1. Vai trò của văn hóa công vụ trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng
Văn hóa công vụ được hiểu là tập hợp các giá trị, chuẩn mực, nguyên tắc được cán bộ, công chức tôn trọng, chia sẻ và thực hiện trong quá trình thực thi công vụ, nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức. Văn hóa công vụ không chỉ bao gồm phẩm chất đạo đức mà còn thể hiện ở tác phong làm việc, tinh thần trách nhiệm và sự minh bạch trong thực thi công vụ.
Văn hóa công vụ là “hồn cốt” của nền hành chính nhà nước hiện đại.
Văn hóa công vụ được hiểu là tập hợp các giá trị, chuẩn mực, nguyên tắc được cán bộ, công chức tôn trọng, chia sẻ và thực hiện trong quá trình thực thi công vụ, nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức. Văn hóa công vụ không chỉ bao gồm phẩm chất đạo đức mà còn thể hiện ở tác phong làm việc, tinh thần trách nhiệm và sự minh bạch trong thực thi công vụ.
Văn hóa công vụ là “hồn cốt” của nền hành chính nhà nước hiện đại.
Trong quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, văn hóa công vụ đóng vai trò đặc biệt quan trọng, bởi nó không chỉ tác động trực tiếp đến chất lượng, hiệu quả thi hành công vụ mà còn góp phần định hình niềm tin, sự kỳ vọng của người dân đối với đội ngũ cán bộ, công chức và thể chế chính trị. Việc nâng cao văn hóa công vụ không chỉ là yêu cầu tất yếu trong cải cách hành chính mà còn là một phương thức phòng ngừa hiệu quả các biểu hiện tiêu cực, tham nhũng, đồng thời là vũ khí mềm để đấu tranh phản bác các luận điệu sai trái, xuyên tạc của các thế lực thù địch.
Văn hóa công vụ góp phần xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức chuyên nghiệp và liêm chính
Văn hóa công vụ có vai trò to lớn trong việc xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức chuyên nghiệp và liêm chính - những yếu tố cốt lõi quyết định chất lượng, hiệu lực và hiệu quả hoạt động của bộ máy hành chính nhà nước. Khi mỗi cán bộ, công chức thấm nhuần văn hóa công vụ, họ không chỉ nhận thức rõ vị trí, trách nhiệm của mình là người phục vụ Nhân dân mà còn chủ động rèn luyện tác phong, lề lối làm việc chuẩn mực, có kỷ cương, kỷ luật. Chính các giá trị như đạo đức nghề nghiệp, tinh thần trách nhiệm, sự tận tụy trong công việc và thái độ ứng xử văn minh, tôn trọng người dân sẽ góp phần tạo nên một môi trường công vụ lành mạnh, lấy hiệu quả công việc và sự hài lòng của công dân làm trung tâm. Bên cạnh đó, văn hóa công vụ còn giúp hình thành bản lĩnh chính trị vững vàng, ý thức tự giác trong việc phòng ngừa sai phạm, từ chối cám dỗ, lợi ích cá nhân, góp phần xây dựng đội ngũ cán bộ vừa “hồng” vừa “chuyên”. Đây là điều kiện tiên quyết để nâng cao chất lượng nền hành chính công, đồng thời tăng cường niềm tin của Nhân dân vào thể chế và bộ máy công quyền.
Văn hóa công vụ góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của bộ máy Nhà nước và chất lượng phục vụ Nhân dân
Khi văn hóa công vụ được coi trọng và thực thi nghiêm túc, mỗi cán bộ, công chức sẽ ý thức sâu sắc về trách nhiệm của mình trong việc thi hành nhiệm vụ một cách minh bạch, công bằng, đúng pháp luật và lấy người dân làm trung tâm. Điều này thúc đẩy tinh thần chủ động, sáng tạo, khắc phục tình trạng trì trệ, quan liêu và né tránh trách nhiệm - những “điểm nghẽn” lâu nay trong thực thi công vụ. Đồng thời, sự hình thành các chuẩn mực ứng xử văn minh, thái độ giao tiếp tôn trọng, cầu thị sẽ tạo dựng hình ảnh thân thiện của cơ quan nhà nước trong mắt người dân, qua đó nâng cao mức độ hài lòng và niềm tin xã hội. Một nền công vụ được dẫn dắt bởi văn hóa liêm chính, kỷ cương và chuyên nghiệp sẽ vận hành hiệu quả, tiết kiệm thời gian, chi phí, đồng thời giảm thiểu tiêu cực, nhũng nhiễu. Từ đó, không chỉ hiệu quả quản lý nhà nước được cải thiện, mà quyền lợi chính đáng của người dân và doanh nghiệp cũng được bảo đảm một cách thực chất. Có thể nói, văn hóa công vụ chính là chất keo gắn kết giữa chính quyền và Nhân dân, là nhân tố bảo đảm cho một nền hành chính phục vụ, hướng tới sự phát triển bền vững và công bằng trong xã hội.
Văn hóa công vụ góp phần phòng, chống tham nhũng, tiêu cực ngay từ gốc rễ, từ chính tư tưởng, nhận thức và hành vi của đội ngũ cán bộ, công chức.
Thực tế cho thấy, tham nhũng không chỉ bắt nguồn từ lỗ hổng thể chế hay sự buông lỏng quản lý, mà còn xuất phát từ sự suy thoái về đạo đức, lối sống, từ việc coi nhẹ các chuẩn mực công vụ trong quá trình thực thi nhiệm vụ. Khi văn hóa công vụ được đề cao và thực hiện nghiêm túc, mỗi cán bộ, công chức sẽ hình thành ý thức tự giác về liêm, chính, minh bạch trong hành vi và trách nhiệm giải trình trong công việc. Những giá trị như tận tụy, chính trực, đặt lợi ích công lên trên lợi ích cá nhân sẽ trở thành “bộ lọc” đạo đức giúp ngăn ngừa các hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn để trục lợi. Đồng thời, việc xây dựng môi trường làm việc minh bạch, có kỷ luật, có cơ chế kiểm soát và xử lý vi phạm rõ ràng sẽ tạo ra áp lực tích cực buộc cán bộ phải hành xử đúng mực. Văn hóa công vụ, vì thế, đóng vai trò như một cơ chế “phòng ngừa mềm” nhưng đầy hiệu quả, giúp triệt tiêu từ sớm mầm mống của tham nhũng, tiêu cực trong bộ máy công quyền. Khi mỗi cán bộ, công chức đều thấm nhuần văn hóa liêm chính và đạo đức công vụ, thì phòng, chống tham nhũng không còn là cuộc chiến đối đầu mà trở thành một quá trình chuyển hóa từ bên trong, bền vững và lâu dài.
Văn hóa công vụ tạo sức đề kháng trước các luận điệu xuyên tạc, thù địch
Trong bối cảnh hiện nay, khi các thế lực thù địch không ngừng lợi dụng những hạn chế, sơ hở trong công tác quản lý nhà nước và các vụ việc sai phạm cá nhân để xuyên tạc, quy chụp, hạ thấp uy tín của Đảng, Nhà nước và đội ngũ cán bộ, công chức, thì việc xây dựng và nâng cao văn hóa công vụ chính là một “lá chắn mềm” nhưng có sức đề kháng mạnh mẽ, giúp bảo vệ nền tảng tư tưởng, bảo vệ niềm tin xã hội. Văn hóa công vụ với những giá trị cốt lõi như tận tụy, minh bạch, liêm chính, trách nhiệm và tôn trọng Nhân dân, khi được lan tỏa sâu rộng trong đội ngũ cán bộ, công chức, sẽ làm rõ sự khác biệt giữa những cá nhân sai phạm với bản chất tốt đẹp của bộ máy công quyền. Thái độ ứng xử chuẩn mực, hành vi công vụ chuyên nghiệp và tinh thần phục vụ vì lợi ích chung không chỉ nâng cao hình ảnh người cán bộ trong mắt người dân, mà còn là minh chứng sống động, thực tiễn để phản bác lại những luận điệu vu khống, bóp méo, mang tính thù địch. Một nền hành chính có văn hóa công vụ tốt sẽ tự nó tạo ra “sức miễn dịch” trước những tác động tiêu cực từ bên ngoài, đồng thời khẳng định tính chính danh, tính nhân văn và hiệu quả của thể chế chính trị nước ta.
