1. Di sản văn hóa Việt Nam: Giá trị, thực trạng và định hướng phát triển kinh tế du lịch
Tại Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương năm khóa VIII, Đảng ta đã xác định tính chất tiên tiến của nền văn hóa Việt Nam: “Tiên tiến là yêu nước và tiến bộ mà nội dung cốt lõi là lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội theo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, nhằm mục tiêu tất cả vì con người, vì hạnh phúc và sự phát triển phong phú, tự do, toàn diện của con người trong mối quan hệ hài hòa giữa cá nhân và cộng đồng, giữa xã hội và tự nhiên. Tiên tiến không chỉ về nội dung tư tưởng mà cả trong hình thức biểu hiện, trong các phương tiện truyền tải nội dung” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 1998, tr. 55-56). Trong Nghị quyết của Hội nghị đã xác định về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc: nền văn hóa mà chúng ta xây dựng bao gồm toàn bộ các hoạt động tinh thần của xã hội, từ tư tưởng, đạo đức, lối sống tới văn học, nghệ thuật; thông tin đại chúng; giáo dục - đào tạo; khoa học - công nghệ; bảo tồn di sản văn hóa; văn hóa các dân tộc thiểu số; xây dựng môi trường văn hóa; giao lưu văn hóa quốc tế... (Đảng Cộng sản Việt Nam, 1998, tr. 55-56). Đây là những lĩnh vực góp phần tạo nên nền tảng tinh thần của xã hội. Như vậy, để tạo động lực cho phát triển nền văn hóa, chúng ta cần thiết phải xây dựng một cách tổng thể, đồng bộ các hoạt động tinh thần của xã hội. Thực tiễn cho thấy, quá trình xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc thời gian qua đã làm thay đổi căn bản nhận thức của cán bộ, nhân dân về vị trí, vai trò của văn hóa trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước bền vững, có cái nhìn toàn diện, khoa học hơn về văn hóa. Mặt khác, cũng đã bộc lộ nhiều vấn đề cần phải giải quyết, một trong những vấn đề đó là cần thiết phải tăng cường nguồn lực bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa tạo động lực thực sự về kinh tế để phát triển bền vững cho đất nước.
Trong những năm qua, các di tích lịch sử văn hóa đã được Đảng và Nhà nước ta triển khai bảo tồn và phát huy trong phạm vi cả nước với nhiều hình thức và cấp độ khác nhau. Vốn đầu tư để tôn tạo, trùng tu các di tích này được lấy từ nhiều nguồn khác nhau như ngân sách nhà nước, xã hội hóa… Những thành tựu đạt được đã góp phần không nhỏ trong việc giáo dục cho thế hệ trẻ về bản sắc văn hóa dân tộc, về tính cố kết cộng đồng của cộng đồng quốc gia dân tộc Việt Nam. Thông qua công tác sưu tầm, trưng bày, hệ thống các bảo tàng đã khẳng định được vị thế của mình trong toàn bộ hệ thống thiết chế văn hóa nói chung. Những thành tựu này còn giáo dục truyền thống yêu nước, ý thức giữ gìn, tự hào và tôn vinh bản sắc văn hóa của dân tộc, đáp ứng nhu cầu và nâng cao đời sống văn hóa tinh thần của quần chúng nhân dân. Chương trình Bảo tồn và phát huy di sản văn hóa phi vật thể trong hơn 25 năm qua đã tích lũy được một khối lượng dữ liệu khổng lồ (Lưu trữ tại: Trung tâm dữ liệu di sản văn hóa), song hành với đó là sự khôi phục, phục dựng được nhiều lễ hội, phong tục tập quán có nguy cơ mai một của 54 dân tộc Việt Nam. Việt Nam đã có 16 di sản văn hóa phi vật thể được UNESCO vinh danh là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại và cần thiết được bảo vệ khẩn cấp: Nhã nhạc cung đình Việt Nam (công nhận năm 2003); Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên (công nhận năm 2005); Dân ca quan họ Bắc Ninh (công nhận năm 2009); Nghệ thuật ca trù (công nhận năm 2009); Hội Gióng ở đền Phù Đổng và đền Sóc, Hà Nội (công nhận năm 2010); Nghệ thuật hát Xoan (công nhận năm 2011 và năm 2017); Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương (công nhận năm 2012); Nghệ thuật đờn ca tài tử Nam Bộ (công nhận năm 2013); Dân ca ví, giặm Nghệ Tĩnh (công nhận năm 2014); Nghi lễ và trò chơi kéo co (công nhận năm 2015); Thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ của người Việt (công nhận năm 2016); Nghệ thuật bài chòi Trung Bộ (công nhận năm 2017); Thực hành then của người Tày, Nùng, Thái (công nhận năm 2019); Nghệ thuật xòe Thái (công nhận năm 2021); Nghệ thuật làm gốm của người Chăm (công nhận năm 2022); Lễ hội Vía Bà Chúa Xứ núi Sam (công nhận năm 2024). Ngoài ra, theo số liệu thống kê của Cục Di sản văn hóa, tính đến năm 2024, Việt Nam đã có 502 di sản văn hóa phi vật thể được ghi vào danh mục quốc gia (Cục Di sản văn hóa, 2025). Mặt khác, di sản văn hóa phi vật thể chủ yếu được lưu truyền cho đời sau bằng hình thức truyền khẩu, vì vậy, nghệ nhân dân gian, chủ thể nắm giữ di sản văn hóa, có một vai trò quan trọng trong sự hồi sinh, phát triển của loại hình văn hóa này. Vai trò của nghệ nhân dân gian còn được UNESCO (Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên Hợp Quốc) gọi là Báu vật nhân văn sống cũng được Đảng và Nhà nước ta quan tâm. Việc tư liệu hóa và phục dựng và lập hồ sơ cấp quốc gia, chế độ đãi ngộ đội với nghệ nhân dân gian trong lĩnh vực di sản văn hóa phi vật thể đã tác động không nhỏ vào quá trình nhận thức của những người làm công tác bảo vệ di sản văn hóa cũng như chủ nhân đích thực của di sản văn hóa, góp phần chuyển hóa về mặt nhận thức, tạo được sự trân trọng của cộng đồng đối với di sản văn hóa, tạo ra nhu cầu hưởng thụ chính những di sản văn hóa đó. Đồng thời, những di sản văn hóa phi vật thể đã đã mang lại nền tảng vững chắc về mặt tinh thần cho chính những người dân địa phương, làm cho họ tin tưởng vào Nhà nước, tin tưởng những gì thuộc về đời sống tinh thần của họ được Nhà nước bảo vệ. Điều này là vô cùng cần thiết và quan trọng trong chiến lược an ninh quốc gia. Đồng thời di sản văn hóa sẽ được kế tục, duy trì và phát triển.
