Tư tưởng của Hồ Chí Minh về văn học, nghệ thuật được thể hiện cô đọng trong một số bài viết, bài phát biểu cũng như các bức thư gửi tới văn nghệ sĩ nhân dịp các sự kiện văn hóa, văn nghệ quan trọng. Khi đề cập đến lĩnh vực này, Hồ Chí Minh đặc biệt nhấn mạnh một số phương diện cơ bản sau:
1. Về chức năng, nhiệm vụ của văn học, nghệ thuật
Thứ nhất, văn học, nghệ thuật phải phản ánh chân thực hiện thực đời sống
Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, một tác phẩm nghệ thuật thực sự có giá trị trước hết phải bảo đảm tính chân thật. Tính chân thật trong nghệ thuật thể hiện ở sự gần gũi với đời sống, phản ánh đúng thực tiễn sinh động của quần chúng nhân dân. Người khẳng định: “Nghệ thuật phải gần với cuộc sống”, phải “đi sâu vào quần chúng. Phải đi sát sự thực”(1). Chỉ khi gắn bó chặt chẽ với thực tiễn, tác phẩm mới có thể phản ánh một cách sinh động và thuyết phục hiện thực xã hội, ca ngợi những tấm gương sáng trong đời sống, tôn vinh chủ nghĩa anh hùng cách mạng của con người Việt Nam, từ đó cổ vũ, khơi dậy tinh thần hành động trong quần chúng.
Đồng thời, Hồ Chí Minh nhấn mạnh yêu cầu nghệ sĩ không được né tránh sự thật khi phản ánh đời sống, dù sự thật đó mang tính tích cực hay tiêu cực. Người viết: “Viết để nêu những cái hay, cái tốt của dân ta, của bộ đội ta, của cán bộ ta, của bạn ta. Đồng thời, phê bình những khuyết điểm của chúng ta, của cán bộ, của nhân dân, của bộ đội. Không nên chỉ viết cái tốt mà giấu cái xấu. Nhưng phê bình phải đúng đắn. Nêu cái hay, cái tốt, thì phải có chừng mực, chớ phóng đại. Có thế nào nói thế ấy. Bộ đội và nhân dân ta cũng đủ nhiều cái hay để nêu lên, không cần phải bịa đặt ra”(2).
Quan điểm này thể hiện sâu sắc tư tưởng “vị nhân sinh” trong văn nghệ của Hồ Chí Minh: nghệ thuật chân chính là nghệ thuật gắn liền với đời sống con người, phản ánh hiện thực một cách khách quan và trung thực, không tô hồng, cũng không bôi đen, nhằm phục vụ con người và vì con người.
Thứ hai, tác phẩm văn nghệ phải có tính giáo dục và tinh thần đấu tranh cách mạng
Một trong những chức năng xã hội quan trọng của văn hóa nói chung, văn học, nghệ thuật nói riêng, là chức năng giáo dục. Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Văn hóa phải thiết thực phục vụ nhân dân, góp phần vào nâng cao đời sống vui tươi, lành mạnh của quần chúng. Vì vậy, nội dung văn hóa phải có ý nghĩa giáo dục”(3). Văn học, nghệ thuật cần phát huy vai trò to lớn của mình trong việc giáo dục con người, đồng thời góp phần vào sự nghiệp cải tạo và phát triển xã hội.
Trước hết, văn học, nghệ thuật cần tham gia tích cực vào quá trình giáo dục, bồi dưỡng và hoàn thiện nhân cách con người. Hồ Chí Minh từng căn dặn đội ngũ văn nghệ sĩ: “Quần chúng đang chờ đợi những tác phẩm văn nghệ xứng đáng với thời đại vẻ vang của chúng ta, những tác phẩm ca tụng những con người mới, việc mới chẳng những để làm gương mẫu cho chúng ta ngày nay, mà còn để giáo dục con cháu ta đời sau”(4). Tác động giáo dục của văn học, nghệ thuật không chỉ giới hạn trong khuôn khổ đạo đức, chính trị hay pháp luật, mà sâu sắc hơn, đó là sự cảm hóa từ chủ nghĩa nhân văn, có khả năng cải biến đời sống tinh thần và đạo đức con người. Văn học, nghệ thuật không chỉ truyền tải cái đẹp, bồi dưỡng khả năng thưởng thức thẩm mỹ, mà còn góp phần hình thành lối sống đẹp, hướng con người tới các giá trị Chân - Thiện - Mỹ. Đó chính là vai trò “thanh lọc”, khả năng “nhân đạo hóa” của nghệ thuật chân chính.
