1. Đặt vấn đề
          Trong bối cảnh toàn cầu hóa và cách mạng công nghiệp 4.0 đang tác động sâu sắc đến các hình thái phát triển kinh tế, xã hội, công nghiệp văn hóa (CNVH) đang nổi lên như một động lực mới góp phần định hình thương hiệu địa phương, tăng trưởng xanh và phát triển bền vững. UNESCO và nhiều tổ chức quốc tế đã xác định sáng tạo và CNVH là trụ cột thúc đẩy đổi mới mô hình tăng trưởng, tạo công ăn việc làm, đồng thời củng cố bản sắc văn hóa trong tiến trình hội nhập. Trong đó, mạng lưới các thành phố sáng tạo (UCCN) được xem là một công cụ quan trọng để thúc đẩy sáng tạo văn hóa tại đô thị - vùng lãnh thổ, đặc biệt trong các lĩnh vực như âm nhạc, thiết kế, điện ảnh, thủ công truyền thống và nghệ thuật dân gian, văn học, ẩm thực (UNESCO, 2021)...
          Tại Việt Nam, Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 (Thủ tướng Chính phủ, 2016) đã tạo tiền đề cho nhiều địa phương khẳng định năng lực sáng tạo đặc thù của cộng đồng gắn với phát triển du lịch bền vững và kinh tế địa phương. Việc Hà Nội (thiết kế, 2019), Hội An (thủ công - nghệ thuật dân gian, 2023) và Đà Lạt (âm nhạc, 2023) gia nhập UCCN đã mở ra một thời kỳ mới cho quá trình định vị bản sắc sáng tạo địa phương trên bản đồ công nghiệp văn hóa toàn cầu. Trong đó, Đà Lạt - thành phố âm nhạc đầu tiên của Việt Nam trong UCCN, đóng vai trò chiến lược trong không gian văn hóa Tây Nguyên, với thế mạnh riêng có về di sản, cảnh quan, ký ức đô thị và cộng đồng sáng tạo. Tuy nhiên, quá trình tinh gọn bộ máy, vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp của cả nước cũng đã và đang đặt ra cho tỉnh Lâm Đồng mới (Lâm Đồng - Bình Thuận - Đắk Nông) một thách thức lớn đối với việc duy trì tư cách pháp nhân sáng tạo của Đà Lạt trong mạng lưới UCCN. Việc thành phố trở thành đơn vị hành chính cấp phường có thể ảnh hưởng đến khả năng thực thi các cam kết quốc tế, cũng như năng lực duy trì hệ sinh thái sáng tạo độc lập.
          Trong bối cảnh đó, chúng tôi tiến hành nghiên cứu tập trung vào 3 vấn đề chính: (1) Toàn cảnh phát triển CNVH toàn cầu và tại Việt Nam trong gắn kết với UCCN; (2) Trường hợp Đà Lạt - thành phố âm nhạc hậu sáp nhập và những vấn đề thể chế đặt ra; (3) Đề xuất giải pháp duy trì tư cách thành viên UCCN và phát triển CNVH gắn với du lịch bền vững tại Lâm Đồng và gợi mở chính sách cho Khánh Hòa - địa phương có tiềm năng phát triển đô thị sáng tạo trong lĩnh vực thủ công truyền thống và nghệ thuật dân gian, nghệ thuật truyền thông, thiết kế và điện ảnh.
          2. Các ngành công nghiệp văn hóa và thành phố sáng tạo trong bối cảnh toàn cầu hóa
          Sự phát triển mạnh mẽ của toàn cầu hóa văn hóa cùng với sự nổi lên của công nghệ số, trí tuệ nhân tạo và mạng xã hội đang làm thay đổi căn bản chuỗi giá trị của các ngành công nghiệp văn hóa. Từ một lĩnh vực mang tính bổ trợ, các ngành công nghiệp văn hóa ngày càng khẳng định vai trò là động lực tăng trưởng kinh tế mới, đóng góp đáng kể vào GDP, tạo việc làm cho hàng triệu người, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và quảng bá hình ảnh quốc gia.