Tuy nhiên, trong thời gian qua, công tác bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa cũng đã bộc lộ nhiều mặt hạn chế và mặt trái cần khắc phục, đó là: Người dân chưa tự chủ động bảo vệ di sản của chính họ mà có tư tưởng trông chờ, ỷ lại vào những chương trình bảo tồn của Nhà nước. Chúng ta luôn đưa ra khẩu hiệu tôn vinh nghệ nhân nhưng trên thực tế chưa có chế độ hỗ trợ đối với những người bảo vệ di sản văn hóa (chủ nhân của nền văn hóa), chưa tạo cơ hội nghề nghiệp cho chủ nhân của di sản văn hóa, chưa kết nối được di sản văn hóa với du lịch để tạo thành động lực cho sự phát triển kinh tế nâng cao đời sống cho người dân. Chương trình mục tiêu về văn hóa đặt ra nhiệm vụ “Nâng cao nhận thức của toàn Đảng, toàn dân, của các cấp, các ngành, huy động sức mạnh của toàn xã hội tham gia, đóng góp vào sự nghiệp phát triển văn hóa. Bảo tồn các di sản văn hóa và phục vụ việc thực hiện những nhiệm vụ chính trị quan trọng của Đảng và Nhà nước. Tiếp tục phát huy kết quả đã đạt được trong việc xây dựng và phát triển văn hóa, thể thao cơ sở, nhất là khu vực vùng sâu, vùng xa, vùng miền núi, biên giới, hải đảo, vùng đồng bào các dân tộc thiểu số. Xóa các điểm trắng về văn hóa, xây dựng những điểm sáng về văn hóa trên các mặt, trên các lĩnh vực của đời sống tinh thần” (Thủ tướng Chính phủ, 2015). Sau khi tổng kết chương trình, thì có 7 trong số 20 chỉ tiêu đã không hoàn thành theo kế hoạch đề ra. Công tác đầu tư, tu bổ, tôn tạo 70% di tích lịch sử và cách mạng, 80% di tích kiến trúc nghệ thuật và danh thắng được công nhận là di tích cấp quốc gia. Vậy mà, tổng thể chương trình mới chỉ tu bổ và tôn tạo được 130 di tích/3062 di tích đạt 4,3%; hỗ trợ chống xuống cấp 921 di tích/1200 di tích (Báo cáo số 211/ BC-CP ngày 17/10/2011); Sưu tầm các di sản văn hóa phi vật thể tính đến 2010 là 652 dự án, đến 2014 là 742 dự án (Dữ liệu của Chương trình mục tiêu được lưu tại Trung tâm tâm dữ liệu di sản văn hóa, Viện Văn hóa Nghệ thuật Quốc gia Việt Nam). Trong 15 năm thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia về văn hóa, đặc biệt là chương trình bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể, các nhà khoa học, nhà nghiên cứu, nhà quản lý tuy đã nghiên cứu, bảo tồn di sản với số lượng lên đến 742 dự án nhưng đi sâu nghiên cứu về từng dân tộc còn quá ít 72/742, mà đáng lẽ ra đây chính là mục tiêu và nhiệm vụ đầu tiên phải thực hiện xong trong vòng 5 năm đầu tiên của chương trình (tất yếu việc này song hành với công tác bảo tồn những giá trị văn hóa đã bị mai một mang tính khẩn cấp). Cũng chính vì thế mà các nhà quản lý không thể có cái nhìn toàn diện về văn hóa 54 tộc người trên bình diện tổng thể cũng như chi tiết. Do vậy, để tiếp tục triển khai có hiệu quả các Chương trình mục tiêu phát triển văn hóa trong thời gian tới, chúng ta cần thiết phải nhìn nhận, đánh giá lại chương trình mục tiêu, cần có những giải pháp, hoạch định đối với từng địa phương cụ thể, nghiên cứu lại cách thức quản lý và thực hiện chương trình, giao nhiệm vụ cho các đơn vị/cơ quan đúng với chức năng nhiệm vụ, phân bổ nguồn kinh phí hợp lý. Đặc biệt là nguồn dữ liệu của Chương trình này cần được lưu trữ có tính hệ thống, đồng bộ, tránh chồng chéo, nhằm khai thác hợp lý nguồn tài nguyên số, tài sản vô giá của quốc gia.