Bên cạnh chức năng giáo dục, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn xác định rõ vai trò chiến đấu của văn học, nghệ thuật như một phương tiện đấu tranh cách mạng. Ngay từ năm 1943, trong bài thơ Khán Thiên gia thi hữu cảm (Cảm tưởng đọc Thiên gia thi), Người khẳng định:
“Nay ở trong thơ nên có thép
Nhà thơ cũng phải biết xung phong”(5).
Đến năm 1951, trong Thư gửi họa sĩ nhân dịp triển lãm hội họa, Hồ Chí Minh tiếp tục khẳng định: “Văn hóa, nghệ thuật cũng là một mặt trận. Anh chị em là chiến sĩ trên mặt trận ấy”(6). Theo đó, văn nghệ sĩ không chỉ là người sáng tạo nghệ thuật, mà còn là những chiến sĩ tiên phong trong cuộc đấu tranh chống lại cái lạc hậu, tiêu cực trong xã hội. Người chỉ rõ: “Trong thời kỳ quá độ, bên những thành tích tốt đẹp là chính, vẫn còn sót lại những cái xấu xa của xã hội cũ như: tham ô, lãng phí, lười biếng, quan liêu, đánh con, đập vợ,… Đối với những thói xấu đó, văn nghệ cũng cần phải phê bình rất nghiêm khắc, nhằm làm cho xã hội ta ngày càng lành mạnh tốt đẹp hơn”(7).
Tuy nhiên, để chức năng giáo dục và đấu tranh của văn học nghệ thuật thực sự phát huy hiệu quả, Hồ Chí Minh yêu cầu sự đúng mực trong việc khen - chê, phê bình - ca ngợi. Người nhấn mạnh: “Nói tóm lại: phải có khen cũng phải có chê. Nhưng khen hay là chê đều phải đúng mức. Khen quá lời thì người được khen cũng hổ ngươi. Mà chê quá đáng thì người bị chê cũng khó tiếp thụ”(8).
Từ những quan điểm trên, có thể thấy tư tưởng Hồ Chí Minh về văn học, nghệ thuật luôn nhất quán trên nền tảng nhân văn sâu sắc, đề cao vai trò giáo dục và chiến đấu của nghệ thuật trong việc xây dựng con người mới và xã hội mới.
Thứ ba, văn học, nghệ thuật phải đảm bảo tính thẩm mỹ, sức hấp dẫn về nghệ thuật
Thẩm mỹ là đặc trưng cơ bản và chức năng đặc thù của văn học, nghệ thuật. Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt đề cao giá trị nghệ thuật, tức là hình thức thể hiện mang tính thẩm mỹ, cái hay, cái đẹp, cái hấp dẫn của tác phẩm văn nghệ. Trong diễn văn bế mạc Đại hội Liên hoan Anh hùng, Chiến sĩ thi đua toàn quốc lần thứ III (ngày 6/5/1962), Người nhấn mạnh yêu cầu đối với tác phẩm văn nghệ là phải “miêu tả cho hay, cho chân thật và cho hùng hồn những người, những việc ấy, bằng văn, bằng thơ, bằng vẽ và bằng các nghệ thuật khác…”(9). Ba yếu tố: hay - chân thật - hùng hồn cần được thống nhất chặt chẽ trong mỗi tác phẩm nghệ thuật. Chính sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa nội dung sâu sắc và hình thức nghệ thuật hấp dẫn mới tạo nên tác phẩm nghệ thuật đích thực, có giá trị bền vững, có khả năng chạm đến trái tim người đọc, người xem, thỏa mãn nhu cầu thẩm mỹ của quần chúng: “Khi chưa xem thì muốn xem, xem rồi thì có bổ ích”(10).
Theo Hồ Chí Minh, sức hấp dẫn của một tác phẩm nghệ thuật không chỉ đến từ tính chân thật và khả năng chiến đấu của nó như một loại “vũ khí cách mạng”, mà còn từ sức truyền cảm, sự sinh động, tươi sáng của nghệ thuật. Người khẳng định: “Quần chúng mong muốn những tác phẩm có nội dung chân thật và phong phú, có hình thức trong sáng và vui tươi”(11). Như vậy, nghệ thuật không thể chỉ khô khan, nặng tính tuyên truyền mà thiếu đi cảm xúc, tính thẩm mỹ. Những yêu cầu mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đặt ra đối với tác phẩm văn nghệ đều nhằm hướng tới sự hài hòa và toàn diện cả về nội dung tư tưởng lẫn hình thức nghệ thuật, tức là hướng đến giá trị Chân - Thiện - Mỹ trong sáng tạo nghệ thuật.
