Nam là một quốc gia yêu chuộng hòa bình, giàu truyền thống và sáng tạo. Trong bối cảnh toàn cầu hóa và cách mạng công nghiệp 4.0 hiện nay, tư tưởng Hồ Chí Minh về ngoại giao văn hóa vẫn giữ nguyên giá trị. Định hướng này giữ vai trò quan trọng đối với quá trình xây dựng thương hiệu quốc gia, quảng bá các di sản được UNESCO công nhận, đồng thời mở rộng sự hiện diện của ẩm thực, âm nhạc, thời trang, nghệ thuật và lối sống Việt Nam trên trường quốc tế bằng các phương tiện hiện đại như điện ảnh, truyền thông số, lễ hội văn hóa, sự kiện giao lưu hay các chiến dịch quảng bá trực tuyến. Qua đó, không chỉ gia tăng vị thế và uy tín của đất nước mà còn đảm bảo việc gìn giữ và phát huy giá trị văn hóa Việt Nam trong dòng chảy văn hóa nhân loại.
          1.4. Làm giàu cho văn hóa nhân loại thông qua sáng tạo văn hóa dân tộc
          Hồ Chí Minh quan niệm văn hoá không chỉ dừng lại ở việc “giữ gìn”, mà còn nhấn mạnh yêu cầu phải “phát triển” nhằm đáp ứng những đòi hỏi của thời đại và đóng góp cho kho tàng chung của văn hoá nhân loại. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định, mỗi dân tộc có quyền và nghĩa vụ sáng tạo ra những giá trị văn hóa mang dấu ấn riêng, đồng thời chia sẻ nó với thế giới như một phần của sự cộng sinh văn hóa toàn cầu. Tinh thần “sáng tạo văn hóa” trong tư tưởng Hồ Chí Minh không chỉ là bảo tồn văn hóa cổ truyền, mà còn là việc không ngừng đổi mới trong sáng tác văn học nghệ thuật, giáo dục, khoa học, và đời sống tinh thần. Người nhấn mạnh: “Tây phương hay Đông phương có cái gì tốt, ta học lấy để tạo ra một nền văn hoá Việt Nam. Nghĩa là lấy kinh nghiệm tốt của văn hoá xưa và nay, trau dồi cho văn hoá Việt Nam có tinh thần thuần tuý Việt Nam, để hợp với tinh thần dân chủ” (Hồ Chí Minh, 2011, t.11, tr.95). Hồ Chí Minh đặc biệt khuyến khích giới văn nghệ sĩ sáng tạo các tác phẩm mang “tính dân tộc và tính hiện đại” góp phần định hình bản sắc Việt trong thời đại mới. “Văn hóa, nghệ thuật cũng là một mặt trận. Anh chị em là chiến sĩ trên mặt trận ấy” (Hồ Chí Minh, 2011, t.7, tr.246). Tư tưởng này trở thành cơ sở quan trọng cho việc hình thành các chủ trương của Đảng và chính sách của Nhà nước về phát triển công nghiệp văn hóa, khuyến khích sáng tạo mang bản sắc dân tộc và xây dựng thương hiệu quốc gia về văn hóa trong các chiến lược phát triển sau này. Tư tưởng này có giá trị sâu sắc trong thời kỳ hiện nay, khi Việt Nam đang từng bước phát triển ngành công nghiệp văn hóa, biến sáng tạo thành động lực tăng trưởng, đồng thời làm giàu thêm cho văn hóa toàn cầu bằng các sản phẩm đậm chất Việt Nam từ truyện tranh, phim ảnh, âm nhạc dân tộc hiện đại hóa cho đến thiết kế và thời trang gắn với biểu tượng văn hóa truyền thống.
          2. Đảng Cộng sản Việt Nam vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về giao lưu văn hóa vào đường lối xây dựng, phát triển văn hoá Việt Nam 
         Tư tưởng Hồ Chí Minh về giao lưu văn hóa không chỉ là kim chỉ nam cho hoạt động đối ngoại văn hóa, mà còn là nền tảng tư tưởng cho quá trình hoạch định chủ trương, đường lối phát triển văn hóa của Đảng Cộng sản Việt Nam từ khi thành lập đến nay. Những nguyên lý cốt lõi của tư tưởng ấy như giữ gìn bản sắc, tiếp thu có chọn lọc tinh hoa nhân loại, lan tỏa giá trị Việt Nam đã được vận dụng linh hoạt, sáng tạo và cụ thể hóa trong đường lối phát triển văn hóa Việt Nam qua các thời kỳ. Việc Đảng ta vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh không rập khuôn, áp đặt một cách máy móc mà là quá trình kế thừa có chọn lọc, gắn với yêu cầu phát triển đất nước trong từng giai đoạn lịch sử cụ thể, đặc biệt trong bối cảnh hội nhập quốc tế và toàn cầu hóa sâu rộng hiện nay.