Hiện nay, trong sự phát triển của kinh tế du lịch toàn cầu, di sản văn hóa được coi là một dạng “tài nguyên đặc biệt”, bên cạnh các nguồn lực khác như: tài nguyên thiên nhiên, cơ sở vật chất, nguồn vốn, khoa học công nghệ, năng lực kinh doanh và quản lý…Việt Nam có lợi thế tự nhiên để phát triển du lịch, có nguồn tài nguyên du lịch dồi dào, là động lực quan trọng để phát triển ngành du lịch và thúc đẩy mọi mặt đời sống kinh tế - xã hội của địa phương. Đặc biệt trong đó, tài nguyên du lịch về văn hóa được xem là nguồn lực quan trọng, mang nhiều tính đặc trưng và có sức thu hút mạnh mẽ đối với du khách trong và ngoài nước. Đối với ngành du lịch, chất lượng dịch vụ được xác định chủ yếu thông qua sự thỏa mãn nhu cầu của du khách bằng sự trải nghiệm tại điểm đến và đáp ứng các yêu cầu của khách du lịch. Như vậy, làm thế nào để chúng ta có thể phát huy những giá trị di sản văn hóa, biến đó thành động lực để thúc đẩy phát triển ngành du lịch.
Thứ nhất, cần phải có chiến lược quy hoạch tổng thể, lộ trình cụ thể đối với việc trùng tu, tôn tạo và phát huy giá trị của các di tích Quốc gia đặc biệt, di tích quốc gia và các di tích cấp tỉnh thành điểm đến du lịch trong thời kỳ phát triển mới của đất nước.
Thứ hai, cần xác định có các chương trình hành động cụ thể đối với các di sản văn hóa đã được UNESCO vinh danh, xác định tập trung đầu tư nguồn lực mang tính trọng điểm quốc gia để bảo tồn và phát huy giá trị cốt lõi của di sản, tạo động lực thực sự để phát triển kinh tế du lịch.
Thứ ba, cần có định hướng bảo tồn các di sản văn hóa nằm trong danh mục di sản văn quốc gia, bởi chính những di sản này sẽ là điểm đến lý tưởng ở tại các địa phương có lợi thế và tiềm năng về phát triển kinh tế du lịch.
Thứ tư, cần phải có các giải pháp cụ thể để khai thác và phát huy giá trị di sản văn hóa tạo động lực phát triển kinh tế du lịch.
2. Giải pháp nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế du lịch Việt Nam dựa trên nền tảng bảo tồn di sản văn hóa trong bối cảnh hiện nay
Trong thực tiễn hoạt động quản lý văn hóa nói chung và công tác bảo tồn di sản văn hóa nói riêng thì vấn đề lớn đặt ra là phát triển phát triển kinh tế chưa đồng bộ với bảo tồn và phát triển văn hóa dẫn đến nhiều hệ lụy về xã hội. Đây cũng là nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng phát triển kinh tế không bền vững. Vì thế, chúng ta cần phải có những nguyên tắc chung khi bảo tồn và khai thác giá trị di sản văn hóa phục vụ phát triển kinh tế - xã hội nói chung và kinh tế du lịch nói riêng.
Nguyên tắc thứ nhất, bảo tồn và khai thác giá trị di sản văn hóa cần phải dựa vào điều kiện lịch sử, địa lý và tập quán canh tác đã hình thành nên các loại hình di sản văn hóa tiêu biểu cho từng dân tộc.
Nguyên tắc thứ hai, bảo tồn và khai thác giá trị di sản văn hóa phải căn cứ vào đặc thù vùng miền và đặc trưng văn hóa các dân tộc. Trước tiên chúng ta phải khẳng định rằng, đời sống vật chất được đảm bảo thì đời sống tinh thần mới phong phú và đa dạng. Muốn phát triển văn hóa thì đời sống vật chất cộng đồng phải được nâng lên, khắc phục được tình trạng đói nghèo, thu hẹp khoảng cách về mức sống, trình độ phát triển kinh tế...
Nguyên tắc thứ ba, bảo tồn và khai thác giá trị di sản văn hóa phải đáp ứng nhu cầu về văn hóa tâm linh của chủ thể văn hóa, thực hiện nghiêm túc chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước, đồng thời có những biện pháp ngăn chăn lại sự thâm nhập của tôn giáo mới không phù hợp với truyền thống văn hóa.
Thực tế cho thấy, ở địa phương nào làm tốt công tác bảo tồn di sản văn hóa sẽ đáp ứng được nhu cầu về đời sống văn hóa tâm linh của đồng bào thì địa phương đó kinh tế - xã hội phát triển, an ninh - quốc phòng cũng được đảm bảo. Vì vậy cần thiết phải giải quyết những vấn đề như sau: Nâng cao nhận thức của người dân về ý thức bảo tồn và phát huy di sản văn hóa. Bảo tồn và phát huy di sản văn hóa chính là yêu nước, là làm phong phú, đa dạng cho văn hóa Việt Nam. Đồng thời tạo ra sức đề kháng chống lại sự xâm nhập của văn hóa ngoại lai; Củng cố niềm tin, niềm tự hào dân tộc về bản sắc văn hóa Việt Nam; Vận động những người cao tuổi thường xuyên nhắc nhở, khích lệ con cháu mình tham gia giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc.
Nguyên tắc thứ tư, bảo tồn và khai thác giá trị di sản văn hóa phải gắn với quảng bá hình ảnh di sản nhằm mục tiêu phát triển du lịch để phát triển kinh tế, xã hội ở từng địa phương cụ thể.
Nguyên tắc thứ năm, bảo tồn và khai thác giá trị di sản văn hóa phải góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế du lịch phải gắn liền với phát triển nguồn nhân lực.
Đứng trước những biến đổi nhanh chóng về kinh tế - xã hội trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, đồng bào các dân tôc thiểu số đang lúng túng, mất định hướng. Vì thế, trách nhiệm của những người làm công tác quản lý di sản văn hóa là cần phải đưa ra định hướng và những giải pháp mang tính khả thi. Một trong những giải pháp đầu tiên đó chính là giải pháp về nguồn nhân lực, hay nói cách khác là các giải pháp liên quan đến chủ thể văn hóa và nguồn nhân lực du lịch. Bởi, chủ thể văn hóa chính là người sáng tạo, duy trì và hưởng thụ những giá trị của di sản văn hóa và ở một khía cạnh nào đó nếu phát triển du lịch cộng đồng, họ cũng chính là nguồn nhân lực để phát triển kinh tế du lịch. Đồng thời, nguồn nhân lực về du lịch được đào tạo chuyên nghiệp sẽ nâng cao chất lượng dịch vụ tạo đà cho phát triển ngành du lịch Việt Nam trong thời gian tới. Vì vậy, trong giai đoạn mới, chúng ta cần phải có những giải pháp cụ thể thiết thực để di sản văn hóa thực sự là nền tảng để thúc đẩy sự phát triển kinh tế du lịch:
Giải pháp bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa các dân tộc thiểu số tạo điểm đến trong hành trình du lịch Việt Nam.