Để đạt tới những giá trị ấy, Hồ Chí Minh đặc biệt nhấn mạnh vai trò của sự nghiêm túc, chân thành và trách nhiệm trong quá trình sáng tác. Người phê phán các biểu hiện lệch lạc, thiếu lành mạnh trong hoạt động nghệ thuật, như bệnh sơ lược, bôi đen hoặc tô hồng hiện thực, hình thức cầu kỳ, rỗng tuếch về nội dung, hay việc lạm dụng ngôn ngữ, đặc biệt là mượn dùng tiếng nước ngoài một cách tùy tiện. Người nhắc nhở: “Quần chúng còn mong các đồng chí văn nghệ chú ý giùm hai điều nữa: Một là chớ mượn chữ Hán quá nhiều, thậm chí có khi ‘chữ Tạc vạc ra chữ Tộ’. Hai là khi viết phải cẩn thận hơn, tránh viết những câu kỳ khôi như ‘no cơm áo’, ‘cười thênh thênh’,...”(12). Những phê bình thẳng thắn và tinh tế đó cho thấy Hồ Chí Minh luôn yêu cầu cao về chất lượng tư tưởng và nghệ thuật trong mỗi tác phẩm văn học, nghệ thuật.
Như vậy, có thể thấy rằng Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ đặt ra những yêu cầu khắt khe đối với người làm nghệ thuật, mà còn truyền cảm hứng, định hướng cho sự phát triển nền văn nghệ cách mạng. Những tiêu chí mà Người đề ra chính là động lực để văn học, nghệ thuật Việt Nam vượt qua sự dễ dãi, phiến diện, tầm thường để vươn tới những giá trị cao đẹp, chân thực và nhân văn - những giá trị Chân - Thiện - Mỹ mà nghệ thuật chân chính luôn hướng tới.
2. Về sứ mệnh của văn nghệ sĩ
Văn nghệ sĩ là chủ thể sáng tạo nghệ thuật, là người cha tinh thần của những tác phẩm văn học, nghệ thuật. Vì vậy, đối với chất lượng của tác phẩm nghệ thuật cũng như đối với sự tồn tại, phát triển của nền văn học, nghệ thuật, đây là yếu tố quan trọng quyết định hàng đầu. Theo quan điểm Hồ Chí Minh, văn nghệ sĩ còn có vai trò quan trọng, đặc biệt bởi đó không chỉ là người nghệ sĩ, tức không chỉ là chủ thể sáng tạo ra sản phẩm nghệ thuật, không chỉ là thi sĩ, nhạc sĩ, ... lãng mạn, hào hoa mà còn là người chiến sĩ hào hùng đảm nhiệm vai trò đấu tranh trên mặt trận văn hoá - văn nghệ. Nghệ sĩ trong tư tưởng Hồ Chí Minh là mẫu người “nghệ sĩ - chiến sĩ”. Quan điểm đó đã nâng tầm vai trò của văn nghệ sĩ: không chỉ dừng lại ở việc sáng tạo thẩm mỹ mà còn gắn liền với sứ mệnh lịch sử của dân tộc. Điều này thể hiện sự kỳ vọng lớn của Người vào khả năng của văn nghệ sĩ trong việc cổ vũ, định hướng tư tưởng và góp phần vào công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và phát triển đất nước. Đây là một tư tưởng sâu sắc, vẫn còn nguyên giá trị trong việc định hình trách nhiệm xã hội của văn nghệ sĩ hiện nay.