Như vậy, văn hóa công vụ không chỉ góp phần nâng cao chất lượng công vụ, mà còn là công cụ quan trọng trong cuộc đấu tranh tư tưởng - chính trị, bảo vệ sự ổn định và phát triển của đất nước trước các âm mưu chống phá ngày càng tinh vi, nguy hiểm của các thế lực thù địch.
2. Thực trạng văn hóa công vụ ở Việt Nam
Trong những năm qua, Việt Nam đã có nhiều nỗ lực nhằm xây dựng và hoàn thiện văn hóa công vụ phù hợp với yêu cầu của nhà nước pháp quyền hiện đại. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy, bên cạnh những mặt tích cực, vẫn còn tồn tại không ít hạn chế cần nghiêm túc nhìn nhận để kịp thời chấn chỉnh và nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động công vụ. Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi tập trung xem xét giá trị, chuẩn mực của văn hóa công vụ ở các khía cạnh: tính chuyên nghiệp, tính công khai, minh bạch, hiệu quả và trách nhiệm giải trình.
2.1. Tính chuyên nghiệp
Một nền hành chính hiện đại phải được vận hành bởi đội ngũ cán bộ, công chức chuyên nghiệp - những người có trình độ chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp và đạo đức công vụ tốt. Trong thời gian qua, công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ đã được chú trọng hơn, với nhiều chương trình cập nhật kiến thức, kỹ năng quản lý và đổi mới tư duy phục vụ nhân dân. Đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức ngày càng chuyên nghiệp, có ý thức phấn đấu, rèn luyện về chuyên môn, nghiệp vụ, phẩm chất đạo đức, lối sống, kỹ năng giao tiếp ứng xử. Theo báo cáo của Bộ Nội vụ, năm 2023, các bộ, ngành, địa phương đã cử 562.452 lượt công chức, viên chức đi đào tạo, bồi dưỡng theo tiêu chuẩn ngạch, chức danh và vị trí việc làm. Trong số đó, Trung ương có 35.102 lượt (số lượt công chức được đào tạo là 181, bồi dưỡng là 8.883; số lượt viên chức được đào tạo là 585, bồi dưỡng là 25.453), địa phương có 527.350 lượt (số lượt công chức được đào tạo là 14.173, bồi dưỡng là 245.327; số lượt viên chức được đào tạo là 23.000, bồi dưỡng là 244.850). Cũng trong năm 2023, Bộ Nội vụ đã tổ chức được 4 đoàn đi bồi dưỡng tại Cộng hòa Pháp và Nhật Bản cho cán bộ, công chức lãnh đạo, quản lý trẻ và cán bộ lãnh đạo, quản lý nữ của chính quyền địa phương(1).
Tuy nhiên, thực tế vẫn còn nhiều biểu hiện cho thấy tính chuyên nghiệp chưa đồng đều và còn nhiều khoảng trống cần lấp đầy.
Báo cáo của Bộ Nội vụ năm 2023 cũng cho biết, vẫn còn trên 20% công chức chưa đạt chuẩn chuyên môn nghiệp vụ theo quy định. Tình trạng cán bộ “ngồi nhầm chỗ”, thiếu năng lực thực thi công việc hoặc làm việc theo thói quen cũ, thiếu tinh thần đổi mới vẫn tồn tại ở không ít cơ quan, đơn vị. Nhiều công chức chưa đáp ứng được yêu cầu về kỹ năng giao tiếp, xử lý tình huống hoặc sử dụng công nghệ thông tin - những kỹ năng thiết yếu trong một nền hành chính hiện đại. Việc bổ nhiệm, đề bạt chưa hoàn toàn dựa trên năng lực và thành tích công vụ, đôi khi còn mang nặng yếu tố cảm tính hoặc quan hệ, cũng là một rào cản lớn cho việc hình thành một đội ngũ công chức thực sự chuyên nghiệp. Theo Báo cáo Chỉ số hài lòng về sự phục vụ của cơ quan hành chính nhà nước (SIPAS) năm 2024 của Bộ Nội vụ, các nội dung được người dân mong đợi nhiều nhất là: Nâng cao năng lực của cán bộ, công chức, viên chức trong giải quyết công việc cho người dân (với 66,56% số người dân tham gia khảo sát lựa chọn) và nâng cao tinh thần, thái độ phục vụ của cán bộ, công chức, viên chức đối với người dân (với 63,10% số người dân tham gia khảo sát lựa chọn)(2).
2.2. Công khai, minh bạch
Công khai, minh bạch là nguyên tắc cơ bản để bảo đảm quyền giám sát của người dân, đồng thời hạn chế nguy cơ phát sinh tiêu cực, tham nhũng trong hoạt động công vụ. Để tăng cường tính công khai, minh bạch, Việt Nam đã đẩy mạnh quá trình xây dựng và phát triển Chính phủ điện tử, Chính phủ số. Trong những năm gần đây, nhờ ứng dụng công nghệ thông tin, nhiều thủ tục hành chính đã được công khai qua cổng dịch vụ công trực tuyến, góp phần tiết kiệm thời gian, giảm chi phí và tăng tính minh bạch. Báo cáo Hiệu quả quản trị và Hành chính công cấp tỉnh ở Việt Nam (PAPI) năm 2024 cho thấy người dân đánh giá hiệu quả hoạt động của chính quyền ở 7/8 chỉ số thành phần, cao hơn so với năm 2023. Trong đó, có 4 chỉ số ghi nhận những bước tiến đáng kể, gồm: “công khai, minh bạch trong việc ra quyết định ở địa phương”, “kiểm soát tham nhũng trong khu vực công”, “quản trị môi trường” và “quản trị điện tử”(3). Còn theo Báo cáo khảo sát Chính phủ điện tử năm 2024 (EGovernment Development Index - EGDI) của Liên hợp quốc, Việt Nam được xếp hạng ở vị trí thứ 71 trong tổng số 193 quốc gia, tăng 15 bậc so với năm 2022; lần đầu tiên được xếp vào nhóm EGDI ở mức “Rất cao” và đạt vị trí xếp hạng cao nhất kể từ khi bắt đầu tham gia đánh giá EGDI của Liên hợp quốc năm 2003(4).
Bên cạnh những chỉ số tích cực, vẫn còn tỷ lệ không nhỏ người dân chưa hài lòng về tính công khai, minh bạch trong hành chính công. Vẫn còn tình trạng công khai hình thức hoặc thiếu nhất quán giữa các cơ quan, địa phương. Nhiều nơi vẫn công bố thông tin không đầy đủ, cập nhật chậm, thậm chí gây khó khăn cho người dân trong việc tiếp cận. Bên cạnh đó, việc cán bộ, công chức chưa chủ động cung cấp thông tin hoặc thiếu kỹ năng giải thích rõ ràng cho người dân cũng làm giảm hiệu quả minh bạch trong quá trình giải quyết thủ tục hành chính. Theo Báo cáo kết quả SIPAS 2024 của Bộ Nội vụ, 59,42% số người được hỏi mong chờ việc nâng cao tính công khai, minh bạch trong cung cấp thông tin cho người dân(5).
2.3. Hiệu quả
Một nền hành chính hiệu quả là nền hành chính giải quyết nhanh gọn, đúng pháp luật và đáp ứng nhu cầu của xã hội.