Việc bảo tồn các thôn truyền thống của các dân tộc thiểu số (trong đó có cả di sản văn hóa vật thể và phi vật thể) là một vấn đề đặt ra mang tính cấp bách, cần thiết phải xây dựng những nội dung cụ thể theo từng đặc điểm riêng của từng thôn, nhằm bảo tồn những giá trị di sản văn hoá tạo điểm đến trong hành trình du lịch chính là nguồn lực để phát triển kinh tế du lịch. Do vậy, ngoài sự chung sức của cộng đồng, cũng cần có sự đầu tư hỗ trợ nhiều mặt của Trung ương và Nhà nước, của các Bộ ngành, các cấp chính quyền tại địa phương. Vì vậy, muốn bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa cần phải đầu tư có trọng điểm, lựa chọn làng/thôn/bản để làm mẫu điển hình với mục tiêu bảo tồn được những giá trị di sản văn hóa vật thể và phi vật thể mang tính bản sắc nhất của 54 dân tộc. Đồng thời, làng/thôn/bản sẽ trở thành một trung tâm thực hành và trao truyền di sản văn hóa tộc người, điều này sẽ tạo nguồn thu nhập ổn định, đảm bảo an sinh xã hội và an ninh chính trị, đồng thời bảo tồn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc một cách bền vững.
Giải pháp xã hội hoá tạo động lực thu hút các cá nhân, doanh nghiệp trong lĩnh vực văn hóa, du lịch đầu tư cho bảo tồn di sản và phát huy giá trị di sản văn hóa.
Căn cứ vào thực trạng của các di sản văn hóa vật thể và phi vật thể, cũng như những chỉ tiêu đã đạt được trong công tác bảo tồn di sản, chúng ta cần phải giải quyết các vấn đề về cả quan điểm lẫn biện pháp thực thi, đây thực sự là những điểm nghẽn và những thách thức trong hoạt động xã hội hóa của công tác bảo tồn di sản văn hóa:
Thứ nhất, đánh thức tiềm năng sáng tạo của quần chúng, đầu tư để quần chúng tham gia vào việc bảo tồn di sản từ đó mới tạo ra nguồn lực phát triển kinh tế du lịch.
Thứ hai, là khi lựa chọn để tiến hành xã hội hóa di sản, cần thiết phải có sự hoạch định, nên chọn lĩnh vực nào là cần thiết ưu tiên trước, cái nào tập trung đầu tư nhiều hơn, vì nếu tiến hành xã hội hóa công việc này một cách tràn lan dễ khiến ít có hiệu quả.
Thứ ba, tạo hành lang pháp lý, cơ chế đặc thù nhằm khuyến kích các cá nhân, doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực bảo tồn và khai thác giá trị văn hóa nhằm thúc đẩy và phát triển kinh tế du lịch nhất là đối với các di sản văn hóa gắn với cộng đồng.
3. Kết Luận
Trong thời gian tới, để di sản văn hóa là một nguồn lực quan trọng thúc đẩy phát triển kinh tế du lịch, các nhà quản lý văn hóa cần phải rà soát các văn bản quản lý Nhà nước, xây dựng chính sách và biện pháp đầu tư thích hợp vừa bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa, vừa xây dựng đời sống văn hoá mới phù hợp đời sống tâm linh, tín ngưỡng, nhưng phải tạo cơ chế đặc thù, đẩy mạnh xã hội hóa, chỉ có như vậy mới có thể tạo động thực sự để phát triển kinh tế - xã hội nói chung và kinh tế du lịch nói riêng. Chỉ có như vậy, các giá trị di sản văn hóa mới phát huy tốt tiềm năng và vai trò của mình trong đời sống đương đại./.
Tại Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương năm khóa VIII, Đảng ta đã xác định tính chất tiên tiến của nền văn hóa Việt Nam: “Tiên tiến là yêu nước và tiến bộ mà nội dung cốt lõi là lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội theo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, nhằm mục tiêu tất cả vì con người, vì hạnh phúc và sự phát triển phong phú, tự do, toàn diện của con người trong mối quan hệ hài hòa giữa cá nhân và cộng đồng, giữa xã hội và tự nhiên. Tiên tiến không chỉ về nội dung tư tưởng mà cả trong hình thức biểu hiện, trong các phương tiện truyền tải nội dung” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 1998, tr. 55-56). Trong Nghị quyết của Hội nghị đã xác định về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc: nền văn hóa mà chúng ta xây dựng bao gồm toàn bộ các hoạt động tinh thần của xã hội, từ tư tưởng, đạo đức, lối sống tới văn học, nghệ thuật; thông tin đại chúng; giáo dục - đào tạo; khoa học - công nghệ; bảo tồn di sản văn hóa; văn hóa các dân tộc thiểu số; xây dựng môi trường văn hóa; giao lưu văn hóa quốc tế... (Đảng Cộng sản Việt Nam, 1998, tr. 55-56). Đây là những lĩnh vực góp phần tạo nên nền tảng tinh thần của xã hội. Như vậy, để tạo động lực cho phát triển nền văn hóa, chúng ta cần thiết phải xây dựng một cách tổng thể, đồng bộ các hoạt động tinh thần của xã hội. Thực tiễn cho thấy, quá trình xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc thời gian qua đã làm thay đổi căn bản nhận thức của cán bộ, nhân dân về vị trí, vai trò của văn hóa trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước bền vững, có cái nhìn toàn diện, khoa học hơn về văn hóa. Mặt khác, cũng đã bộc lộ nhiều vấn đề cần phải giải quyết, một trong những vấn đề đó là cần thiết phải tăng cường nguồn lực bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa tạo động lực thực sự về kinh tế để phát triển bền vững cho đất nước.