          Theo báo cáo của UNESCO và Ngân hàng Thế giới (2021), các ngành công nghiệp văn hóa và sáng tạo đóng góp khoảng 3,1 % GDP toàn cầu và tạo ra hơn 30 triệu việc làm. Trong đó, các thành phố - với tư cách là trung tâm của lực lượng lao động sáng tạo, hệ sinh thái công nghệ, giáo dục, du lịch và tiêu dùng văn hóa đóng vai trò đầu tàu trong phát triển CNVH. Nhận thức được vai trò này, UNESCO đã chính thức thành lập Mạng lưới các Thành phố Sáng tạo (UCCN) từ năm 2004 nhằm hỗ trợ các đô thị tích hợp sáng tạo và CNVH vào chiến lược phát triển bền vững (UNESCO, 2021).
          Tính đến năm 2023, UCCN đã có 350 thành phố từ hơn 100 quốc gia trên thế giới, hoạt động trong 7 lĩnh vực chính: âm nhạc, thiết kế, văn học, điện ảnh, ẩm thực, thủ công và nghệ thuật dân gian, nghệ thuật truyền thông. Từ năm 2025, kiến trúc dự kiến được bổ sung thành lĩnh vực thứ 8. Việc gia nhập mạng lưới không chỉ là sự công nhận năng lực sáng tạo của địa phương, mà còn là cam kết quốc tế về thúc đẩy giáo dục nghệ thuật, hỗ trợ cộng đồng sáng tạo, phát triển hạ tầng văn hóa và xây dựng mô hình đô thị bền vững dựa trên nguồn lực văn hóa - sáng tạo.
          Tại Việt Nam, những năm gần đây, các ngành công nghiệp văn hóa đã dần trở thành một cấu phần quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội. Từ mức đóng góp 2,68% GDP vào năm 2015, đến năm 2018 tỷ trọng này đã tăng lên 3,61% (Nguyễn Thị Thu Phương (Chủ biên), Trần Nhật Minh, 2021). Trong giai đoạn 2018 - 2022, giá trị sản xuất từ các ngành CNVH đạt khoảng 44 tỷ USD, phản ánh tiềm năng tăng trưởng mạnh mẽ. Chiến lược phát triển các ngành CNVH đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 đã xác định 12 lĩnh vực, trong đó âm nhạc nằm trong ngành nghệ thuật biểu diễn, thiết kế, điện ảnh, thủ công mỹ nghệ và phần mềm trò chơi giải trí có tiềm năng hội nhập sâu rộng và liên kết hiệu quả với du lịch theo hướng bền vững.
          Việc Hà Nội (thiết kế, 2019), Hội An (thủ công và nghệ thuật dân gian, 2023) và Đà Lạt (âm nhạc, 2023) chính thức gia nhập UCCN đã ghi nhận bước tiến quan trọng trong tiến trình các ngành công nghiệp văn hóa của Việt Nam tăng cường khả năng kết nối trong mạng lưới các thành phố sáng tạo trên quy mô toàn cầu. Đặc biệt, Đà Lạt, với tư cách là thành phố âm nhạc đầu tiên, có nhiều lợi thế để phát triển các chuỗi giá trị sáng tạo liên ngành, kết hợp âm nhạc, điện ảnh, ẩm thực với du lịch bền vững dựa trên hệ sinh thái tự nhiên độc đáo.