          Đảng xác định nguyên tắc tiếp thu tinh hoa nhân loại có chọn lọc
         Trong suốt tiến trình đổi mới, trên cơ sở kế thừa tư tưởng Hồ Chí Minh về giao lưu và tiếp biến văn hoá, Đảng ta đặc biệt nhấn mạnh xây dựng một nền văn hóa “tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”. Quan điểm này không chỉ coi sự chủ động giao lưu và hội nhập quốc tế về văn hóa là điều kiện tất yếu để bảo đảm độc lập, tự chủ trên mặt trận văn hóa, mà còn khẳng định vai trò của văn hóa như một động lực nội sinh cho phát triển bền vững, đồng thời là sức mạnh mềm để nâng cao vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế.
          Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhìn nhận văn hóa nhân loại như một di sản đồ sộ, trong đó các dân tộc đều có quyền và trách nhiệm vừa học hỏi, vừa đóng góp. Người viết: “Chúng ta phải học tinh thần độc lập, tự cường của nhân dân Pháp, tinh thần tổ chức của nhân dân Đức, tinh thần đấu tranh của nhân dân Nga... học nhưng không bắt chước rập khuôn” (Hồ Chí Minh, 2011, t.4, tr.192). Tư tưởng ấy được Đảng vận dụng nhất quán trong đường lối phát triển văn hóa từ những năm đầu đổi mới đến nay. Đặc biệt, trong bối cảnh toàn cầu hóa và cách mạng công nghiệp lần thứ tư, việc tiếp nhận tinh hoa văn hóa nhân loại một cách chọn lọc được xác định là nguyên tắc cốt lõi trong chiến lược phát triển văn hóa. Đảng ta nhấn mạnh: Chủ động trong tiếp nhận và sàng lọc giá trị văn hóa toàn cầu; ứng dụng phù hợp vào đời sống trong nước; Xây dựng năng lực nội sinh, đặc biệt là bản lĩnh văn hóa và sức đề kháng trước sự xâm thực từ các sản phẩm độc hại, phi văn hóa trên môi trường mạng và thị trường mở; Tăng cường giáo dục văn hóa dân tộc cho thế hệ trẻ nhằm hình thành con người Việt Nam phát triển toàn diện. Những quan điểm trên được đề cập đến trong các Nghị quyết của Đảng và được cụ thể hóa trong các văn bản như Chiến lược phát triển văn hóa đến năm 2030, Chiến lược phát triển công nghiệp văn hóa… Điều đó cho thấy nguyên tắc tiếp thu tinh hoa nhân loại có chọn lọc không chỉ là định hướng chiến lược lâu dài của Đảng, mà còn là “lá chắn” bảo vệ bản sắc, đồng thời là “đòn bẩy” thúc đẩy sức sáng tạo và năng lực cạnh tranh của văn hóa Việt Nam trong kỷ nguyên hội nhập sâu rộng.