Các bộ, ngành, địa phương tiếp tục triển khai thực hiện có hiệu quả cơ chế một cửa, một cửa liên thông trong giải quyết thủ tục hành chính. Theo Báo cáo Tình hình thực hiện công tác cải cách hành chính năm 2024 của Bộ Nội vụ, kết quả giải quyết hồ sơ thủ tục hành chính có tỷ lệ hồ sơ giải quyết đúng hạn tiếp tục duy trì ở mức cao, bình quân cả nước đạt 98,79%; trong đó, tỷ lệ hồ sơ giải quyết đúng hạn của các bộ, cơ quan Trung ương đạt 97,76%; tỷ lệ hồ sơ giải quyết đúng hạn của các cơ quan chuyên môn cấp tỉnh đạt 99,19%; tỷ lệ hồ sơ giải quyết đúng hạn của UBND cấp huyện đạt 98,7%, UBND cấp xã đạt 99,52%(6). Theo Báo cáo PAPI năm 2024, mức độ hài lòng của người dân với hiệu quả quản trị và hành chính công gia tăng so với 3 năm trước đó(7).
Theo Báo cáo của Bộ Nội vụ, kết quả Chỉ số hài lòng về sự phục vụ của cơ quan hành chính nhà nước (SIPAS) năm 2024 đạt trung bình là 83,94%, tăng 1,28% so với năm 2023. Mức độ hài lòng của người dân đối với việc xây dựng, tổ chức thực hiện chính sách nói chung, năm 2024 đạt 83,84%, tăng 1.35% so với năm 2023. Mức độ hài lòng về cung ứng dịch vụ hành chính công năm 2024 đạt 84,09%, tăng 1,12%(8).
Hiện vẫn còn sự chênh lệch rất lớn giữa các địa phương về hiệu quả quản lý nhà nước và chất lượng cung ứng dịch vụ công. Một số tỉnh có điểm số cao; trong khi nhiều tỉnh miền núi hoặc vùng sâu vùng xa lại có điểm số thấp ở các tiêu chí như: “thủ tục hành chính công”, “giải quyết khiếu nại tố cáo”, “tiếp cận thông tin”…
Một số tỉnh, thành phố lớn có kết quả tốt nhờ vào năng lực điều hành, áp dụng công nghệ và sự quyết liệt trong cải cách hành chính. Ngược lại, nhiều địa phương vẫn bị đánh giá là trì trệ, giải quyết hồ sơ chậm, thủ tục rườm rà, gây phiền hà và bức xúc cho người dân. Không ít cơ quan chưa có quy trình xử lý rõ ràng, dẫn đến tình trạng “quy trình lòng vòng”, khiến người dân và doanh nghiệp phải đi lại nhiều lần. Tình trạng “trên nóng dưới lạnh” - lãnh đạo quyết liệt nhưng bộ phận thực thi thiếu quyết tâm - là một trong những nguyên nhân khiến hiệu quả hoạt động công vụ chưa đồng đều và chưa đáp ứng được kỳ vọng của xã hội.
2.4. Trách nhiệm giải trình
Trách nhiệm giải trình là nguyên tắc quan trọng trong quản trị công, thể hiện sự minh bạch và tính chịu trách nhiệm của cán bộ, công chức trước tổ chức, pháp luật và nhân dân. Về mặt thể chế, Việt Nam đã có những quy định khá rõ về trách nhiệm giải trình trong Luật Cán bộ, công chức, Luật Tổ chức chính quyền địa phương, Luật phòng, chống tham nhũng và nhiều văn bản hướng dẫn thi hành.
Tuy nhiên, việc thực thi còn nhiều bất cập. Báo cáo PAPI 2024 cho thấy trách nhiệm giải trình của chính quyền địa phương với người dân ở 61 tỉnh, thành phố năm 2024 hầu như không có sự thay đổi đáng kể so với 2021. Chỉ có 8 địa phương có thay đổi tích cực. Ngược lại, có tới 45 địa phương không có sự tiến bộ đáng kể trong việc thực hiện trách nhiệm giải trình với người dân. Trong đó có 5 tỉnh, thành phố có mức giảm điểm đáng kể sau bốn năm(9). Việc “đổ lỗi cho tập thể”, né tránh trách nhiệm hoặc xử lý không đến nơi đến chốn đã khiến nguyên tắc giải trình trở nên mờ nhạt trong nhiều trường hợp. Bên cạnh đó, người dân cũng chưa có nhiều cơ chế để yêu cầu giải trình, và trong thực tiễn, các kênh phản ánh, khiếu nại thường gặp khó khăn trong việc tiếp cận thông tin và nhận được câu trả lời chính đáng.
Từ những phân tích trên, có thể thấy rằng văn hóa công vụ ở Việt Nam tuy đã có nhiều chuyển biến tích cực, nhưng vẫn còn nhiều tồn tại cần khắc phục để đáp ứng yêu cầu đổi mới, phát triển đất nước và hội nhập quốc tế. Tính chuyên nghiệp chưa cao, minh bạch chưa đồng đều, hiệu quả công vụ chưa thống nhất và trách nhiệm giải trình chưa rõ ràng đang là những thách thức lớn cần được nhận diện rõ ràng và có giải pháp đồng bộ. Việc nâng cao văn hóa công vụ không thể chỉ dừng lại ở khẩu hiệu hay hình thức, mà cần bắt đầu từ việc thay đổi tư duy, tăng cường đào tạo thực chất, hoàn thiện thể chế và siết chặt kỷ luật hành chính. Có như vậy, chúng ta mới có thể xây dựng được một nền công vụ liêm chính, chuyên nghiệp, hiện đại - nền tảng vững chắc để phòng, chống tham nhũng, phục vụ Nhân dân và bảo vệ uy tín của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
3. Một số giải pháp nâng cao văn hóa công vụ trong tình hình hiện nay
Để xây dựng một nền hành chính chuyên nghiệp, hiện đại, liêm chính, phụng sự Nhân dân và đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới, việc nâng cao văn hóa công vụ cần được triển khai một cách đồng bộ, thực chất. Dưới đây là một số giải pháp trọng tâm:
3.1. Tăng cường đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức
Đào tạo và bồi dưỡng là điều kiện tiên quyết để xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức có đủ năng lực, phẩm chất và phong cách làm việc phù hợp với yêu cầu hiện đại hóa hành chính. Hiện nay, nhiều cán bộ, công chức còn hạn chế về kỹ năng hành chính, thiếu tinh thần đổi mới và chưa thích ứng tốt với môi trường công vụ số hóa.
Để khắc phục, cần xây dựng các chương trình đào tạo chuyên sâu về đạo đức công vụ, văn hóa ứng xử, kỹ năng hành chính, kỹ năng số và năng lực quản trị hiện đại. Việc đào tạo cần gắn liền với thực tiễn, chuyển từ lý thuyết hàn lâm sang mô hình đào tạo tương tác, mô phỏng tình huống, học tập qua trải nghiệm. Đồng thời, cần tổ chức đào tạo định kỳ, đánh giá sau đào tạo và có chế tài buộc người học phải vận dụng hiệu quả trong công việc.
3.2. Đẩy mạnh công khai, minh bạch trong hoạt động công vụ
Minh bạch là yếu tố cốt lõi trong xây dựng văn hóa công vụ lành mạnh, hạn chế cơ hội phát sinh tham nhũng và tiêu cực. Trong bối cảnh chuyển đổi số, cần đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý và cung cấp dịch vụ công. Việc triển khai dịch vụ công trực tuyến ở mức độ 3, 4, thanh toán không dùng tiền mặt, và các cổng thông tin một cửa sẽ giúp giảm thiểu tiếp xúc trực tiếp giữa cán bộ và người dân - yếu tố thường dẫn đến nhũng nhiễu.
Bên cạnh đó, cần thiết lập cơ chế giám sát, đánh giá công khai hiệu quả thực thi công vụ, ví dụ như đánh giá cán bộ qua phản hồi của người dân, tổ chức; công bố bảng chấm điểm công chức định kỳ và có chế tài xử lý rõ ràng nếu không hoàn thành nhiệm vụ hoặc vi phạm quy tắc công vụ.