          Những bước đi đầu tiên của các thành phố sáng tạo trong bối cảnh Việt Nam thực hiện chủ trương tinh gọn bộ máy hành chính, nhiều địa phương đang đối diện với những thay đổi lớn về địa giới, tư cách pháp lý và mô hình quản trị (Nghị quyết số 18-NQ/TW ngày 25/10/2017). Việc Đà Lạt, Hội An trở thành đơn vị hành chính cấp phường theo hướng phân tách thành các phường khác nhau đang đặt ra yêu cầu mới cho việc cần duy trì tư cách thành viên UCCN. Vì sự thay đổi này không chỉ tác động đến năng lực thực thi các cam kết quốc tế, mà còn ảnh hưởng đến việc xây dựng hệ sinh thái sáng tạo địa phương - yếu tố vốn phụ thuộc chặt chẽ vào thể chế, chính sách và vai trò điều phối độc lập của các đô thị sáng tạo.
          Trong bối cảnh đó, bài toán đặt ra không chỉ là phát triển các ngành CNVH như một đòn bẩy kinh tế mới, mà còn là: làm sao để duy trì tư cách thành phố sáng tạo âm nhạc sau sáp nhập, giữ được bản sắc văn hóa - nghệ thuật, đồng thời tích hợp được với định hướng phát triển du lịch bền vững trong cấu trúc hành chính mới.
          3. Trường hợp Đà Lạt: vùng lõi âm nhạc gắn với du lịch bền vững và bài toán thể chế sau sáp nhập
          Việc Đà Lạt chính thức trở thành thành phố sáng tạo trong lĩnh vực âm nhạc năm 2023 đã ghi dấu bước ngoặt quan trọng trong tiến trình hội nhập quốc tế về sáng tạo văn hóa của Việt Nam. Với hơn 130 năm lịch sử hình thành và phát triển, Đà Lạt không chỉ sở hữu những giá trị độc đáo về cảnh quan, kiến trúc và khí hậu, mà còn là nơi hội tụ các dòng chảy âm nhạc truyền thống, đương đại, giao thoa dân tộc và quốc tế, tạo nên một nền tảng vững chắc để phát triển hệ sinh thái công nghiệp âm nhạc bền vững. Việc gia nhập UCCN là một cam kết chiến lược của địa phương về lộ trình phát triển công nghiệp văn hóa lấy âm nhạc làm trục chính, gắn kết với các ngành như du lịch, nghệ thuật biểu diễn, thiết kế, ẩm thực và nghệ thuật truyền thông. Theo yêu cầu của UNESCO, các thành phố sáng tạo cần thực hiện 6 nhóm cam kết trọng tâm: xây dựng chính sách phát triển sáng tạo, phát triển không gian văn hóa - nghệ thuật, giáo dục nghệ thuật, kết nối quốc tế, hỗ trợ cộng đồng sáng tạo và lồng ghép sáng tạo trong chiến lược phát triển đô thị (UBND Thành phố Đà Lạt, 2023).
          Tuy nhiên, kể từ tháng 7 năm 2025, theo phương án sáp nhập đơn vị hành chính cấp tỉnh, thành phố Đà Lạt sẽ trở thành đơn vị hành chính cấp phường thuộc tỉnh Lâm Đồng mở rộng. Việc không còn tư cách pháp nhân cấp thành phố đang đặt ra thách thức lớn đối với việc duy trì vị trí thành viên trong UCCN, vì mô hình quản trị hiện hành của mạng lưới dựa trên nền tảng thành phố có quyền tự chủ về thể chế văn hóa và kế hoạch phát triển sáng tạo.
          Thực tế cho thấy, sau khi Hội An gia nhập mạng lưới UCCN vào năm 2023, những thay đổi thể chế hành chính ở cấp địa phương cũng đang tạo ra vấn đề tương tự. Nếu không có giải pháp thích ứng về mặt thể chế và mô hình điều phối sáng tạo, các thành phố sáng tạo của Việt Nam, nhất là ở các lĩnh vực như âm nhạc (Đà Lạt), thủ công (Hội An) có thể gặp khó khăn trong việc giữ vững tư cách thành viên và tận dụng hiệu quả các cơ hội từ mạng lưới quốc tế.