Khẳng định tinh thần “thép” trong thơ ca, coi văn nghệ là “mặt trận”, Hồ Chí Minh cũng xác định văn nghệ sĩ chính là chiến sĩ mang trên mình sứ mệnh cao cả, đó là đấu tranh vì Tổ quốc, vì nhân dân, vì kháng chiến mà vũ khí chính là ngòi bút của mình: “Ngòi bút của các bạn cũng là vũ khí sắc bén trong sự nghiệp phò chính, trừ tà”, ngòi bút ấy là để “phụng sự kháng chiến, phụng sự Tổ quốc, phụng sự nhân dân, trước hết là công, nông, binh”(13). Hồ Chí Minh nhiều lần nhấn mạnh rằng người cầm bút phải kề vai sát cánh bên người cầm súng để đấu tranh giành lại thống nhất và độc lập cho dân tộc: “anh em văn hóa, trí thức cũng như những chiến sĩ anh dũng trong công tác kháng chiến để tranh lại quyền thống nhất và độc lập cho Tổ quốc”(14), “Cũng như các chiến sĩ khác, chiến sĩ nghệ thuật có nhiệm vụ nhất định, tức là phụng sự kháng chiến, phụng sự Tổ quốc, phụng sự nhân dân, trước hết là công, nông, binh... Nói tóm tắt là phải đặt lợi ích của kháng chiến, của Tổ quốc, của nhân dân lên trên hết, trước hết”(15). Hình tượng nghệ sĩ - chiến sĩ một mẫu hình đặc sắc được sinh thành trong thời đại Hồ Chí Minh, mới mẻ nhưng lại không hề xa lạ hay khiên cưỡng, trái lại, mang đậm hơi thở thời đại, đồng thời là cách thể hiện đúng nhất, đầy đủ nhất tư cách công dân, trách nhiệm xã hội của người nghệ sĩ đối với Tổ quốc và nhân dân. Hình tượng đó cũng toát lên tinh thần tiên phong, gương mẫu, dấn thân cũng như bản lĩnh và nhiệt huyết của đội ngũ trí thức văn nghệ sĩ.
Để đảm nhiệm sứ mệnh to lớn đó, theo Hồ Chí Minh, bản thân người nghệ sĩ - chiến sĩ phải có nhận thức đúng đắn, có lập trường tư tưởng vững vàng, phải biết đặt lợi ích của Tổ quốc, của Nhân dân lên trên hết và trước hết: “Phụng sự Tổ quốc, phụng sự nhân dân... văn nghệ sĩ nhất định sẽ tiến bộ hơn nữa, đồng thời có lực lượng mà giúp đỡ nhân dân tiến bộ hơn nữa”(16). Đặt lợi ích của Tổ quốc và nhân dân lên hàng đầu, đây không chỉ là yêu cầu về đạo đức mà còn là kim chỉ nam để văn nghệ sĩ có thể thực sự phát huy vai trò của mình, vừa tiến bộ không ngừng, vừa có đủ sức mạnh để dẫn dắt và thúc đẩy sự tiến bộ của toàn dân.
Hồ Chí Minh cũng lý giải rõ nguyên do vì sao đội ngũ văn nghệ sĩ phải đứng vào trận tuyến đấu tranh: “Dân tộc bị áp bức, thì văn nghệ cũng mất tự do. Văn nghệ muốn tự do thì phải tham gia cách mạng”(17). Như vậy, mặc dù khát vọng của nghệ sĩ là tự do sáng tạo nhưng tự do của người nghệ sĩ lại gắn liền với vận mệnh dân tộc, với mục tiêu độc lập dân tộc. Bởi lẽ, nếu dân tộc mất tự do thì đồng nghĩa những tự do của cá nhân con người, trong đó đương nhiên có người nghệ sĩ, cũng không thể đảm bảo. Vì vậy, người nghệ sĩ phải là người chiến sĩ dùng ngọn bút của mình làm vũ khí chiến đấu để giành lại độc lập, tự do cho dân tộc, cũng là cho chính mình. Hồ Chí Minh đã minh triết khi đặt người trí thức văn nghệ sĩ vào mối quan hệ riêng - chung, cái tôi - cái ta từ đó giúp họ thấu tỏ một chân lý: việc tham gia vào cuộc đấu tranh cách mạng không chỉ là trách nhiệm mà còn là con đường duy nhất để người nghệ sĩ giành lại và bảo vệ quyền tự do thiêng liêng của chính mình.