Trong những năm qua, các di tích lịch sử văn hóa đã được Đảng và Nhà nước ta triển khai bảo tồn và phát huy trong phạm vi cả nước với nhiều hình thức và cấp độ khác nhau. Vốn đầu tư để tôn tạo, trùng tu các di tích này được lấy từ nhiều nguồn khác nhau như ngân sách nhà nước, xã hội hóa… Những thành tựu đạt được đã góp phần không nhỏ trong việc giáo dục cho thế hệ trẻ về bản sắc văn hóa dân tộc, về tính cố kết cộng đồng của cộng đồng quốc gia dân tộc Việt Nam. Thông qua công tác sưu tầm, trưng bày, hệ thống các bảo tàng đã khẳng định được vị thế của mình trong toàn bộ hệ thống thiết chế văn hóa nói chung. Những thành tựu này còn giáo dục truyền thống yêu nước, ý thức giữ gìn, tự hào và tôn vinh bản sắc văn hóa của dân tộc, đáp ứng nhu cầu và nâng cao đời sống văn hóa tinh thần của quần chúng nhân dân. Chương trình Bảo tồn và phát huy di sản văn hóa phi vật thể trong hơn 25 năm qua đã tích lũy được một khối lượng dữ liệu khổng lồ (Lưu trữ tại: Trung tâm dữ liệu di sản văn hóa), song hành với đó là sự khôi phục, phục dựng được nhiều lễ hội, phong tục tập quán có nguy cơ mai một của 54 dân tộc Việt Nam. Việt Nam đã có 16 di sản văn hóa phi vật thể được UNESCO vinh danh là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại và cần thiết được bảo vệ khẩn cấp: Nhã nhạc cung đình Việt Nam (công nhận năm 2003); Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên (công nhận năm 2005); Dân ca quan họ Bắc Ninh (công nhận năm 2009); Nghệ thuật ca trù (công nhận năm 2009); Hội Gióng ở đền Phù Đổng và đền Sóc, Hà Nội (công nhận năm 2010); Nghệ thuật hát Xoan (công nhận năm 2011 và năm 2017); Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương (công nhận năm 2012); Nghệ thuật đờn ca tài tử Nam Bộ (công nhận năm 2013); Dân ca ví, giặm Nghệ Tĩnh (công nhận năm 2014); Nghi lễ và trò chơi kéo co (công nhận năm 2015); Thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ của người Việt (công nhận năm 2016); Nghệ thuật bài chòi Trung Bộ (công nhận năm 2017); Thực hành then của người Tày, Nùng, Thái (công nhận năm 2019); Nghệ thuật xòe Thái (công nhận năm 2021); Nghệ thuật làm gốm của người Chăm (công nhận năm 2022); Lễ hội Vía Bà Chúa Xứ núi Sam (công nhận năm 2024). Ngoài ra, theo số liệu thống kê của Cục Di sản văn hóa, tính đến năm 2024, Việt Nam đã có 502 di sản văn hóa phi vật thể được ghi vào danh mục quốc gia (Cục Di sản văn hóa, 2025). Mặt khác, di sản văn hóa phi vật thể chủ yếu được lưu truyền cho đời sau bằng hình thức truyền khẩu, vì vậy, nghệ nhân dân gian, chủ thể nắm giữ di sản văn hóa, có một vai trò quan trọng trong sự hồi sinh, phát triển của loại hình văn hóa này. Vai trò của nghệ nhân dân gian còn được UNESCO (Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên Hợp Quốc) gọi là Báu vật nhân văn sống cũng được Đảng và Nhà nước ta quan tâm. Việc tư liệu hóa và phục dựng và lập hồ sơ cấp quốc gia, chế độ đãi ngộ đội với nghệ nhân dân gian trong lĩnh vực di sản văn hóa phi vật thể đã tác động không nhỏ vào quá trình nhận thức của những người làm công tác bảo vệ di sản văn hóa cũng như chủ nhân đích thực của di sản văn hóa, góp phần chuyển hóa về mặt nhận thức, tạo được sự trân trọng của cộng đồng đối với di sản văn hóa, tạo ra nhu cầu hưởng thụ chính những di sản văn hóa đó. Đồng thời, những di sản văn hóa phi vật thể đã đã mang lại nền tảng vững chắc về mặt tinh thần cho chính những người dân địa phương, làm cho họ tin tưởng vào Nhà nước, tin tưởng những gì thuộc về đời sống tinh thần của họ được Nhà nước bảo vệ. Điều này là vô cùng cần thiết và quan trọng trong chiến lược an ninh quốc gia. Đồng thời di sản văn hóa sẽ được kế tục, duy trì và phát triển.