          Trong bối cảnh đó, Đà Lạt không chỉ cần duy trì vị trí biểu tượng văn hóa - du lịch, mà còn phải thực hiện các điều chỉnh về thể chế sáng tạo để thích ứng với đơn vị hành chính mới. Việc khẳng định Đà Lạt là “vùng lõi sáng tạo” của tỉnh Lâm Đồng mở rộng, với vai trò hạt nhân phát triển công nghiệp âm nhạc và du lịch văn hóa, sinh thái, di sản, là cơ sở để đề xuất các cơ chế đặc thù trong phối hợp với UCCN và Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch.
          4. Giải pháp phát triển công nghiệp văn hóa trong mô hình hành chính hai cấp - trường hợp Lâm Đồng và gợi mở cho Khánh Hòa 
          Việc triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp đang đặt ra những yêu cầu điều chỉnh về thể chế trong phát triển CNVH tại các đô thị trung tâm cấp tỉnh, đặc biệt tại những địa phương có tiềm năng sáng tạo cao như Lâm Đồng và Khánh Hòa. Đây là hai địa phương có vị trí chiến lược, sở hữu nguồn tài nguyên văn hóa, tài nguyên âm nhạc và du lịch đặc thù, đồng thời đang chịu ảnh hưởng trực tiếp từ việc sáp nhập đơn vị hành chính và thay đổi tư cách pháp nhân đô thị. Vì vậy, việc đề xuất giải pháp căn cứ theo thực tế sẽ chia hai nhóm. 
          4.1. Giải pháp đặc thù cho Đà Lạt sau sáp nhập - duy trì vai trò thành phố sáng tạo âm nhạc
          Hiện tại, Đà Lạt không còn tư cách pháp nhân cấp thành phố sau khi sáp nhập đơn vị hành chính đã tạo ra một khoảng trống thể chế cần “bù đắp”, nhất là trong việc thực hiện các cam kết quốc tế với UNESCO khi là thành phố thành viên UCCN - mạng lưới các thành phố sáng tạo. Đây không chỉ là thách thức về danh nghĩa, mà còn ảnh hưởng đến khả năng điều phối chính sách sáng tạo, ngân sách độc lập, quy chế làm việc với mạng lưới quốc tế, và quản trị bản sắc đô thị. Từ đó, cần xây dựng nhóm giải pháp đặc thù, đảm bảo tính liên tục của hoạt động sáng tạo tại Đà Lạt:
          1) Thể chế hóa vai trò sáng tạo của Đà Lạt: Sớm có giải pháp công nhận Đà Lạt là “trung tâm âm nhạc sáng tạo” của Lâm Đồng với tư cách vùng chức năng đặc thù, nhằm đảm bảo tính liên tục về chính sách. Địa phương có thể kiến nghị với Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch hỗ trợ về mặt pháp lý để duy trì tư cách thành viên UCCN sau sáp nhập.  Đây là giải pháp “khôi phục” tư cách sáng tạo về mặt pháp lý, không phụ thuộc vào mô hình hành chính cứng, phù hợp xu hướng quản trị mềm.
          2) Thiết lập cơ chế điều phối chuyên biệt: Thành lập Ban Điều phối Thành phố sáng tạo Đà Lạt trực thuộc UBND tỉnh, với chức năng điều phối thực hiện các cam kết với UNESCO, kết nối cộng đồng sáng tạo và thúc đẩy các dự án âm nhạc, nghệ thuật mang tính quốc tế.  Ban này thay thế vai trò của cấp chính quyền đô thị cũ trong việc tiếp tục duy trì kết nối và thực hiện cam kết với UNESCO; Điều phối ngân sách, nhân sự và chương trình liên ngành; Trở thành đầu mối liên lạc chính thức trong các diễn đàn quốc tế về sáng tạo. Đây là một thể chế mềm - linh hoạt - xuyên cấp hành chính, chỉ phù hợp với những địa phương có địa vị đặc biệt như Đà Lạt.