Quan điểm của Hồ Chí Minh về đội ngũ văn nghệ sĩ đã đề xuất một kiểu mẫu mới về chủ thể sáng tạo văn học, nghệ thuật, đó là người nghệ sĩ phát triển hoàn thiện với các tố chất: tài năng nghệ thuật, đạo đức trong sáng, tâm hồn cao đẹp và thấm nhuần lý tưởng cách mạng: “Để làm trọn nhiệm vụ cao quý của mình, văn nghệ sĩ cần phải rèn luyện đạo đức cách mạng, nâng cao tinh thần phục vụ nhân dân, giữ gìn thái độ khiêm tốn; phải thật sự hòa mình với quần chúng, cố gắng học tập chính trị, trau dồi nghề nghiệp; phải hết lòng giúp đỡ thanh niên, làm cho văn nghệ nước nhà ngày càng thêm trẻ thêm xuân”(18), phải có “lập trường vững, tư tưởng đúng…”(19). Hồ Chí Minh chỉ ra rằng anh chị em văn nghệ sĩ phải tự vượt lên chính mình bằng việc không ngừng “học tập, trau dồi tư tưởng, trau dồi nghệ thuật”(20).
Tóm lại, tư tưởng “nghệ sĩ - chiến sĩ” của Hồ Chí Minh đã định hình một sứ mệnh cao cả cho văn nghệ sĩ, biến ngòi bút thành vũ khí sắc bén phục vụ Tổ quốc và Nhân dân. Qua đó, Người không chỉ nâng tầm vai trò sáng tạo mà còn đặt ra yêu cầu toàn diện về tài năng, đạo đức và lập trường cách mạng, để văn nghệ sĩ trở thành tấm gương tiên phong, góp phần quan trọng vào sự phát triển của dân tộc.
3. Về mối quan hệ giữa văn học, nghệ thuật với chính trị
Coi hiện thực đời sống nhân dân là cơ sở của văn nghệ, Hồ Chí Minh cũng đặt văn nghệ trong mối quan hệ biện chứng với các lĩnh vực khác của đời sống xã hội, đặc biệt là với chính trị. Gửi thư cho các họa sĩ nhân dịp triển lãm hội họa 1951, một lần nữa Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định “Văn hóa, nghệ thuật cũng như mọi hoạt động khác, không thể đứng ngoài, mà phải ở trong kinh tế và chính trị”(21). Điều đó cho thấy giữa văn hóa, văn học, nghệ thuật với kinh tế, chính trị, xã hội có mối quan hệ chặt chẽ, biện chứng. Theo đó, văn hóa, văn học, nghệ thuật được dẫn dắt, định hướng bởi tư tưởng chính trị, đồng thời chịu sự quyết định của cơ sở kinh tế: “Văn hóa với chính trị có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Có chính trị mới có văn hóa, xưa kia chính trị bị đàn áp, nền văn hóa của ta vì thế không nảy sinh được”(22).
Với thế giới quan duy vật biện chứng, Hồ Chí Minh đã phân tích một cách sâu sắc rằng, nếu dân tộc bị áp bức thì văn nghệ cũng bị mất tự do: “Xã hội thế nào, văn nghệ thế ấy. Văn nghệ của dân tộc ta vốn rất phong phú, nhưng dưới chế độ thực dân và phong kiến, nhân dân ta bị nô lệ, thì văn nghệ cũng bị nô lệ, bị tồi tàn, không thể phát triển được. Trong kháng chiến, nhân dân ta vùng dậy phá ách nô lệ, giành lại tự do, nhờ vậy văn nghệ ta cũng được vươn mình giải phóng”(23). Hồ Chí Minh đã soi chiếu mối liên hệ máu thịt giữa văn nghệ và vận mệnh xã hội: khi dân tộc chìm trong áp bức, văn nghệ cũng bị xiềng xích, tàn lụi; chỉ đến khi đất nước giành được độc lập, tự do, văn nghệ mới thực sự được cởi trói, thăng hoa và trở thành tiếng nói hùng hồn của khát vọng dân tộc. Văn nghệ không thể nằm ngoài quỹ đạo của những biến động chính trị – xã hội. Chính trị độc tài sẽ cản trở, bóp nghẹt sáng tạo và ngược lại, chính tị tiến bộ, cách mạng sẽ là bệ phóng cho văn học nghệ thuật phát triển rực rỡ và phục vụ đúng đắn lợi ích của nhân dân.