          Đảng chủ trương đẩy mạnh quảng bá, lan tỏa giá trị văn hóa Việt Nam
          Tư tưởng Hồ Chí Minh không chỉ hướng tới việc giữ gìn và tiếp thu, mà còn đặc biệt đề cao vai trò đóng góp văn hóa dân tộc vào nền văn minh nhân loại. Trên tinh thần đó, Đảng ta xác định việc lan tỏa các giá trị văn hóa Việt Nam không chỉ là nhiệm vụ của ngành văn hóa, mà là chiến lược lâu dài về xây dựng “thương hiệu quốc gia”. Chiến lược phát triển văn hóa đến năm 2030 nêu rõ: “Chủ động hợp tác và quảng bá các giá trị văn hóa của Việt Nam ra thế giới, phát huy sức mạnh mềm văn hóa, góp phần quan trọng vào sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị để nâng cao vị thế đất nước trên trường quốc tế, tạo dựng môi trường hoà bình, bảo vệ vững chắc Tổ quốc, bảo đảm sự phát triển bền vững và hội nhập quốc tế” (Chính phủ, 2021). Các sáng kiến như “Tuần văn hóa Việt Nam ở nước ngoài”, “Ngày Quốc gia Việt Nam tại EXPO quốc tế”, các chương trình hợp tác liên chính phủ trong lĩnh vực di sản, đào tạo nghệ thuật và giao lưu học thuật đã và đang góp phần đưa hình ảnh văn hóa Việt Nam đến gần hơn với cộng đồng thế giới. Đây chính là biểu hiện sinh động của tư tưởng Hồ Chí Minh được vận dụng sáng tạo trong bối cảnh hiện đại, góp phần làm giàu thêm cho văn hóa nhân loại bằng tinh hoa văn hóa dân tộc Việt Nam.
          3. Thực tiễn triển khai vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về giao lưu văn hoá ở Việt Nam hiện nay
          3.1. Một số kết quả đạt được 
          Trong quá trình xây dựng và phát triển văn hoá, vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về giao lưu văn hoá, Việt Nam đã đạt được nhiều kết quả quan trọng, thể hiện trên cả phương diện chính sách, hoạt động thực tiễn và sự lan toả các giá trị văn hoá trong đời sống xã hội. Cụ thể: 
          Những thập niên gần đây, quá trình hội nhập quốc tế sâu rộng đã đưa Việt Nam trở thành một điểm sáng về giao lưu văn hóa trong khu vực Đông Nam Á. Ở bình diện đối ngoại văn hóa, Việt Nam đã thiết lập quan hệ hợp tác với 194 quốc gia và vùng lãnh thổ (VOV, 2024), thông qua các chương trình song phương, đa phương, mạng lưới trung tâm văn hóa Việt Nam ở nước ngoài, cũng như các hoạt động trong khuôn khổ ASEAN, ASEM, UNESCO. Nhiều sự kiện lớn đã để lại dấu ấn quốc tế như Festival Huế, Lễ hội Áo dài, Tuần phim Việt Nam tại Pháp, Đức, Nhật Bản, góp phần đưa văn hóa Việt Nam đến gần hơn với công chúng thế giới, thúc đẩy đối thoại liên văn hóa và nâng cao sức mạnh mềm của quốc gia. Song song với đó, Nhà nước và các cơ quan hữu quan đã tích cực tổ chức “Ngày/tuần/tháng văn hoá Việt Nam” tại nhiều quốc gia với chuỗi hoạt động đa dạng: biểu diễn nghệ thuật, triển lãm, trình chiếu phim, giao lưu sách, giới thiệu ẩm thực và du lịch. Ở chiều ngược lại, Việt Nam cũng thường xuyên đón nhận các sự kiện văn hoá quốc tế, tiêu biểu như các chương trình của Viện Goethe (Đức), Trung tâm Văn hóa Pháp (L’Espace), Trung tâm Giao lưu Văn hóa Nhật Bản, Trung tâm Văn hóa Hàn Quốc,… tạo nên môi trường giao lưu đa chiều, giúp công chúng Việt Nam tiếp cận trực tiếp với tinh hoa văn hóa thế giới. Ngoài ra, nhiều diễn đàn và hội thảo quốc tế về văn hóa được tổ chức, vừa nhằm quảng bá chiều sâu văn hóa Việt Nam trong các lĩnh vực nghệ thuật, văn học, di sản, vừa tạo cơ hội tiếp thu giá trị nhân loại để làm giàu cho bản sắc dân tộc. Nhờ đó, hoạt động giao lưu văn hóa quốc tế không chỉ góp phần quảng bá hình ảnh đất nước và con người Việt Nam, mà còn nâng cao uy tín, vị thế quốc gia, khẳng định Việt Nam là một quốc gia năng động, thân thiện, giàu bản sắc và sẵn sàng hội nhập trong dòng chảy văn hóa toàn cầu.