          3) Ưu tiên đầu tư hạ tầng sáng tạo mang tính bản sắc: Gắn âm nhạc với không gian cảnh quan sinh thái (đồi cỏ, hồ nước, công viên); Phát triển các địa điểm biểu diễn ngoài trời, đường phố âm nhạc, và trung tâm âm thanh - hậu kỳ kỹ thuật số; Biến chính “cảnh quan - sinh thái - khí hậu - nghệ thuật” thành giá trị cốt lõi của thành phố âm nhạc Đà Lạt. 
          4) Lồng ghép sáng tạo vào chiến lược phát triển vùng: Định hướng Đà Lạt là trung tâm âm nhạc sáng tạo Tây Nguyên, kết nối với các ngành khác như du lịch sinh thái, văn hóa dân gian, công nghiệp thủ công và nghệ thuật biểu diễn, nhằm xây dựng mô hình đô thị âm nhạc - sinh thái bền vững.
          4.2. Các nhóm giải pháp chung
          Việc triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp tại Lâm Đồng và Khánh Hòa không chỉ đặt ra yêu cầu sắp xếp lại bộ máy nhà nước, mà còn mở ra cơ hội tái cấu trúc chiến lược phát triển văn hóa - sáng tạo theo hướng linh hoạt và thích ứng hơn. Trong bối cảnh đó, Đà Lạt và Nha Trang tuy mang đặc trưng riêng biệt về địa lý và lịch sử, lại gặp nhau ở điểm chung: đều là trung tâm tỉnh, đã hoặc đang mất đi cấp hành chính trung gian, song vẫn giữ vai trò hạt nhân sáng tạo có khả năng lan tỏa liên vùng.
          Nếu như Đà Lạt với thế mạnh về âm nhạc, cảnh quan và lối sống nghệ thuật có thể định vị như một vùng lõi sáng tạo cao nguyên, thì Nha Trang, với tiềm năng âm nhạc đường phố, sự kiện âm nhạc biển, cùng hệ sinh thái văn hóa Chăm và lễ hội đặc sắc hoàn toàn có thể trở thành một không gian sáng tạo biển - du lịch văn hóa nổi bật tại duyên hải miền Trung. Cả hai địa phương đều hội đủ điều kiện để phát triển các ngành công nghiệp văn hóa gắn với du lịch bền vững, nếu có khung thể chế mềm vượt ra khỏi giới hạn của mô hình hành chính cứng.
          Việc tích hợp âm nhạc (trong trường hợp Đà Lạt và cả Khánh Hòa), cùng với thiết kế, điện ảnh, nghệ thuật biểu diễn và truyền thông nghệ thuật, vào chiến lược phát triển du lịch văn hóa sẽ tạo điều kiện hình thành các chuỗi giá trị sáng tạo liên vùng, thúc đẩy hợp tác, chia sẻ nguồn lực và mở rộng không gian văn hóa số. Trên nền tảng này, bài viết đề xuất bốn nhóm giải pháp tích hợp cho cả hai địa phương:
          1) Xây dựng bản đồ âm nhạc tích hợp điểm đến du lịch sáng tạo liên vùng: Khảo sát hiện trạng cụm không gian sáng tạo, làng nghề, lễ hội và cộng đồng nghệ sĩ tại các địa phương như Đà Lạt và Nha Trang; Phát triển bản đồ số “Âm nhạc - Du lịch sáng tạo” với lớp dữ liệu đa phương tiện: địa điểm, chủ thể sáng tạo, sản phẩm, trải nghiệm thực tế ảo...; Ứng dụng AI và công nghệ XR để tăng cường tiếp cận thị trường du lịch và mở rộng không gian văn hóa số.