Tuy nhiên, văn hóa, trong đó có văn học, nghệ thuật cũng có tính độc lập tương đối và tác động trở lại một cách trực tiếp hoặc gián tiếp đối với chính trị. Trong Thư gửi Hội nghị Văn hóa toàn quốc lần thứ hai (1948), Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Trong sự nghiệp vĩ đại kháng chiến kiến quốc của dân tộc ta, văn hóa gánh một phần rất quan trọng… Nhiệm vụ văn hóa chẳng những để cổ động tinh thần và lực lượng kháng chiến kiến quốc của quốc dân, mà cũng phải nêu rõ những thành tích kháng chiến kiến quốc vĩ đại của ta cho thế giới. Các nhà văn hóa ta phải có những tác phẩm xứng đáng chẳng những để biểu dương sự nghiệp kháng chiến kiến quốc bây giờ, mà còn để lưu truyền cái lịch sử oanh liệt kháng chiến kiến quốc cho hậu thế”(24). Như vậy, những tác phẩm văn nghệ, bằng thứ ngôn ngữ đặc biệt của mình, có sức mạnh lớn lao, có thể cổ động tinh thần cho quân và dân tham gia kháng chiến, đồng thời là nơi lưu giữ những ký ức của cuộc kháng chiến hào hùng đó.
Đặc biệt, khi bàn về mối quan hệ giữa văn nghệ với chính trị, Hồ Chí Minh không chỉ nhấn mạnh vai trò to lớn của văn học, nghệ thuật với quá trình đấu tranh cách mạng của nhân dân Việt Nam mà còn khẳng định sứ mệnh cao cả của văn học, nghệ thuật trong việc tham gia giải quyết các vấn đề hệ trọng của nhân loại. Trong Thư gửi Hội nghị các nhà văn Á - Phi lần thứ hai (2-1962), Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Cây bút phục vụ chính nghĩa trong tay nhà văn chiến đấu có một lực lượng cực kỳ mạnh mẽ… Nó sẽ làm cho các nhà văn góp phần xứng đáng trong phong trào chống chủ nghĩa đế quốc và chủ nghĩa thực dân, đoàn kết các dân tộc để đấu tranh cho độc lập, hòa bình, dân chủ và hạnh phúc cho cả loài người trên thế giới”(25).
Vì có mối liên hệ mật thiết với chính trị, văn học, nghệ thuật phát triển và phát huy tốt vai trò to lớn, sứ mệnh cao cả của mình thì phải chủ động, tích cực tham gia vào sự nghiệp cách mạng, một lòng đi theo lý tưởng của Đảng Cộng sản, lăn xả vào cuộc sống đầy gian khổ, hy sinh mà vô cùng hào hùng của dân tộc, để mở mang tầm mắt, để khơi dậy mạnh mẽ cảm hứng sáng tạo đồng thời cũng nhận thức đầy đủ và sâu sắc hơn nhiệm vụ chính trị của đất nước, của nhân dân, của chính mình từ đó thai nghén ra những đứa con tinh thần đích thực.
4. Về mối quan hệ giữa văn nghệ với quần chúng
Công chúng nghệ thuật mà Hồ Chí Minh nói đến, không ai khác chính là quần chúng nhân dân. Nhưng nhân dân không chỉ là công chúng nghệ thuật, tức là người thưởng thức tác phẩm nghệ thuật, mà còn là đối tượng phục vụ của nghệ thuật đồng thời cũng là đề tài của sáng tác nghệ thuật, mặt khác lại là người kiểm định giá trị của tác phẩm nghệ thuật.
Trước hết, Hồ Chí Minh khẳng định quần chúng nhân dân là đối tượng phục vụ của văn học, nghệ thuật cách mạng. Tác phẩm nghệ thuật ra đời nhằm mục đích phục vụ đông đảo quần chúng nhân dân: “... không thể nói nghệ thuật vị nghệ thuật, mà cần nói rõ văn hóa phục vụ công nông binh”(26). Xác định rõ đích đến của văn nghệ là vì nhân dân, Hồ Chí Minh cũng nhắc nhở văn nghệ sĩ rằng: “Quần chúng đang chờ đợi những tác phẩm văn nghệ xứng đáng với thời đại vẻ vang của chúng ta, những tác phẩm ca tụng những con người mới, việc mới chẳng những để làm gương mẫu cho chúng ta ngày nay, mà còn để giáo dục con cháu ta đời sau”(27). Đây cũng chính là tính chất “vị nhân sinh” cao cả của nghệ thuật. Tác phẩm nghệ thuật một mặt phải phản ánh trung thực hiện thực đời sống, ca ngợi những gì tốt đẹp, đáng ngợi ca của con người và cuộc đời, đồng thời có chức năng giáo dục con người hướng đến giá trị Chân - Thiện - Mỹ để con người ngày một hoàn thiện, tốt đẹp hơn.