          Trong tiến trình hội nhập, hợp tác văn hóa giữa Việt Nam và thế giới ngày càng mở rộng, thể hiện rõ ở cả hai chiều: xuất khẩu văn hóa và nhập khẩu văn hóa. Một mặt, Việt Nam đã tích cực đưa các đoàn nghệ thuật đi biểu diễn tại nhiều quốc gia, đồng thời triển khai các chương trình hợp tác quốc tế trong lĩnh vực văn hóa nhằm giới thiệu tinh hoa di sản, nghệ thuật truyền thống và sáng tạo đương đại. Mặt khác, Việt Nam cũng trở thành điểm đến của nhiều sự kiện và chương trình văn hóa quốc tế, với sự hiện diện của các giá trị văn hóa đặc sắc từ nhiều nền văn minh khác nhau, góp phần làm phong phú đời sống tinh thần của công chúng trong nước, đồng thời thúc đẩy giao lưu, học hỏi lẫn nhau.
          Cùng với quá trình hội nhập văn hóa, ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam đã có bước phát triển nhanh chóng, tạo ra nhiều sản phẩm phục vụ giao lưu và xuất khẩu văn hóa. Trong giai đoạn 2018 - 2022, các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam đóng góp bình quân khoảng 1,059 tỷ đồng. Trong đó, lĩnh vực kiến trúc có giá trị gia tăng bình quân tăng 7,37%; lĩnh vực thiết kế có giá trị gia tăng bình quân tăng 6,36%; lĩnh vực thời trang có giá trị gia tăng bình quân tăng 7,3%; lĩnh vực điện ảnh có giá trị gia tăng bình quân tăng 7,94%... Trong 5 năm qua, bình quân tốc độ tăng trưởng về số lượng các cơ sở kinh tế hoạt động trong các ngành công nghiệp văn hóa đạt 7,21%/năm. Chỉ tính riêng năm 2022 đã có 70.321 cơ sở đang hoạt động có liên quan đến ngành công nghiệp văn hóa, thu hút khoảng 1,7 đến 2,3 triệu lao động, tăng 7,44%/năm (Nguyễn Thế Vinh, 2024). Trên lĩnh vực nghệ thuật sáng tạo, các bộ phim Việt Nam ngày càng hiện diện nhiều hơn tại các liên hoan phim uy tín như Venice, Busan, Tokyo, giành được một số giải thưởng quốc tế quan trọng. Trong lĩnh vực âm nhạc, các sản phẩm kết hợp giữa yếu tố truyền thống (đàn tranh, ca trù, nhạc dân tộc) và phong cách hiện đại (EDM, hip hop) đã tiếp cận thị trường quốc tế thông qua các nền tảng số như YouTube, Spotify, TikTok, qua đó mở rộng ảnh hưởng của văn hóa Việt Nam trong không gian số toàn cầu.
          Giữa làn sóng toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế ngày càng mạnh mẽ, Việt Nam chủ động tiếp cận các xu hướng hội nhập văn hoá quốc tế và tham gia vào nhiều mạng lưới, diễn đàn văn hoá khu vực và toàn cầu (Việt Nam có mối quan hệ rất tốt đẹp với Tổ chức UNESCO). Quá trình hội nhập này không chỉ dừng lại ở việc quảng bá hình ảnh đất nước và con người Việt Nam ra thế giới, mà còn tạo điều kiện thuận lợi để Việt Nam tiếp cận tri thức mới, xu hướng sáng tạo và những giá trị tiến bộ của nhân loại. Tuy nhiên, hội nhập không đồng nghĩa với tiếp thu một cách tràn lan, mà gắn liền với nguyên tắc “mở cửa có chọn lọc”, tức là tiếp nhận tinh hoa văn hoá quốc tế trên cơ sở phù hợp với truyền thống, bản sắc và định hướng phát triển của quốc gia. Thông qua các hoạt động giao lưu văn hoá quốc tế, Việt Nam vừa giới thiệu những giá trị đặc sắc của di sản và văn hoá dân tộc, vừa học hỏi, trao đổi kinh nghiệm, qua đó nâng cao năng lực tổ chức và quản lý trong lĩnh vực văn hoá, hình thành đội ngũ cán bộ, nghệ sĩ, nhà quản lý có khả năng làm việc trong môi trường quốc tế. Đây cũng chính là nền tảng quan trọng để Việt Nam không chỉ là một “người tham dự” mà dần trở thành một “người kiến tạo” có vai trò tích cực trong không gian văn hoá toàn cầu.