3.3. Xây dựng và hoàn thiện thể chế, nâng cao trách nhiệm giải trình
Một nền hành chính hiện đại không thể thiếu khung thể chế đồng bộ, rõ ràng, công bằng và minh bạch. Cần tiếp tục hoàn thiện các quy định về đánh giá hiệu suất công việc, khen thưởng và kỷ luật trong công vụ, đảm bảo mọi nỗ lực tốt được ghi nhận xứng đáng và mọi vi phạm đều bị xử lý nghiêm minh.
Đặc biệt, cần xây dựng cơ chế giải trình rõ ràng, định kỳ. Mỗi cán bộ, công chức phải có nghĩa vụ giải trình công việc mình đảm nhiệm khi có yêu cầu từ tổ chức, công dân hoặc cơ quan giám sát. Các phiên chất vấn nội bộ, công khai kết quả công tác, tổ chức đối thoại với Nhân dân cần được thực hiện thường xuyên. Việc giải trình không chỉ là trách nhiệm cá nhân, mà còn là thước đo về tính minh bạch, dân chủ trong quản trị công.
3.4. Tinh gọn bộ máy, nâng cao hiệu lực, hiệu quả công vụ
Một bộ máy hành chính cồng kềnh, chồng chéo chức năng là môi trường lý tưởng để phát sinh trì trệ, tiêu cực, né tránh trách nhiệm. Việc tiếp tục thực hiện tinh giản biên chế, sắp xếp tổ chức bộ máy theo hướng gọn nhẹ, đa nhiệm, hiệu quả cần được kiên định thực hiện theo đúng tinh thần chỉ đạo của Ban chấp hành Trung ương Đảng(10).
Song song, cần mạnh dạn ứng dụng các công nghệ mới như trí tuệ nhân tạo (AI), phân tích dữ liệu lớn (Big Data) để cải tiến quy trình hành chính, giảm thời gian xử lý hồ sơ, nâng cao chất lượng phục vụ. Bộ máy công vụ trong kỷ nguyên số không chỉ cần “con người tốt” mà còn cần “công cụ thông minh” để phục vụ nhanh, đúng và chính xác.
3.5. Tăng cường năng lực hội nhập quốc tế và chuyển đổi số trong công vụ
Trong bối cảnh hội nhập và toàn cầu hóa, cần học hỏi kinh nghiệm từ các mô hình quản trị công tiên tiến như Singapore, Hàn Quốc, Nhật Bản – nơi mà công chức được đào tạo bài bản, áp dụng công nghệ hiện đại và làm việc theo nguyên tắc minh bạch - trách nhiệm - hiệu quả.
Việt Nam cần tiếp tục khuyến khích cán bộ, công chức trau dồi kỹ năng số, sử dụng thành thạo các phần mềm quản lý công việc, cơ sở dữ liệu dùng chung, công cụ phân tích và lập kế hoạch hiện đại. Chuyển đổi số không chỉ là xu thế mà là yêu cầu sống còn để xây dựng nền hành chính phục vụ.
Ngoài ra, cần hợp tác quốc tế về đào tạo công chức, tham gia các mạng lưới quản trị công toàn cầu để cập nhật xu hướng, nâng cao trình độ và đổi mới tư duy quản lý.
Nâng cao văn hóa công vụ không phải là mục tiêu ngắn hạn, mà là quá trình lâu dài, đòi hỏi sự vào cuộc đồng bộ của cả hệ thống chính trị, sự gương mẫu của người đứng đầu và sự chủ động của từng cán bộ, công chức. Với các giải pháp toàn diện từ đào tạo, hoàn thiện thể chế đến ứng dụng công nghệ và hội nhập quốc tế, Việt Nam có thể xây dựng được một đội ngũ công chức không chỉ có chuyên môn vững vàng, mà còn có đạo đức nghề nghiệp, tinh thần phục vụ Nhân dân và khả năng thích ứng nhanh với yêu cầu phát triển của thời đại mới.
3.6. Đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, xuyên tạc bản chất tốt đẹp của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa
Trong bối cảnh thông tin đa chiều hiện nay, các thế lực thù địch, phản động và cơ hội chính trị ngày càng có xu hướng lợi dụng những sai phạm cá nhân trong bộ máy nhà nước để xuyên tạc, quy chụp, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng, hạ thấp uy tín của Nhà nước và bóp méo bản chất tốt đẹp của chế độ ta. Những vụ việc tham nhũng, tiêu cực nếu không được xử lý kịp thời, minh bạch sẽ bị các thế lực này thổi phồng, biến từ sai phạm cá biệt thành cái cớ để công kích thể chế chính trị, kích động tâm lý bất mãn trong xã hội. Đây là âm mưu hết sức nguy hiểm, tinh vi và dai dẳng, đòi hỏi chúng ta không chỉ tăng cường phản bác bằng lý luận, mà còn cần phản bác bằng thực tiễn - bằng chính sự gương mẫu, liêm chính và hiệu quả trong hành động công vụ hằng ngày.
Trong đó, nâng cao văn hóa công vụ chính là một cách phản bác hiệu quả nhất, có sức thuyết phục cao nhất đối với các quan điểm sai trái, thù địch. Khi mỗi cán bộ, công chức hành xử đúng mực, có đạo đức nghề nghiệp, công tâm trong công vụ, trách nhiệm với Nhân dân và minh bạch trong thực hiện nhiệm vụ, thì bản thân họ đã là một minh chứng sống động để bác bỏ các luận điệu xuyên tạc, quy chụp. Thay vì sa vào tranh cãi, phản ứng cảm tính, chúng ta cần hành động thực chất - xây dựng hình ảnh người cán bộ “vừa hồng vừa chuyên”, phục vụ Nhân dân bằng trách nhiệm và hiệu quả cụ thể.
Bên cạnh đó, vai trò của truyền thông tích cực và minh bạch là hết sức quan trọng. Cần chủ động cung cấp thông tin kịp thời, chính xác, công khai kết quả xử lý sai phạm, đồng thời tôn vinh những tấm gương sáng trong hoạt động công vụ. Truyền thông phải góp phần tăng sức đề kháng của dư luận, giúp người dân phân biệt rõ đâu là sai phạm cá nhân, đâu là chủ trương đúng đắn của Đảng, từ đó củng cố niềm tin vào con đường mà đất nước đang đi. Chỉ khi sự thật được soi rọi rõ ràng, thì bóng tối của sự xuyên tạc mới không còn đất tồn tại.
Kết luận
Văn hóa công vụ không chỉ là yếu tố làm nên bản sắc và chất lượng của nền hành chính công, mà còn là một công cụ hữu hiệu để tăng cường tính minh bạch, trách nhiệm và hiệu quả trong thực hiện nhiệm vụ, góp phần tích cực vào công cuộc phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, lãng phí. Đặc biệt, trong bối cảnh hiện nay, văn hóa công vụ còn là “lá chắn tinh thần” giúp cán bộ, công chức kiên định, vững vàng trước các tác động, luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch. Do đó, việc xây dựng và phát triển văn hóa công vụ phải trở thành một nhiệm vụ thường xuyên, lâu dài, được gắn với rèn luyện đạo đức công vụ, cải cách thể chế và nâng cao năng lực thực thi pháp luật. Mỗi cán bộ, công chức cần tự giác rèn luyện, gương mẫu, tận tụy, liêm chính và hành động vì lợi ích của Tổ quốc và Nhân dân - đó chính là lời khẳng định mạnh mẽ nhất cho sức mạnh nội tại của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong thời đại mới./.