Trong bài phát biểu ở Đại hội Văn hóa toàn quốc lần thứ nhất (năm 1946), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã bày tỏ: “Bác thiết tha mong nền văn hóa nước nhà hãy lấy hạnh phúc của đồng bào, của dân tộc làm cơ sở”(28). Như vậy, nhân dân, hạnh phúc của nhân dân vừa là mục tiêu hướng tới, vừa là cơ sở của nghệ thuật chân chính. Nghệ thuật cách mạng phải nhằm thỏa mãn nhu cầu tinh thần - thẩm mỹ của đại đa số nhân dân.
Mối quan hệ mật thiết của văn nghệ với quần chúng còn thể hiện ở chỗ quần chúng nhân dân và cuộc sống hằng ngày của họ là đề tài vô tận để các nghệ sĩ sáng tạo nghệ thuật. Hồ Chí Minh khẳng định: “Chỉ có Nhân dân mới nuôi dưỡng cho sáng tác của nhà văn bằng những nguồn nhựa sống. Còn nếu nhà văn quên điều đó - Nhân dân cũng sẽ quên anh ta”(29). Quan điểm này thể hiện sự nhận thức sâu sắc của Hồ Chí Minh về cuộc sống phong phú, đa dạng và không ngừng biến đổi của quần chúng đồng thời là niềm tin mãnh liệt của Người vào vai trò của nhân dân đối với sự sáng tạo nghệ thuật. Đây cũng là định hướng để văn nghệ sĩ gắn bó mật thiết với đời sống nhân dân, từ đó khai thác nguồn cảm hứng chân thực và tạo ra những tác phẩm có giá trị đích thực.
Hồ Chí Minh cũng yêu cầu sáng tạo văn học, nghệ thuật “cần hiểu thấu, liên hệ và đi sâu vào đời sống của nhân dân. Như thế, mới bày tỏ được cái tinh thần anh dũng và kiên quyết của quân và dân ta, đồng thời để giúp phát triển và nâng cao tinh thần ấy”(30). Đây là một lời nhắc nhở sâu sắc có ý nghĩa về phưvơng pháp luận đối với sáng tạo của văn nghệ sĩ: để sáng tạo ra những tác phẩm có giá trị, họ phải thực sự thấu hiểu và gắn bó mật thiết với đời sống nhân dân. Điều này không chỉ giúp phản ánh chân thực tinh thần anh dũng, kiên quyết của quân và dân, mà quan trọng hơn, còn cho phép văn nghệ sĩ góp phần phát triển và nâng cao chính những phẩm chất cao quý ấy trong quần chúng, biến văn nghệ thành một công cụ mạnh mẽ để thúc đẩy sự tiến bộ xã hội.
Theo Hồ Chí Minh, quần chúng nhân dân không chỉ là đối tượng phản ánh của văn nghệ cách mạng, không chỉ là chủ thể thưởng thức, chủ thể kiểm nghiệm (đánh giá, phê bình văn nghệ) mà còn là chủ thể sáng tạo nghệ thuật: “Quần chúng là những người sáng tạo, công nông là những người sáng tạo. Nhưng, quần chúng không phải chỉ sáng tạo ra những của cải vật chất cho xã hội. Quần chúng còn là người sáng tác nữa... Những câu tục ngữ, những câu vè, ca dao rất hay là những sáng tác của quần chúng”(31). Như vậy, trong sự sinh thành và phát triển của nền văn nghệ nước nhà, đặc biệt đối với văn nghệ dân gian, nhân dân chính là chủ thể sáng tạo quan trọng. Hiểu rõ điều này, văn nghệ sĩ không chỉ gần dân, thấu hiểu đời sống, tâm tư, nguyện vọng của nhân dân để có thể có những trang viết đậm chất “đời” hơn, sâu sắc, thấm thía hơn mà còn có trách nhiệm hơn khi sáng tạo nghệ thuật, bởi lẽ chính công chúng nghệ thuật của họ có thể am hiểu về nghệ thuật, đánh giá đúng giá trị nghệ thuật.
Gắn văn nghệ với quần chúng, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng rất coi trọng tính chất dân tộc của văn nghệ cũng như sự kế thừa, phát huy giá trị văn nghệ dân tộc trong sáng tác. Hồ Chí Minh khẳng định: “Âm nhạc của dân tộc ta rất độc đáo. Bác đã đi nhiều nước trên thế giới, nhưng Bác vẫn nhớ những câu hát của dân ta. Ta có nhiều câu hát dân ca hay lắm”(32).