Tuy nhiên, trong thời gian qua, công tác bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa cũng đã bộc lộ nhiều mặt hạn chế và mặt trái cần khắc phục, đó là: Người dân chưa tự chủ động bảo vệ di sản của chính họ mà có tư tưởng trông chờ, ỷ lại vào những chương trình bảo tồn của Nhà nước. Chúng ta luôn đưa ra khẩu hiệu tôn vinh nghệ nhân nhưng trên thực tế chưa có chế độ hỗ trợ đối với những người bảo vệ di sản văn hóa (chủ nhân của nền văn hóa), chưa tạo cơ hội nghề nghiệp cho chủ nhân của di sản văn hóa, chưa kết nối được di sản văn hóa với du lịch để tạo thành động lực cho sự phát triển kinh tế nâng cao đời sống cho người dân. Chương trình mục tiêu về văn hóa đặt ra nhiệm vụ “Nâng cao nhận thức của toàn Đảng, toàn dân, của các cấp, các ngành, huy động sức mạnh của toàn xã hội tham gia, đóng góp vào sự nghiệp phát triển văn hóa. Bảo tồn các di sản văn hóa và phục vụ việc thực hiện những nhiệm vụ chính trị quan trọng của Đảng và Nhà nước. Tiếp tục phát huy kết quả đã đạt được trong việc xây dựng và phát triển văn hóa, thể thao cơ sở, nhất là khu vực vùng sâu, vùng xa, vùng miền núi, biên giới, hải đảo, vùng đồng bào các dân tộc thiểu số. Xóa các điểm trắng về văn hóa, xây dựng những điểm sáng về văn hóa trên các mặt, trên các lĩnh vực của đời sống tinh thần” (Thủ tướng Chính phủ, 2015). Sau khi tổng kết chương trình, thì có 7 trong số 20 chỉ tiêu đã không hoàn thành theo kế hoạch đề ra. Công tác đầu tư, tu bổ, tôn tạo 70% di tích lịch sử và cách mạng, 80% di tích kiến trúc nghệ thuật và danh thắng được công nhận là di tích cấp quốc gia. Vậy mà, tổng thể chương trình mới chỉ tu bổ và tôn tạo được 130 di tích/3062 di tích đạt 4,3%; hỗ trợ chống xuống cấp 921 di tích/1200 di tích (Báo cáo số 211/ BC-CP ngày 17/10/2011); Sưu tầm các di sản văn hóa phi vật thể tính đến 2010 là 652 dự án, đến 2014 là 742 dự án (Dữ liệu của Chương trình mục tiêu được lưu tại Trung tâm tâm dữ liệu di sản văn hóa, Viện Văn hóa Nghệ thuật Quốc gia Việt Nam). Trong 15 năm thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia về văn hóa, đặc biệt là chương trình bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể, các nhà khoa học, nhà nghiên cứu, nhà quản lý tuy đã nghiên cứu, bảo tồn di sản với số lượng lên đến 742 dự án nhưng đi sâu nghiên cứu về từng dân tộc còn quá ít 72/742, mà đáng lẽ ra đây chính là mục tiêu và nhiệm vụ đầu tiên phải thực hiện xong trong vòng 5 năm đầu tiên của chương trình (tất yếu việc này song hành với công tác bảo tồn những giá trị văn hóa đã bị mai một mang tính khẩn cấp). Cũng chính vì thế mà các nhà quản lý không thể có cái nhìn toàn diện về văn hóa 54 tộc người trên bình diện tổng thể cũng như chi tiết. Do vậy, để tiếp tục triển khai có hiệu quả các Chương trình mục tiêu phát triển văn hóa trong thời gian tới, chúng ta cần thiết phải nhìn nhận, đánh giá lại chương trình mục tiêu, cần có những giải pháp, hoạch định đối với từng địa phương cụ thể, nghiên cứu lại cách thức quản lý và thực hiện chương trình, giao nhiệm vụ cho các đơn vị/cơ quan đúng với chức năng nhiệm vụ, phân bổ nguồn kinh phí hợp lý. Đặc biệt là nguồn dữ liệu của Chương trình này cần được lưu trữ có tính hệ thống, đồng bộ, tránh chồng chéo, nhằm khai thác hợp lý nguồn tài nguyên số, tài sản vô giá của quốc gia.
Hiện nay, trong sự phát triển của kinh tế du lịch toàn cầu, di sản văn hóa được coi là một dạng “tài nguyên đặc biệt”, bên cạnh các nguồn lực khác như: tài nguyên thiên nhiên, cơ sở vật chất, nguồn vốn, khoa học công nghệ, năng lực kinh doanh và quản lý…Việt Nam có lợi thế tự nhiên để phát triển du lịch, có nguồn tài nguyên du lịch dồi dào, là động lực quan trọng để phát triển ngành du lịch và thúc đẩy mọi mặt đời sống kinh tế - xã hội của địa phương. Đặc biệt trong đó, tài nguyên du lịch về văn hóa được xem là nguồn lực quan trọng, mang nhiều tính đặc trưng và có sức thu hút mạnh mẽ đối với du khách trong và ngoài nước. Đối với ngành du lịch, chất lượng dịch vụ được xác định chủ yếu thông qua sự thỏa mãn nhu cầu của du khách bằng sự trải nghiệm tại điểm đến và đáp ứng các yêu cầu của khách du lịch. Như vậy, làm thế nào để chúng ta có thể phát huy những giá trị di sản văn hóa, biến đó thành động lực để thúc đẩy phát triển ngành du lịch.
Thứ nhất, cần phải có chiến lược quy hoạch tổng thể, lộ trình cụ thể đối với việc trùng tu, tôn tạo và phát huy giá trị của các di tích Quốc gia đặc biệt, di tích quốc gia và các di tích cấp tỉnh thành điểm đến du lịch trong thời kỳ phát triển mới của đất nước.
Thứ hai, cần xác định có các chương trình hành động cụ thể đối với các di sản văn hóa đã được UNESCO vinh danh, xác định tập trung đầu tư nguồn lực mang tính trọng điểm quốc gia để bảo tồn và phát huy giá trị cốt lõi của di sản, tạo động lực thực sự để phát triển kinh tế du lịch.
Thứ ba, cần có định hướng bảo tồn các di sản văn hóa nằm trong danh mục di sản văn quốc gia, bởi chính những di sản này sẽ là điểm đến lý tưởng ở tại các địa phương có lợi thế và tiềm năng về phát triển kinh tế du lịch.