          Về bảo tồn và lan tỏa di sản, Việt Nam hiện có 9 di sản được UNESCO công nhận, gồm 6 di sản văn hóa, 2 di sản thiên nhiên và 1 di sản văn hóa và thiên nhiên (Trung Hưng, 2025). Bên cạnh đó, Việt Nam có 16 di sản văn hóa phi vật thể tiêu biểu như Âm nhạc cung đình Việt Nam - Nhã nhạc (Triều Nguyễn), Dân ca Quan họ Bắc Ninh, Hát Xoan ở Phú Thọ, Tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ của người Việt...; 11 di sản tư liệu thế giới như Mộc bản Triều Nguyễn, Bia Tiến sĩ Văn Miếu - Quốc Tử Giám, Châu bản Triều Nguyễn... (Báo điện tử Chính phủ, 2024); 11 khu dự trữ sinh quyển thế giới (Thông tấn xã Việt Nam, 2025); 3 công viên địa chất toàn cầu và 9 khu Ramsar (Thông tấn xã Việt Nam, 2024). Không chỉ dừng ở việc được vinh danh, nhiều loại hình nghệ thuật truyền thống và lễ hội dân gian đã được phục dựng, số hóa, đưa vào chương trình giáo dục, tổ chức trình diễn tại phố đi bộ, bảo tàng mở và triển lãm lưu động, giúp công chúng, đặc biệt là giới trẻ tiếp cận di sản theo cách sinh động và phù hợp với xu hướng đương đại.
          Những kết quả trên không chỉ khẳng định giá trị bền vững của tư tưởng Hồ Chí Minh về giao lưu văn hoá, mà còn tạo nền tảng quan trọng để Việt Nam tiếp tục phát huy trong bối cảnh toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế sâu rộng hiện nay.
          3.2. Một số vấn đề đặt ra
         Bên cạnh những kết quả đã đạt được, quá trình giao lưu văn hoá ở Việt Nam hiện nay vẫn còn bộc lộ nhiều hạn chế và đặt ra một số vấn đề cần được quan tâm giải quyết như sau:
          Trước hết, đó là nguy cơ phai nhạt bản sắc văn hóa trong giới trẻ. Trong môi trường hội nhập mạnh mẽ, giới trẻ ngày càng chịu tác động từ các xu hướng toàn cầu, từ thời trang, âm nhạc, phim ảnh cho tới phong cách sống. Trong khi đó, các loại hình nghệ thuật truyền thống như hát chèo, tuồng, cải lương, ca trù hay nhã nhạc cung đình lại ít được tiếp cận trong đời sống hàng ngày. Không ít bạn trẻ xem di sản văn hóa chỉ là “kho tàng của quá khứ” hơn là một phần của hiện tại. Nếu thiếu những phương thức mới mẻ, sáng tạo để kết nối di sản với đời sống đương đại, khoảng cách giữa thế hệ trẻ và giá trị văn hóa truyền thống sẽ ngày càng bị nới rộng, dẫn tới nguy cơ đứt gãy mạch truyền thừa văn hóa.
          Hai là, vấn đề quảng bá văn hóa, thương hiệu quốc gia còn thiếu chiều sâu. Các hoạt động quảng bá hình ảnh văn hóa Việt Nam ra thế giới đã có bước tiến, nhưng nhìn chung vẫn thiên về các chương trình sự kiện ngắn hạn, chưa tạo được dấu ấn bền vững. Nhiều chương trình như “Ngày Việt Nam tại nước ngoài” hay các tuần lễ văn hóa mới chỉ dừng lại ở mức giới thiệu ẩm thực, trang phục, nghệ thuật biểu diễn, nhưng chưa được gắn với một chiến lược tổng thể nhằm xây dựng “thương hiệu văn hóa quốc gia”. Việc thiếu một mạch kể chuyện chủ đạo về bản sắc và sự sáng tạo của văn hóa Việt Nam, khiến cho các hoạt động quảng bá thường rời rạc, khó tạo sự kết nối và đồng bộ giữa các lĩnh vực như điện ảnh, âm nhạc, thời trang, du lịch. 