Câu nói của Người không chỉ khẳng định tính độc đáo và giá trị sâu sắc của âm nhạc dân tộc, mà còn thể hiện niềm tự hào và sự gắn bó máu thịt với những giai điệu quê hương qua trải nghiệm thực tiễn vô cùng sống động của cá nhân “đi nhiều nước trên thế giới”. Từ đó, Hồ Chí Minh nghiêm khắc nhắc nhở văn nghệ sĩ về tầm quan trọng của việc tìm hiểu sâu sắc vốn văn hóa dân tộc: “làm công tác văn nghệ mà không tìm hiểu sâu sắc vốn của dân tộc thì không làm được”(33). Đây không chỉ là lời răn dạy đối với văn nghệ sĩ, mà còn là quan điểm có ý nghĩa định hướng đối với sự sinh tồn của một nền văn nghệ: sự sáng tạo đích thực phải bắt nguồn từ cội rễ văn hóa dân tộc, nếu không sẽ thiếu đi bản sắc và sức sống bền vững.
Như vậy, thông qua các quan điểm về chức năng vai trò của văn học, nghệ thuật và sứ mệnh của văn nghệ sĩ, về mối quan hệ giữa văn học nghệ thuật với chính trị, với quần chúng nhân dân, Chủ tịch Hồ Chí Minh thể hiện những tư tưởng hết sức sâu sắc và cốt lõi về tính chất, chức năng của nền văn nghệ cách mạng. Những tư tưởng của Hồ Chí Minh là sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin về văn hóa, văn nghệ, có ý nghĩa soi đường dẫn lối cho nền văn học, nghệ thuật nước nhà trong suốt chặng đường lịch sử thăng trầm đã qua, đến hôm nay còn nguyên giá trị. Tư tưởng đó là một trong những cơ sở vững chắc, quan trọng nhất, có ý nghĩa quyết định để đất nước ta, đội ngũ trí thức, văn nghệ sĩ có được những thành tựu to lớn về văn học, nghệ thuật, đóng góp xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc cũng như sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Trong kỷ nguyên vươn mình với nhiều yêu cầu, nhiệm vụ mới hiện nay của đất nước, những tư tưởng quý báu đó của Chủ tịch Hồ Chí Minh cần được tiếp tục kế thừa, vận dụng sáng tạo để văn học, nghệ thuật càng có thêm nhiều cơ hội để phát huy tốt hơn nữa vai trò, sứ mệnh cao cả, thiêng liêng của mình./.
TS. Nghiêm Thị Thu Nga
Viện Văn hoá và Phát triển, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
----------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------
1, 16, 20. Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, t.10, tr.513.
2. Hồ Chí Minh, Toàn tập, Sđd, t.8, tr.206.
3. Hồ Chí Minh, Toàn tập, Sđd, t.12, tr.470.
4, 17, 18. Hồ Chí Minh, Toàn tập, Sđd, t.13, tr.504, 131, 504.
5.Xem: https://www.thivien.net/H%E1%BB%93-Ch%C3%AD-Minh/Kh%C3%A1n-Thi%C3%AAn-gia-thi-h%E1%BB%AFu-c%E1%BA%A3m/poem-8rh_Q6Q0NWf_RGi7VOt99w, đăng ngày 06/11/2005
6, 13, 15, 19, 21, 30. Hồ Chí Minh, Toàn tập, Sđd, t.7, tr.246.
7, 8, 9, 10, 11, 12, 25, 27. Hồ Chí Minh, Toàn tập, Sđd, t.13, tr.504, 505, 392, 505, 504, 505, 339, 504.
14, 24. Hồ Chí Minh, Toàn tập, t.5, tr.131, 577.
22. Hồ Chí Minh, Về văn hóa, Bảo tàng Hồ Chí Minh, H, 1997, tr.10.
23. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.9, tr.231.
26. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.11, tr.559.
28. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.4, tr.32.
29, 32, 33. Lữ Huy Nguyên (sưu tầm, biên soạn), Bác Hồ với văn nghệ sỹ, Nxb Văn học, 1995, tr.83.
31. Hồ Chí Minh, Toàn tập, Sđd, t.8, tr.222-223.