          2) Đầu tư hạ tầng và cơ chế đặc thù cho sáng tạo văn hóa - du lịch - âm nhạc: Phát triển trung tâm âm nhạc sáng tạo, không gian biểu diễn ngoài trời và các hub văn hóa - du lịch liên ngành; Thiết lập quỹ đầu tư sáng tạo địa phương theo mô hình PPP, hỗ trợ startup văn hóa, nghệ sĩ độc lập, cộng đồng dân tộc thiểu số...; Ưu tiên ngân sách cho công nghệ âm thanh, trình diễn, kỹ thuật hậu kỳ và truyền thông số - đặc biệt phù hợp với Nha Trang (phát triển điện ảnh - truyền thông - thiết kế gắn biển đảo) và Đà Lạt (âm nhạc, biểu diễn, không gian sáng tạo địa phương).
          3) Xây dựng vùng sáng tạo liên vùng và thúc đẩy kết nối đa ngành: Trong khi Đà Lạt nổi bật với bản sắc âm nhạc, nghệ thuật biểu diễn và cộng đồng sáng tạo địa phương, thì Khánh Hòa với trung tâm là Nha Trang - có lợi thế về văn hóa biển -đảo, di sản Chăm, lễ hội Thiên Y A Na, nghệ thuật thủ công và không gian công cộng ven biển thuận lợi cho hoạt động biểu diễn ngoài trời; Cả hai có thể trở thành các “vùng lõi sáng tạo” trong hệ thống liên kết âm nhạc - du lịch - thiết kế - truyền thông - điện ảnh miền Trung - Tây Nguyên; Việc triển khai các chương trình chung như lễ hội âm nhạc liên tỉnh, mạng lưới sáng tạo trẻ, trại sáng tác liên vùng sẽ tạo hiệu ứng lan tỏa về năng lực sáng tạo và tăng trưởng bền vững. 
          4) Vận dụng lý thuyết WDEH để định hướng định vị bản sắc các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam: Theo WDEH (Will-Directed Evolutionary Hypothesis), sự tiến hoá bền vững trong công nghiệp văn hóa phụ thuộc vào ý chí sáng tạo nội sinh; Chính quyền cần tạo điều kiện để cộng đồng nghệ sĩ, nghệ nhân thiết kế chính sách, sự kiện và sản phẩm phù hợp với bản sắc địa phương; Đo lường chỉ số WIQ (Will Impact Quotient) để đánh giá năng lực sáng tạo của cộng đồng, từ đó xây dựng chính sách linh hoạt theo vùng; Chỉ số WIQ (Will Impact Quotient) được xây dựng trên nền tảng mô hình ý chí 2D, giúp xác định cấp độ ảnh hưởng tích cực/tiêu cực của ý chí cộng đồng trong phát triển sáng tạo.          
          Ứng dụng WIQ trong CNVH không chỉ giúp đánh giá mức độ sẵn sàng đổi mới của từng địa phương, mà còn hỗ trợ thiết kế chính sách phù hợp với vùng màu ý chí (will color zone) - ví dụ: vùng ý chí Xanh Lá thể hiện động lực sáng tạo bền vững, trong khi vùng Vàng/Đỏ/Tím/Tối cho thấy nguy cơ giảm giá trị, truyền bá tư tưởng sai lệch hoặc bị áp đặt.
          5. Kết luận và kiến nghị
          Từ nghiên cứu trường hợp thành phố sáng tạo âm nhạc Đà Lạt và các gợi mở chính sách cho Lâm Đồng và Khánh Hòa, có thể rút ra một số nhận định chiến lược mang tính gợi mở cho các địa phương đang chuyển đổi thể chế: Thứ nhất, dù có sự thay đổi về mặt hành chính, các đô thị vẫn tiếp tục đảm nhiệm vai trò trung tâm sáng tạo nếu được tái định vị đúng đắn trong quy hoạch chiến lược, đặc biệt với sự hỗ trợ từ các chính sách mềm và mạng lưới hợp tác đa cấp. Thứ hai, phát triển các ngành công nghiệp văn hóa cần đặt trong mối tương tác linh hoạt giữa bản sắc địa phương, công nghệ sáng tạo mới và sự đồng hành của cộng đồng nghệ sĩ, doanh nghiệp sáng tạo. Chỉ khi các yếu tố này được lồng ghép hài hòa trong chiến lược phát triển, công nghiệp văn hóa mới thực sự phát huy vai trò là động lực tăng trưởng mới.      