Thứ tư, cần phải có các giải pháp cụ thể để khai thác và phát huy giá trị di sản văn hóa tạo động lực phát triển kinh tế du lịch.
2. Giải pháp nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế du lịch Việt Nam dựa trên nền tảng bảo tồn di sản văn hóa trong bối cảnh hiện nay
Trong thực tiễn hoạt động quản lý văn hóa nói chung và công tác bảo tồn di sản văn hóa nói riêng thì vấn đề lớn đặt ra là phát triển phát triển kinh tế chưa đồng bộ với bảo tồn và phát triển văn hóa dẫn đến nhiều hệ lụy về xã hội. Đây cũng là nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng phát triển kinh tế không bền vững. Vì thế, chúng ta cần phải có những nguyên tắc chung khi bảo tồn và khai thác giá trị di sản văn hóa phục vụ phát triển kinh tế - xã hội nói chung và kinh tế du lịch nói riêng.
Nguyên tắc thứ nhất, bảo tồn và khai thác giá trị di sản văn hóa cần phải dựa vào điều kiện lịch sử, địa lý và tập quán canh tác đã hình thành nên các loại hình di sản văn hóa tiêu biểu cho từng dân tộc.
Nguyên tắc thứ hai, bảo tồn và khai thác giá trị di sản văn hóa phải căn cứ vào đặc thù vùng miền và đặc trưng văn hóa các dân tộc. Trước tiên chúng ta phải khẳng định rằng, đời sống vật chất được đảm bảo thì đời sống tinh thần mới phong phú và đa dạng. Muốn phát triển văn hóa thì đời sống vật chất cộng đồng phải được nâng lên, khắc phục được tình trạng đói nghèo, thu hẹp khoảng cách về mức sống, trình độ phát triển kinh tế...
Nguyên tắc thứ ba, bảo tồn và khai thác giá trị di sản văn hóa phải đáp ứng nhu cầu về văn hóa tâm linh của chủ thể văn hóa, thực hiện nghiêm túc chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước, đồng thời có những biện pháp ngăn chăn lại sự thâm nhập của tôn giáo mới không phù hợp với truyền thống văn hóa.
Thực tế cho thấy, ở địa phương nào làm tốt công tác bảo tồn di sản văn hóa sẽ đáp ứng được nhu cầu về đời sống văn hóa tâm linh của đồng bào thì địa phương đó kinh tế - xã hội phát triển, an ninh - quốc phòng cũng được đảm bảo. Vì vậy cần thiết phải giải quyết những vấn đề như sau: Nâng cao nhận thức của người dân về ý thức bảo tồn và phát huy di sản văn hóa. Bảo tồn và phát huy di sản văn hóa chính là yêu nước, là làm phong phú, đa dạng cho văn hóa Việt Nam. Đồng thời tạo ra sức đề kháng chống lại sự xâm nhập của văn hóa ngoại lai; Củng cố niềm tin, niềm tự hào dân tộc về bản sắc văn hóa Việt Nam; Vận động những người cao tuổi thường xuyên nhắc nhở, khích lệ con cháu mình tham gia giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc.
Nguyên tắc thứ tư, bảo tồn và khai thác giá trị di sản văn hóa phải gắn với quảng bá hình ảnh di sản nhằm mục tiêu phát triển du lịch để phát triển kinh tế, xã hội ở từng địa phương cụ thể.
Nguyên tắc thứ năm, bảo tồn và khai thác giá trị di sản văn hóa phải góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế du lịch phải gắn liền với phát triển nguồn nhân lực.
Đứng trước những biến đổi nhanh chóng về kinh tế - xã hội trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, đồng bào các dân tôc thiểu số đang lúng túng, mất định hướng. Vì thế, trách nhiệm của những người làm công tác quản lý di sản văn hóa là cần phải đưa ra định hướng và những giải pháp mang tính khả thi. Một trong những giải pháp đầu tiên đó chính là giải pháp về nguồn nhân lực, hay nói cách khác là các giải pháp liên quan đến chủ thể văn hóa và nguồn nhân lực du lịch. Bởi, chủ thể văn hóa chính là người sáng tạo, duy trì và hưởng thụ những giá trị của di sản văn hóa và ở một khía cạnh nào đó nếu phát triển du lịch cộng đồng, họ cũng chính là nguồn nhân lực để phát triển kinh tế du lịch. Đồng thời, nguồn nhân lực về du lịch được đào tạo chuyên nghiệp sẽ nâng cao chất lượng dịch vụ tạo đà cho phát triển ngành du lịch Việt Nam trong thời gian tới. Vì vậy, trong giai đoạn mới, chúng ta cần phải có những giải pháp cụ thể thiết thực để di sản văn hóa thực sự là nền tảng để thúc đẩy sự phát triển kinh tế du lịch:
Giải pháp bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa các dân tộc thiểu số tạo điểm đến trong hành trình du lịch Việt Nam.
Việc bảo tồn các thôn truyền thống của các dân tộc thiểu số (trong đó có cả di sản văn hóa vật thể và phi vật thể) là một vấn đề đặt ra mang tính cấp bách, cần thiết phải xây dựng những nội dung cụ thể theo từng đặc điểm riêng của từng thôn, nhằm bảo tồn những giá trị di sản văn hoá tạo điểm đến trong hành trình du lịch chính là nguồn lực để phát triển kinh tế du lịch. Do vậy, ngoài sự chung sức của cộng đồng, cũng cần có sự đầu tư hỗ trợ nhiều mặt của Trung ương và Nhà nước, của các Bộ ngành, các cấp chính quyền tại địa phương. Vì vậy, muốn bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa cần phải đầu tư có trọng điểm, lựa chọn làng/thôn/bản để làm mẫu điển hình với mục tiêu bảo tồn được những giá trị di sản văn hóa vật thể và phi vật thể mang tính bản sắc nhất của 54 dân tộc. Đồng thời, làng/thôn/bản sẽ trở thành một trung tâm thực hành và trao truyền di sản văn hóa tộc người, điều này sẽ tạo nguồn thu nhập ổn định, đảm bảo an sinh xã hội và an ninh chính trị, đồng thời bảo tồn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc một cách bền vững.