          Ba là, ảnh hưởng của văn hóa ngoại lai và hiện tượng tiếp nhận lệch chuẩn. Trong bối cảnh toàn cầu hóa và bùng nổ công nghệ số, các sản phẩm văn hóa ngoại lai, dễ dàng tiếp cận công chúng Việt Nam qua mạng xã hội và các phương tiện thông tin đại chúng. Các chương trình thực tế, phim truyền hình dài tập, trào lưu âm nhạc K-pop hay các xu hướng thời trang ngoại nhập đang lấn át rõ rệt không gian giải trí cả ở đô thị lẫn nông thôn. Điều đáng lo ngại là sự tiếp nhận này nhiều khi mang tính thụ động, thiếu chọn lọc, dễ dẫn đến tình trạng “lai căng mềm”, khiến thị hiếu và thẩm mỹ bị lệ thuộc mạnh mẽ, trong khi bản sắc văn hóa địa phương ngày càng phai nhạt. Nếu thiếu định hướng về giáo dục thẩm mỹ và truyền thông văn hóa một cách bài bản, quá trình hội nhập có thể trượt sang hòa tan, làm suy giảm dần những giá trị đặc thù của văn hóa Việt.
          Bốn là, chính sách hỗ trợ cho sáng tạo văn hóa chưa đồng bộ. Hoạt động sáng tạo văn hóa ở Việt Nam, đặc biệt là các dự án kết hợp yếu tố truyền thống và hiện đại, vẫn đối mặt với nhiều rào cản. Cơ chế cấp phép cho các sản phẩm sáng tạo mới đôi khi còn phức tạp và chậm trễ, khiến nghệ sĩ khó chủ động về thời gian ra mắt. Sự thiếu hụt nguồn tài trợ, đặc biệt từ Nhà nước và doanh nghiệp tư nhân, cũng là rào cản lớn đối với những dự án có tính thử nghiệm, sáng tạo cao. Bên cạnh đó, hệ thống phân phối và hạ tầng đưa sản phẩm văn hóa đến với công chúng vẫn còn những hạn chế nhất định. Các không gian biểu diễn, phòng triển lãm, nền tảng bán vé trực tuyến hay kênh truyền thông chuyên biệt chưa thật sự đáp ứng nhu cầu ngày càng đa dạng. Vì vậy, nhiều tác phẩm có giá trị văn hóa khó đến được với đông đảo khán giả trong nước, và càng khó khăn hơn khi muốn vươn ra thị trường quốc tế.
          Năm là, khoảng trống trong giáo dục văn hóa và bản lĩnh hội nhập. Giáo dục văn hóa trong nhà trường hiện vẫn nặng lý thuyết, thiếu trải nghiệm và ứng dụng thực tế, đặc biệt là giáo dục thẩm mỹ, lịch sử, di sản và truyền thông số. Điều này làm suy yếu khả năng tự định vị và phản biện văn hóa trong giới trẻ. Có thể thấy, việc nuôi dưỡng một thế hệ công dân toàn cầu vừa có năng lực hội nhập, vừa có bản lĩnh văn hóa vẫn còn là một thách thức lâu dài nếu không có những đổi mới thực chất trong hệ thống giáo dục.
          Những vấn đề trên cho thấy việc vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về giao lưu văn hoá không chỉ là yêu cầu khách quan của thời đại, mà còn đòi hỏi những giải pháp đồng bộ, sáng tạo để đáp ứng bối cảnh mới của đất nước.
          Tư tưởng Hồ Chí Minh về giao lưu văn hóa không chỉ là một giá trị lịch sử được hun đúc qua quá trình hoạt động cách mạng và tiếp xúc rộng rãi với nhiều nền văn hóa trên thế giới, mà còn là kim chỉ nam có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc cho Đảng ta trong sự nghiệp xây dựng nền văn hóa Việt Nam trong thời kỳ mới. Tư tưởng của Người đặt nền móng cho quan điểm phát triển văn hóa theo hướng hiện đại nhưng không hòa tan, đổi mới nhưng không đánh mất cốt lõi truyền thống. Vì vậy, việc nghiên cứu, vận dụng và phát triển sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về giao lưu văn hóa không chỉ là trách nhiệm chính trị, tư tưởng của các cơ quan quản lý văn hóa, giới trí thức, mà còn cần được đưa vào đời sống xã hội như một định hướng hành động lâu dài. Đây cũng chính là con đường để văn hóa Việt Nam khẳng định vị thế, đóng góp vào sự đa dạng của văn minh nhân loại, đồng thời giữ vững “hồn cốt” trong hành trình phát triển bền vững đất nước./.