          Trong bối cảnh hiện nay, Việt Nam có thể:
          (1) Thiết lập “vùng văn hóa sáng tạo” trong trường hợp đơn vị không còn cấp hành chính thành phố nhưng vẫn duy trì vai trò sáng tạo cốt lõi.
          (2) Xây dựng mạng lưới liên vùng đô thị sáng tạo quốc gia: Kết nối các trung tâm như Đà Lạt, Nha Trang, Hội An, Hà Nội và TP.HCM trong một cơ chế chia sẻ dữ liệu, nguồn lực và đồng phát triển dự án sáng tạo.
          (3) Ưu tiên thể chế mềm cho các tỉnh chuyển đổi hành chính: Lồng ghép nội dung phát triển công nghiệp văn hóa vào kế hoạch đầu tư công trung hạn và các quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội sau sáp nhập.
          (4) Thí điểm đo lường chỉ số WIQ tại các vùng trọng điểm: Ứng dụng lý thuyết WDEH để đánh giá tiềm năng tiến hoá sáng tạo nội sinh, từ đó làm cơ sở xây dựng chính sách đặc thù theo vùng, theo ngành. Trong đó, việc đo lường chỉ số WIQ theo tầng tiến hoá ý chí sẽ góp phần cụ thể hoá các khuyến nghị chính sách, thay vì chỉ dựa vào dữ liệu kinh tế hoặc hành chính truyền thống.
          Việc nhìn nhận công nghiệp văn hóa như một hệ tiến hoá dựa trên bản sắc, công nghệ và ý chí cộng đồng, không chỉ là cách tiếp cận mới về phát triển văn hóa, mà còn là nền tảng để các địa phương nâng cao năng lực cạnh tranh mềm, thích ứng linh hoạt và hội nhập quốc tế một cách bền vững trong giai đoạn hậu sáp nhập./.
PGS.TS, Nguyễn Thị Thu Phương
Viện trưởng Viện Văn hóa, Nghệ thuật, Thể thao và Du lịch Việt Nam
CN, Trần Nhật Minh
Nhà nghiên cứu độc lập
----------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------
Tài liệu tham khảo
• Amabile, T. M. (1996). Creativity in Context: Update to the Social Psychology of Creativity. Boulder, CO: Westview Press.
• Boyd, R., & Richerson, P. J. (2005). The Origin and Evolution of Cultures. Oxford University Press.
• Deci, E. L., & Ryan, R. M. (2000). The "what" and "why" of goal pursuits: Human needs and the self-determination of behavior. Psychological Inquiry, 11(4), 227-268.
• KEA European Affairs. (2006). The Economy of Culture in Europe. Brussels: European Commission.
• Mesoudi, A. (2011). Cultural Evolution: How Darwinian Theory Can Explain Human Culture and Synthesize the Social Sciences. University of Chicago Press.
• Nguyễn Thị Thu Phương. (Chủ biên), Trần Nhật Minh, .... (2021). Sức mạnh mềm văn hóa Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế. Nxb Chính trị quốc gia, Sự thật.
• Nguyễn Thị Thu Phương. (Chủ biên). (2022). Định vị các ngành công nghiệp văn hóa trong phát triển bền vững ở Việt Nam. Nxb Chính trị quốc gia, sự thật. 
• Thủ tướng Chính phủ. (2016). Quyết định số 1755/QĐ-TTg ngày 08 tháng 9 năm 2016 phê duyệt Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030.
• UBND Thành phố Đà Lạt. (2023). Hồ sơ đăng ký gia nhập mạng lưới các thành phố sáng tạo âm nhạc của Đà Lạt.
• UNESCO. (2021). Creative Economy Outlook 2022. Paris: UNESCO Publishing.
• World Bank. (2021). The Creative Economy: A Strategy for Development. Washington, DC.