Văn hóa công vụ góp phần xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức chuyên nghiệp và liêm chính
Văn hóa công vụ có vai trò to lớn trong việc xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức chuyên nghiệp và liêm chính - những yếu tố cốt lõi quyết định chất lượng, hiệu lực và hiệu quả hoạt động của bộ máy hành chính nhà nước. Khi mỗi cán bộ, công chức thấm nhuần văn hóa công vụ, họ không chỉ nhận thức rõ vị trí, trách nhiệm của mình là người phục vụ Nhân dân mà còn chủ động rèn luyện tác phong, lề lối làm việc chuẩn mực, có kỷ cương, kỷ luật. Chính các giá trị như đạo đức nghề nghiệp, tinh thần trách nhiệm, sự tận tụy trong công việc và thái độ ứng xử văn minh, tôn trọng người dân sẽ góp phần tạo nên một môi trường công vụ lành mạnh, lấy hiệu quả công việc và sự hài lòng của công dân làm trung tâm. Bên cạnh đó, văn hóa công vụ còn giúp hình thành bản lĩnh chính trị vững vàng, ý thức tự giác trong việc phòng ngừa sai phạm, từ chối cám dỗ, lợi ích cá nhân, góp phần xây dựng đội ngũ cán bộ vừa “hồng” vừa “chuyên”. Đây là điều kiện tiên quyết để nâng cao chất lượng nền hành chính công, đồng thời tăng cường niềm tin của Nhân dân vào thể chế và bộ máy công quyền.
Văn hóa công vụ góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của bộ máy Nhà nước và chất lượng phục vụ Nhân dân
Khi văn hóa công vụ được coi trọng và thực thi nghiêm túc, mỗi cán bộ, công chức sẽ ý thức sâu sắc về trách nhiệm của mình trong việc thi hành nhiệm vụ một cách minh bạch, công bằng, đúng pháp luật và lấy người dân làm trung tâm. Điều này thúc đẩy tinh thần chủ động, sáng tạo, khắc phục tình trạng trì trệ, quan liêu và né tránh trách nhiệm - những “điểm nghẽn” lâu nay trong thực thi công vụ. Đồng thời, sự hình thành các chuẩn mực ứng xử văn minh, thái độ giao tiếp tôn trọng, cầu thị sẽ tạo dựng hình ảnh thân thiện của cơ quan nhà nước trong mắt người dân, qua đó nâng cao mức độ hài lòng và niềm tin xã hội. Một nền công vụ được dẫn dắt bởi văn hóa liêm chính, kỷ cương và chuyên nghiệp sẽ vận hành hiệu quả, tiết kiệm thời gian, chi phí, đồng thời giảm thiểu tiêu cực, nhũng nhiễu. Từ đó, không chỉ hiệu quả quản lý nhà nước được cải thiện, mà quyền lợi chính đáng của người dân và doanh nghiệp cũng được bảo đảm một cách thực chất. Có thể nói, văn hóa công vụ chính là chất keo gắn kết giữa chính quyền và Nhân dân, là nhân tố bảo đảm cho một nền hành chính phục vụ, hướng tới sự phát triển bền vững và công bằng trong xã hội.
Văn hóa công vụ góp phần phòng, chống tham nhũng, tiêu cực ngay từ gốc rễ, từ chính tư tưởng, nhận thức và hành vi của đội ngũ cán bộ, công chức.
Thực tế cho thấy, tham nhũng không chỉ bắt nguồn từ lỗ hổng thể chế hay sự buông lỏng quản lý, mà còn xuất phát từ sự suy thoái về đạo đức, lối sống, từ việc coi nhẹ các chuẩn mực công vụ trong quá trình thực thi nhiệm vụ. Khi văn hóa công vụ được đề cao và thực hiện nghiêm túc, mỗi cán bộ, công chức sẽ hình thành ý thức tự giác về liêm, chính, minh bạch trong hành vi và trách nhiệm giải trình trong công việc. Những giá trị như tận tụy, chính trực, đặt lợi ích công lên trên lợi ích cá nhân sẽ trở thành “bộ lọc” đạo đức giúp ngăn ngừa các hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn để trục lợi. Đồng thời, việc xây dựng môi trường làm việc minh bạch, có kỷ luật, có cơ chế kiểm soát và xử lý vi phạm rõ ràng sẽ tạo ra áp lực tích cực buộc cán bộ phải hành xử đúng mực. Văn hóa công vụ, vì thế, đóng vai trò như một cơ chế “phòng ngừa mềm” nhưng đầy hiệu quả, giúp triệt tiêu từ sớm mầm mống của tham nhũng, tiêu cực trong bộ máy công quyền. Khi mỗi cán bộ, công chức đều thấm nhuần văn hóa liêm chính và đạo đức công vụ, thì phòng, chống tham nhũng không còn là cuộc chiến đối đầu mà trở thành một quá trình chuyển hóa từ bên trong, bền vững và lâu dài.
Văn hóa công vụ tạo sức đề kháng trước các luận điệu xuyên tạc, thù địch
Trong bối cảnh hiện nay, khi các thế lực thù địch không ngừng lợi dụng những hạn chế, sơ hở trong công tác quản lý nhà nước và các vụ việc sai phạm cá nhân để xuyên tạc, quy chụp, hạ thấp uy tín của Đảng, Nhà nước và đội ngũ cán bộ, công chức, thì việc xây dựng và nâng cao văn hóa công vụ chính là một “lá chắn mềm” nhưng có sức đề kháng mạnh mẽ, giúp bảo vệ nền tảng tư tưởng, bảo vệ niềm tin xã hội. Văn hóa công vụ với những giá trị cốt lõi như tận tụy, minh bạch, liêm chính, trách nhiệm và tôn trọng Nhân dân, khi được lan tỏa sâu rộng trong đội ngũ cán bộ, công chức, sẽ làm rõ sự khác biệt giữa những cá nhân sai phạm với bản chất tốt đẹp của bộ máy công quyền. Thái độ ứng xử chuẩn mực, hành vi công vụ chuyên nghiệp và tinh thần phục vụ vì lợi ích chung không chỉ nâng cao hình ảnh người cán bộ trong mắt người dân, mà còn là minh chứng sống động, thực tiễn để phản bác lại những luận điệu vu khống, bóp méo, mang tính thù địch. Một nền hành chính có văn hóa công vụ tốt sẽ tự nó tạo ra “sức miễn dịch” trước những tác động tiêu cực từ bên ngoài, đồng thời khẳng định tính chính danh, tính nhân văn và hiệu quả của thể chế chính trị nước ta.
Như vậy, văn hóa công vụ không chỉ góp phần nâng cao chất lượng công vụ, mà còn là công cụ quan trọng trong cuộc đấu tranh tư tưởng - chính trị, bảo vệ sự ổn định và phát triển của đất nước trước các âm mưu chống phá ngày càng tinh vi, nguy hiểm của các thế lực thù địch.
2. Thực trạng văn hóa công vụ ở Việt Nam
Trong những năm qua, Việt Nam đã có nhiều nỗ lực nhằm xây dựng và hoàn thiện văn hóa công vụ phù hợp với yêu cầu của nhà nước pháp quyền hiện đại. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy, bên cạnh những mặt tích cực, vẫn còn tồn tại không ít hạn chế cần nghiêm túc nhìn nhận để kịp thời chấn chỉnh và nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động công vụ. Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi tập trung xem xét giá trị, chuẩn mực của văn hóa công vụ ở các khía cạnh: tính chuyên nghiệp, tính công khai, minh bạch, hiệu quả và trách nhiệm giải trình.