Giải pháp xã hội hoá tạo động lực thu hút các cá nhân, doanh nghiệp trong lĩnh vực văn hóa, du lịch đầu tư cho bảo tồn di sản và phát huy giá trị di sản văn hóa.
Căn cứ vào thực trạng của các di sản văn hóa vật thể và phi vật thể, cũng như những chỉ tiêu đã đạt được trong công tác bảo tồn di sản, chúng ta cần phải giải quyết các vấn đề về cả quan điểm lẫn biện pháp thực thi, đây thực sự là những điểm nghẽn và những thách thức trong hoạt động xã hội hóa của công tác bảo tồn di sản văn hóa:
Thứ nhất, đánh thức tiềm năng sáng tạo của quần chúng, đầu tư để quần chúng tham gia vào việc bảo tồn di sản từ đó mới tạo ra nguồn lực phát triển kinh tế du lịch.
Thứ hai, là khi lựa chọn để tiến hành xã hội hóa di sản, cần thiết phải có sự hoạch định, nên chọn lĩnh vực nào là cần thiết ưu tiên trước, cái nào tập trung đầu tư nhiều hơn, vì nếu tiến hành xã hội hóa công việc này một cách tràn lan dễ khiến ít có hiệu quả.
Thứ ba, tạo hành lang pháp lý, cơ chế đặc thù nhằm khuyến kích các cá nhân, doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực bảo tồn và khai thác giá trị văn hóa nhằm thúc đẩy và phát triển kinh tế du lịch nhất là đối với các di sản văn hóa gắn với cộng đồng.
3. Kết Luận
Trong thời gian tới, để di sản văn hóa là một nguồn lực quan trọng thúc đẩy phát triển kinh tế du lịch, các nhà quản lý văn hóa cần phải rà soát các văn bản quản lý Nhà nước, xây dựng chính sách và biện pháp đầu tư thích hợp vừa bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa, vừa xây dựng đời sống văn hoá mới phù hợp đời sống tâm linh, tín ngưỡng, nhưng phải tạo cơ chế đặc thù, đẩy mạnh xã hội hóa, chỉ có như vậy mới có thể tạo động thực sự để phát triển kinh tế - xã hội nói chung và kinh tế du lịch nói riêng. Chỉ có như vậy, các giá trị di sản văn hóa mới phát huy tốt tiềm năng và vai trò của mình trong đời sống đương đại./.
TS, Vũ Diệu Trung
Giám đốc Trung tâm Dữ liệu Di sản Văn hóa, Viện Văn hóa, Nghệ thuật, Thể thao và Du lịch Việt Nam
----------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------
Tài liệu tham khảo
• Chính phủ. (2011). Báo cáo số 211/ BC-CP ngày 17/10/2011 về việc Kết quả thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2006 - 2010, triển khai kế hoạch 2011 và đề xuất danh mục chương trình mục tiêu quốc gia 2012 - 2015.
• Cục Di sản văn hóa. (2025, 1 tháng 6). Danh mục Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia. Cổng thông tin điện tử Cục Di sản văn hóa. https://dsvh.gov.vn/danh-muc-di-san-van-hoa-phi-vat-the-quoc-gia-1789.
• Đảng Cộng sản Việt Nam. (1998). Văn kiện Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương khóa VIII. Nxb Chính trị quốc gia.
• Thủ tướng Chính phủ. (2011). Quyết định số 1270/QĐ-TTg ngày 27/7/2011 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án “Bảo tồn, phát triển văn hóa các dân tộc thiểu số Việt Nam đến năm 2020”.
• Thủ tướng Chính phủ. (2015). Quyết định của Thủ tướng Chính phủ số 1211/QĐ-TTg ngày 05/09/2015 về việc Phê duyết chương trình mục tiêu về văn hóa giai đoan 2012 - 2015.
• Viện Văn hóa Nghệ thuật Thể thao và Du lịch Việt Nam. (1999 - 2025). Dữ liệu của Chương trình mục tiêu được lưu tại Trung tâm tâm dữ liệu di sản văn hóa, (1999 - 2025).
• Chính phủ. (2011). Báo cáo số 211/ BC-CP ngày 17/10/2011 về việc Kết quả thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2006 - 2010, triển khai kế hoạch 2011 và đề xuất danh mục chương trình mục tiêu quốc gia 2012 - 2015.
• Cục Di sản văn hóa. (2025, 1 tháng 6). Danh mục Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia. Cổng thông tin điện tử Cục Di sản văn hóa. https://dsvh.gov.vn/danh-muc-di-san-van-hoa-phi-vat-the-quoc-gia-1789.
• Đảng Cộng sản Việt Nam. (1998). Văn kiện Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương khóa VIII. Nxb Chính trị quốc gia.
• Thủ tướng Chính phủ. (2011). Quyết định số 1270/QĐ-TTg ngày 27/7/2011 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án “Bảo tồn, phát triển văn hóa các dân tộc thiểu số Việt Nam đến năm 2020”.
• Thủ tướng Chính phủ. (2015). Quyết định của Thủ tướng Chính phủ số 1211/QĐ-TTg ngày 05/09/2015 về việc Phê duyết chương trình mục tiêu về văn hóa giai đoan 2012 - 2015.
• Viện Văn hóa Nghệ thuật Thể thao và Du lịch Việt Nam. (1999 - 2025). Dữ liệu của Chương trình mục tiêu được lưu tại Trung tâm tâm dữ liệu di sản văn hóa, (1999 - 2025).