TS.Bùi Thị Kim Chi
TS. Lê Thị Trang
Viện Văn hoá và Phát triển, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
----------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------
Tài liệu tham khảo
• Báo điện tử Chính phủ. (2024, 5 tháng 12). Danh sách 16 di sản văn hoá của Việt Nam được UNESCO ghi danh vào danh sách di sản văn hoá phi vật thể đại diện của nhân loại. Báo điện tử Chính phủ. https://xaydungchinhsach.chinhphu.vn/danh-sach-16-di-san-van-hoa-cua-viet-nam-duoc-unesco-ghi-danh-vao-danh-sach-di-san-van-hoa-phi-vat-the-dai-dien-cua-nhan-loai-119241205142353346.htm
• Báo Cứu Quốc. (1946). Diễn văn khai mạc Hội nghị Văn hóa toàn quốc. 
• Đảng Cộng sản Việt Nam. (1998). Văn kiện Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương khóa VIII. Nxb Chính trị quốc gia.
• Đảng Cộng sản Việt Nam. (2014). Nghị quyết lần thứ chín Ban Chấp hành Trung ương khoá XI về xây dựng và phát triển văn hoá, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước.
• Đảng Cộng sản Việt Nam. (2021). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII. Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật.
• Trung Hưng. (2025, 13 tháng 7). [Infographic] 9 Di sản thế giới ở Việt Nam được UNESCO vinh danh. Báo Nhân dân điện tử. https://nhandan.vn/infographic-9-di-san-the-gioi-o-viet-nam-duoc-unesco-vinh-danh-post893439.html
• Hồ Chí Minh. (1981). Văn hoá nghệ thuật là một mặt trận. Nxb Văn học.
• Hồ Chí Minh. (2011). Toàn tập (Tập 4, 5, 7, 11, 12, 14, 15). Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật.
• Thông tấn xã Việt Nam. (2023, 10 tháng 7). 11 Khu dự trữ sinh quyển thế giới ở Việt Nam. Chuyên trang tư liệu của Thông tấn xã Việt Nam. https://nvsk.vnanet.vn/11-khu-du-tru-sinh-quyen-the-gioi-o-viet-nam-1-135386.vna
• Thông tấn xã Việt Nam. (2023, 10 tháng 7). 9 Khu Ramsar thế giới của Việt Nam. Chuyên trang tư liệu của Thông tấn xã Việt Nam. https://nvsk.vnanet.vn/9-khu-ramsar-the-gioi-cua-viet-nam-1-135385.vna
• Thông tấn xã Việt Nam. (2024, 27 tháng 5). Khám phá nét đa dạng của 3 công viên địa chất toàn cầu ở Việt Nam. Chuyên trang tư liệu của Thông tấn xã Việt Nam.https://nvsk.vnanet.vn/kham-pha-net-da-dang-cua-3-cong-vien-dia-chat-toan-cau-o-viet-nam-1-151813.vna
• Thông tấn xã Việt Nam. (2025, 13 tháng 4). Những di sản Việt Nam thành di sản thế giới. Chuyên trang tư liệu của Thông tấn xã Việt Nam. https://nvsk.vnanet.vn/nhung-di-san-viet-nam-thanh-di-san-cua-nhan-loai-1-164909.vna
• Thủ tướng Chính phủ. (2021). Quyết định số 1909/QĐ-TTg về phê duyệt Chiến lược phát triển văn hoá đến năm 2030.
• Nguyễn Thế Vinh. (tổng hợp). (2024). Phát triển công nghiệp văn hoá ở Việt Nam hiện nay: Thực trạng và giải pháp. Tạp chí điện tử Chính trị và Phát triển, https://chinhtrivaphattrien.vn/phat-trien-cong-nghiep-van-hoa-o-viet-nam-hien-nay-thuc-trang-va-giai-phap-a8624.html.
• VOV. (2024, 24 tháng 9). Việt Nam ký thông cáo thiết lập quan hệ ngoại giao với quốc gia thứ 194. Báo điện tử Tiếng nói Việt Nam. https://vov.vn/chinh-tri/viet-nam-ky-thong-cao-thiet-lap-quan-he-ngoai-giao-voi-quoc-gia-thu-194-post1123665.vov