2.1. Tính chuyên nghiệp
Một nền hành chính hiện đại phải được vận hành bởi đội ngũ cán bộ, công chức chuyên nghiệp - những người có trình độ chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp và đạo đức công vụ tốt. Trong thời gian qua, công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ đã được chú trọng hơn, với nhiều chương trình cập nhật kiến thức, kỹ năng quản lý và đổi mới tư duy phục vụ nhân dân. Đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức ngày càng chuyên nghiệp, có ý thức phấn đấu, rèn luyện về chuyên môn, nghiệp vụ, phẩm chất đạo đức, lối sống, kỹ năng giao tiếp ứng xử. Theo báo cáo của Bộ Nội vụ, năm 2023, các bộ, ngành, địa phương đã cử 562.452 lượt công chức, viên chức đi đào tạo, bồi dưỡng theo tiêu chuẩn ngạch, chức danh và vị trí việc làm. Trong số đó, Trung ương có 35.102 lượt (số lượt công chức được đào tạo là 181, bồi dưỡng là 8.883; số lượt viên chức được đào tạo là 585, bồi dưỡng là 25.453), địa phương có 527.350 lượt (số lượt công chức được đào tạo là 14.173, bồi dưỡng là 245.327; số lượt viên chức được đào tạo là 23.000, bồi dưỡng là 244.850). Cũng trong năm 2023, Bộ Nội vụ đã tổ chức được 4 đoàn đi bồi dưỡng tại Cộng hòa Pháp và Nhật Bản cho cán bộ, công chức lãnh đạo, quản lý trẻ và cán bộ lãnh đạo, quản lý nữ của chính quyền địa phương(1).
Tuy nhiên, thực tế vẫn còn nhiều biểu hiện cho thấy tính chuyên nghiệp chưa đồng đều và còn nhiều khoảng trống cần lấp đầy.
Báo cáo của Bộ Nội vụ năm 2023 cũng cho biết, vẫn còn trên 20% công chức chưa đạt chuẩn chuyên môn nghiệp vụ theo quy định. Tình trạng cán bộ “ngồi nhầm chỗ”, thiếu năng lực thực thi công việc hoặc làm việc theo thói quen cũ, thiếu tinh thần đổi mới vẫn tồn tại ở không ít cơ quan, đơn vị. Nhiều công chức chưa đáp ứng được yêu cầu về kỹ năng giao tiếp, xử lý tình huống hoặc sử dụng công nghệ thông tin - những kỹ năng thiết yếu trong một nền hành chính hiện đại. Việc bổ nhiệm, đề bạt chưa hoàn toàn dựa trên năng lực và thành tích công vụ, đôi khi còn mang nặng yếu tố cảm tính hoặc quan hệ, cũng là một rào cản lớn cho việc hình thành một đội ngũ công chức thực sự chuyên nghiệp. Theo Báo cáo Chỉ số hài lòng về sự phục vụ của cơ quan hành chính nhà nước (SIPAS) năm 2024 của Bộ Nội vụ, các nội dung được người dân mong đợi nhiều nhất là: Nâng cao năng lực của cán bộ, công chức, viên chức trong giải quyết công việc cho người dân (với 66,56% số người dân tham gia khảo sát lựa chọn) và nâng cao tinh thần, thái độ phục vụ của cán bộ, công chức, viên chức đối với người dân (với 63,10% số người dân tham gia khảo sát lựa chọn)(2).
2.2. Công khai, minh bạch
Công khai, minh bạch là nguyên tắc cơ bản để bảo đảm quyền giám sát của người dân, đồng thời hạn chế nguy cơ phát sinh tiêu cực, tham nhũng trong hoạt động công vụ. Để tăng cường tính công khai, minh bạch, Việt Nam đã đẩy mạnh quá trình xây dựng và phát triển Chính phủ điện tử, Chính phủ số. Trong những năm gần đây, nhờ ứng dụng công nghệ thông tin, nhiều thủ tục hành chính đã được công khai qua cổng dịch vụ công trực tuyến, góp phần tiết kiệm thời gian, giảm chi phí và tăng tính minh bạch. Báo cáo Hiệu quả quản trị và Hành chính công cấp tỉnh ở Việt Nam (PAPI) năm 2024 cho thấy người dân đánh giá hiệu quả hoạt động của chính quyền ở 7/8 chỉ số thành phần, cao hơn so với năm 2023. Trong đó, có 4 chỉ số ghi nhận những bước tiến đáng kể, gồm: “công khai, minh bạch trong việc ra quyết định ở địa phương”, “kiểm soát tham nhũng trong khu vực công”, “quản trị môi trường” và “quản trị điện tử”(3). Còn theo Báo cáo khảo sát Chính phủ điện tử năm 2024 (EGovernment Development Index - EGDI) của Liên hợp quốc, Việt Nam được xếp hạng ở vị trí thứ 71 trong tổng số 193 quốc gia, tăng 15 bậc so với năm 2022; lần đầu tiên được xếp vào nhóm EGDI ở mức “Rất cao” và đạt vị trí xếp hạng cao nhất kể từ khi bắt đầu tham gia đánh giá EGDI của Liên hợp quốc năm 2003(4).
Bên cạnh những chỉ số tích cực, vẫn còn tỷ lệ không nhỏ người dân chưa hài lòng về tính công khai, minh bạch trong hành chính công. Vẫn còn tình trạng công khai hình thức hoặc thiếu nhất quán giữa các cơ quan, địa phương. Nhiều nơi vẫn công bố thông tin không đầy đủ, cập nhật chậm, thậm chí gây khó khăn cho người dân trong việc tiếp cận. Bên cạnh đó, việc cán bộ, công chức chưa chủ động cung cấp thông tin hoặc thiếu kỹ năng giải thích rõ ràng cho người dân cũng làm giảm hiệu quả minh bạch trong quá trình giải quyết thủ tục hành chính. Theo Báo cáo kết quả SIPAS 2024 của Bộ Nội vụ, 59,42% số người được hỏi mong chờ việc nâng cao tính công khai, minh bạch trong cung cấp thông tin cho người dân(5).
2.3. Hiệu quả
Một nền hành chính hiệu quả là nền hành chính giải quyết nhanh gọn, đúng pháp luật và đáp ứng nhu cầu của xã hội.
Các bộ, ngành, địa phương tiếp tục triển khai thực hiện có hiệu quả cơ chế một cửa, một cửa liên thông trong giải quyết thủ tục hành chính. Theo Báo cáo Tình hình thực hiện công tác cải cách hành chính năm 2024 của Bộ Nội vụ, kết quả giải quyết hồ sơ thủ tục hành chính có tỷ lệ hồ sơ giải quyết đúng hạn tiếp tục duy trì ở mức cao, bình quân cả nước đạt 98,79%; trong đó, tỷ lệ hồ sơ giải quyết đúng hạn của các bộ, cơ quan Trung ương đạt 97,76%; tỷ lệ hồ sơ giải quyết đúng hạn của các cơ quan chuyên môn cấp tỉnh đạt 99,19%; tỷ lệ hồ sơ giải quyết đúng hạn của UBND cấp huyện đạt 98,7%, UBND cấp xã đạt 99,52%(6). Theo Báo cáo PAPI năm 2024, mức độ hài lòng của người dân với hiệu quả quản trị và hành chính công gia tăng so với 3 năm trước đó(7).
Theo Báo cáo của Bộ Nội vụ, kết quả Chỉ số hài lòng về sự phục vụ của cơ quan hành chính nhà nước (SIPAS) năm 2024 đạt trung bình là 83,94%, tăng 1,28% so với năm 2023. Mức độ hài lòng của người dân đối với việc xây dựng, tổ chức thực hiện chính sách nói chung, năm 2024 đạt 83,84%, tăng 1.35% so với năm 2023. Mức độ hài lòng về cung ứng dịch vụ hành chính công năm 2024 đạt 84,09%, tăng 1,12%(8).
Hiện vẫn còn sự chênh lệch rất lớn giữa các địa phương về hiệu quả quản lý nhà nước và chất lượng cung ứng dịch vụ công. Một số tỉnh có điểm số cao; trong khi nhiều tỉnh miền núi hoặc vùng sâu vùng xa lại có điểm số thấp ở các tiêu chí như: “thủ tục hành chính công”, “giải quyết khiếu nại tố cáo”, “tiếp cận thông tin”…
Một số tỉnh, thành phố lớn có kết quả tốt nhờ vào năng lực điều hành, áp dụng công nghệ và sự quyết liệt trong cải cách hành chính. Ngược lại, nhiều địa phương vẫn bị đánh giá là trì trệ, giải quyết hồ sơ chậm, thủ tục rườm rà, gây phiền hà và bức xúc cho người dân. Không ít cơ quan chưa có quy trình xử lý rõ ràng, dẫn đến tình trạng “quy trình lòng vòng”, khiến người dân và doanh nghiệp phải đi lại nhiều lần. Tình trạng “trên nóng dưới lạnh” - lãnh đạo quyết liệt nhưng bộ phận thực thi thiếu quyết tâm - là một trong những nguyên nhân khiến hiệu quả hoạt động công vụ chưa đồng đều và chưa đáp ứng được kỳ vọng của xã hội.
2.4. Trách nhiệm giải trình
Trách nhiệm giải trình là nguyên tắc quan trọng trong quản trị công, thể hiện sự minh bạch và tính chịu trách nhiệm của cán bộ, công chức trước tổ chức, pháp luật và nhân dân. Về mặt thể chế, Việt Nam đã có những quy định khá rõ về trách nhiệm giải trình trong Luật Cán bộ, công chức, Luật Tổ chức chính quyền địa phương, Luật phòng, chống tham nhũng và nhiều văn bản hướng dẫn thi hành.
Tuy nhiên, việc thực thi còn nhiều bất cập. Báo cáo PAPI 2024 cho thấy trách nhiệm giải trình của chính quyền địa phương với người dân ở 61 tỉnh, thành phố năm 2024 hầu như không có sự thay đổi đáng kể so với 2021. Chỉ có 8 địa phương có thay đổi tích cực. Ngược lại, có tới 45 địa phương không có sự tiến bộ đáng kể trong việc thực hiện trách nhiệm giải trình với người dân. Trong đó có 5 tỉnh, thành phố có mức giảm điểm đáng kể sau bốn năm(9). Việc “đổ lỗi cho tập thể”, né tránh trách nhiệm hoặc xử lý không đến nơi đến chốn đã khiến nguyên tắc giải trình trở nên mờ nhạt trong nhiều trường hợp. Bên cạnh đó, người dân cũng chưa có nhiều cơ chế để yêu cầu giải trình, và trong thực tiễn, các kênh phản ánh, khiếu nại thường gặp khó khăn trong việc tiếp cận thông tin và nhận được câu trả lời chính đáng.
Từ những phân tích trên, có thể thấy rằng văn hóa công vụ ở Việt Nam tuy đã có nhiều chuyển biến tích cực, nhưng vẫn còn nhiều tồn tại cần khắc phục để đáp ứng yêu cầu đổi mới, phát triển đất nước và hội nhập quốc tế. Tính chuyên nghiệp chưa cao, minh bạch chưa đồng đều, hiệu quả công vụ chưa thống nhất và trách nhiệm giải trình chưa rõ ràng đang là những thách thức lớn cần được nhận diện rõ ràng và có giải pháp đồng bộ. Việc nâng cao văn hóa công vụ không thể chỉ dừng lại ở khẩu hiệu hay hình thức, mà cần bắt đầu từ việc thay đổi tư duy, tăng cường đào tạo thực chất, hoàn thiện thể chế và siết chặt kỷ luật hành chính. Có như vậy, chúng ta mới có thể xây dựng được một nền công vụ liêm chính, chuyên nghiệp, hiện đại - nền tảng vững chắc để phòng, chống tham nhũng, phục vụ Nhân dân và bảo vệ uy tín của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
3. Một số giải pháp nâng cao văn hóa công vụ trong tình hình hiện nay
Để xây dựng một nền hành chính chuyên nghiệp, hiện đại, liêm chính, phụng sự Nhân dân và đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới, việc nâng cao văn hóa công vụ cần được triển khai một cách đồng bộ, thực chất. Dưới đây là một số giải pháp trọng tâm:
3.1. Tăng cường đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức
Đào tạo và bồi dưỡng là điều kiện tiên quyết để xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức có đủ năng lực, phẩm chất và phong cách làm việc phù hợp với yêu cầu hiện đại hóa hành chính. Hiện nay, nhiều cán bộ, công chức còn hạn chế về kỹ năng hành chính, thiếu tinh thần đổi mới và chưa thích ứng tốt với môi trường công vụ số hóa.
Để khắc phục, cần xây dựng các chương trình đào tạo chuyên sâu về đạo đức công vụ, văn hóa ứng xử, kỹ năng hành chính, kỹ năng số và năng lực quản trị hiện đại. Việc đào tạo cần gắn liền với thực tiễn, chuyển từ lý thuyết hàn lâm sang mô hình đào tạo tương tác, mô phỏng tình huống, học tập qua trải nghiệm. Đồng thời, cần tổ chức đào tạo định kỳ, đánh giá sau đào tạo và có chế tài buộc người học phải vận dụng hiệu quả trong công việc.
3.2. Đẩy mạnh công khai, minh bạch trong hoạt động công vụ
Minh bạch là yếu tố cốt lõi trong xây dựng văn hóa công vụ lành mạnh, hạn chế cơ hội phát sinh tham nhũng và tiêu cực. Trong bối cảnh chuyển đổi số, cần đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý và cung cấp dịch vụ công. Việc triển khai dịch vụ công trực tuyến ở mức độ 3, 4, thanh toán không dùng tiền mặt, và các cổng thông tin một cửa sẽ giúp giảm thiểu tiếp xúc trực tiếp giữa cán bộ và người dân - yếu tố thường dẫn đến nhũng nhiễu.
Bên cạnh đó, cần thiết lập cơ chế giám sát, đánh giá công khai hiệu quả thực thi công vụ, ví dụ như đánh giá cán bộ qua phản hồi của người dân, tổ chức; công bố bảng chấm điểm công chức định kỳ và có chế tài xử lý rõ ràng nếu không hoàn thành nhiệm vụ hoặc vi phạm quy tắc công vụ.
3.3. Xây dựng và hoàn thiện thể chế, nâng cao trách nhiệm giải trình
Một nền hành chính hiện đại không thể thiếu khung thể chế đồng bộ, rõ ràng, công bằng và minh bạch. Cần tiếp tục hoàn thiện các quy định về đánh giá hiệu suất công việc, khen thưởng và kỷ luật trong công vụ, đảm bảo mọi nỗ lực tốt được ghi nhận xứng đáng và mọi vi phạm đều bị xử lý nghiêm minh.
Đặc biệt, cần xây dựng cơ chế giải trình rõ ràng, định kỳ. Mỗi cán bộ, công chức phải có nghĩa vụ giải trình công việc mình đảm nhiệm khi có yêu cầu từ tổ chức, công dân hoặc cơ quan giám sát. Các phiên chất vấn nội bộ, công khai kết quả công tác, tổ chức đối thoại với Nhân dân cần được thực hiện thường xuyên. Việc giải trình không chỉ là trách nhiệm cá nhân, mà còn là thước đo về tính minh bạch, dân chủ trong quản trị công.
3.4. Tinh gọn bộ máy, nâng cao hiệu lực, hiệu quả công vụ
Một bộ máy hành chính cồng kềnh, chồng chéo chức năng là môi trường lý tưởng để phát sinh trì trệ, tiêu cực, né tránh trách nhiệm. Việc tiếp tục thực hiện tinh giản biên chế, sắp xếp tổ chức bộ máy theo hướng gọn nhẹ, đa nhiệm, hiệu quả cần được kiên định thực hiện theo đúng tinh thần chỉ đạo của Ban chấp hành Trung ương Đảng(10).
Song song, cần mạnh dạn ứng dụng các công nghệ mới như trí tuệ nhân tạo (AI), phân tích dữ liệu lớn (Big Data) để cải tiến quy trình hành chính, giảm thời gian xử lý hồ sơ, nâng cao chất lượng phục vụ. Bộ máy công vụ trong kỷ nguyên số không chỉ cần “con người tốt” mà còn cần “công cụ thông minh” để phục vụ nhanh, đúng và chính xác.
3.5. Tăng cường năng lực hội nhập quốc tế và chuyển đổi số trong công vụ
Trong bối cảnh hội nhập và toàn cầu hóa, cần học hỏi kinh nghiệm từ các mô hình quản trị công tiên tiến như Singapore, Hàn Quốc, Nhật Bản – nơi mà công chức được đào tạo bài bản, áp dụng công nghệ hiện đại và làm việc theo nguyên tắc minh bạch - trách nhiệm - hiệu quả.
Việt Nam cần tiếp tục khuyến khích cán bộ, công chức trau dồi kỹ năng số, sử dụng thành thạo các phần mềm quản lý công việc, cơ sở dữ liệu dùng chung, công cụ phân tích và lập kế hoạch hiện đại. Chuyển đổi số không chỉ là xu thế mà là yêu cầu sống còn để xây dựng nền hành chính phục vụ.
Ngoài ra, cần hợp tác quốc tế về đào tạo công chức, tham gia các mạng lưới quản trị công toàn cầu để cập nhật xu hướng, nâng cao trình độ và đổi mới tư duy quản lý.
Nâng cao văn hóa công vụ không phải là mục tiêu ngắn hạn, mà là quá trình lâu dài, đòi hỏi sự vào cuộc đồng bộ của cả hệ thống chính trị, sự gương mẫu của người đứng đầu và sự chủ động của từng cán bộ, công chức. Với các giải pháp toàn diện từ đào tạo, hoàn thiện thể chế đến ứng dụng công nghệ và hội nhập quốc tế, Việt Nam có thể xây dựng được một đội ngũ công chức không chỉ có chuyên môn vững vàng, mà còn có đạo đức nghề nghiệp, tinh thần phục vụ Nhân dân và khả năng thích ứng nhanh với yêu cầu phát triển của thời đại mới.
3.6. Đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, xuyên tạc bản chất tốt đẹp của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa
Trong bối cảnh thông tin đa chiều hiện nay, các thế lực thù địch, phản động và cơ hội chính trị ngày càng có xu hướng lợi dụng những sai phạm cá nhân trong bộ máy nhà nước để xuyên tạc, quy chụp, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng, hạ thấp uy tín của Nhà nước và bóp méo bản chất tốt đẹp của chế độ ta. Những vụ việc tham nhũng, tiêu cực nếu không được xử lý kịp thời, minh bạch sẽ bị các thế lực này thổi phồng, biến từ sai phạm cá biệt thành cái cớ để công kích thể chế chính trị, kích động tâm lý bất mãn trong xã hội. Đây là âm mưu hết sức nguy hiểm, tinh vi và dai dẳng, đòi hỏi chúng ta không chỉ tăng cường phản bác bằng lý luận, mà còn cần phản bác bằng thực tiễn - bằng chính sự gương mẫu, liêm chính và hiệu quả trong hành động công vụ hằng ngày.
Trong đó, nâng cao văn hóa công vụ chính là một cách phản bác hiệu quả nhất, có sức thuyết phục cao nhất đối với các quan điểm sai trái, thù địch. Khi mỗi cán bộ, công chức hành xử đúng mực, có đạo đức nghề nghiệp, công tâm trong công vụ, trách nhiệm với Nhân dân và minh bạch trong thực hiện nhiệm vụ, thì bản thân họ đã là một minh chứng sống động để bác bỏ các luận điệu xuyên tạc, quy chụp. Thay vì sa vào tranh cãi, phản ứng cảm tính, chúng ta cần hành động thực chất - xây dựng hình ảnh người cán bộ “vừa hồng vừa chuyên”, phục vụ Nhân dân bằng trách nhiệm và hiệu quả cụ thể.
Bên cạnh đó, vai trò của truyền thông tích cực và minh bạch là hết sức quan trọng. Cần chủ động cung cấp thông tin kịp thời, chính xác, công khai kết quả xử lý sai phạm, đồng thời tôn vinh những tấm gương sáng trong hoạt động công vụ. Truyền thông phải góp phần tăng sức đề kháng của dư luận, giúp người dân phân biệt rõ đâu là sai phạm cá nhân, đâu là chủ trương đúng đắn của Đảng, từ đó củng cố niềm tin vào con đường mà đất nước đang đi. Chỉ khi sự thật được soi rọi rõ ràng, thì bóng tối của sự xuyên tạc mới không còn đất tồn tại.
Kết luận
Văn hóa công vụ không chỉ là yếu tố làm nên bản sắc và chất lượng của nền hành chính công, mà còn là một công cụ hữu hiệu để tăng cường tính minh bạch, trách nhiệm và hiệu quả trong thực hiện nhiệm vụ, góp phần tích cực vào công cuộc phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, lãng phí. Đặc biệt, trong bối cảnh hiện nay, văn hóa công vụ còn là “lá chắn tinh thần” giúp cán bộ, công chức kiên định, vững vàng trước các tác động, luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch. Do đó, việc xây dựng và phát triển văn hóa công vụ phải trở thành một nhiệm vụ thường xuyên, lâu dài, được gắn với rèn luyện đạo đức công vụ, cải cách thể chế và nâng cao năng lực thực thi pháp luật. Mỗi cán bộ, công chức cần tự giác rèn luyện, gương mẫu, tận tụy, liêm chính và hành động vì lợi ích của Tổ quốc và Nhân dân - đó chính là lời khẳng định mạnh mẽ nhất cho sức mạnh nội tại của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong thời đại mới./.
PGS.TS Vũ Thị Phương Hậu
Viện trưởng Viện Văn hoá và Phát triển, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
Đặng Thị Hồng Hạnh
Đặng Thị Hồng Hạnh
Thư viện tỉnh Yên Bái
----------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------
1. Đổi mới công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức gắn với vị trí việc làm https://baocaovien.vn/tin-tuc/doi-moi-cong-tac-dao-tao-boi-duong-can-bo-cong-chuc-gan-voi-vi-tri-viec-lam/121602.html, truy cập ngày 1/5/2025.
2, 8. https://moha.gov.vn/tin-tuc---su-kien/cong-bo-ket-qua-chi-so-hai-long-ve-su-phuc-vu-cua--d608-t57024.html, truy cập ngày 1/5/2025.
3, 7, 9. https://www.undp.org/vi/vietnam/publications/bao-cao-chi-so-hieu-qua-quan-tri-va-hanh-chinh-cong-cap-tinh-o-viet-nam-papi-nam-2024, truy cập ngày 1/5/2025
4. https://mic.gov.vn/thong-cao-bao-chi-bao-cao-khao-sat-chinh-phu-dien-tu-cua-lien-hiep-quoc-nam-2024-197240918214719337.htm, truy cập ngày 1/5/2025.
5. ttps://moha.gov.vn/tin-tuc---su-kien/cong-bo-ket-qua-chi-so-hai-long-ve-su-phuc-vu-cua--d608-t57024.html, truy cập ngày 1/5/2025
6. Bộ Nội vụ, Báo cáo Số 8465/BC-BNV ngày 25 tháng 12 năm 2024 Báo cáo tình hình thực hiện công tác cải cách hành chính năm 2024.
10. Nghị quyết 18-NQ/TW (năm 2017) của Bộ Chính trị về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; Nghị quyết 19-NQ/TW của Ban chấp hành Trung ương (năm 2017) về tiếp tục đổi mới hệ thống tổ chức và quản lý, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của đơn vị sự nghiệp công lập; Kết luận 126-KL/TW (năm 2025) của Bộ Chính trị về một số nội dung, nhiệm vụ tiếp tục sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị.