“ZCZC VHAO 25 NXI, Hỏa tốc… Sài Gòn - Chính phủ Sài Gòn đầu hàng. NTL 1021 Sáng”. Sáu mươi giây sau, một bản tin như sau: “ZCZ NNN, Bản tin…, Hòa bình - 30/4, của Alan Dawson, Sài Gòn - 30 tháng 4 (UPI) Tổng thống Dương Văn Minh hôm nay ra thông báo Nam Việt Nam đầu hàng và ra lệnh binh sĩ thuộc chính quyền ngừng chiến đấu. NTL 1022 Sáng”. Đó là nội dung của điện hỏa tốc ngày 30/4/1975 do phóng viên UPI đánh máy, gửi đến 7500 máy têlêtip (máy điện báo in chữ) vòng quanh thế giới. Nỗi kinh hoàng bị kiềm chế trong bản tin giật gân nhất của thập kỷ(1). Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975 toàn thắng, kết thúc cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước 21 năm của dân tộc, non sông thu về một dải. Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IV của Đảng khẳng định: “Năm tháng sẽ trôi qua, nhưng thắng lợi của nhân dân ta trong sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước mãi mãi được ghi vào lịch sử của dân tộc ta như một trong những trang chói lọi nhất, một biểu tượng sáng ngời về sự toàn thắng của chủ nghĩa anh hùng cách mạng và trí tuệ con người, và đi vào lịch sử thế giới như một chiến công vĩ đại của thế kỷ XX, một sự kiện có tầm quan trọng quốc tế to lớn và có tính thời đại sâu sắc”(2). Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975 để lại nhiều giá trị và bài học kinh nghiệm sâu sắc về đường lối, phương châm lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng, của Nhà nước, kết hợp sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại, chiến tranh nhân dân toàn dân đánh giặc, nghệ thuật quân sự... Đặc biệt, đã mở ra một kỷ nguyên mới, đất nước hoàn toàn độc lập, thống nhất và tiến lên chủ nghĩa xã hội. Đó là, giá trị nhân văn quân sự vô cùng to lớn của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975.
Nhân văn là giá trị cơ bản nhất, xuyên suốt trong hoạt động quân sự Việt Nam, được hình thành, lưu truyền và phát triển gắn với lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam. Bản chất sức mạnh dân tộc ta trong hoạt động quân sự là văn hóa, nhân đạo, nhân văn. Tinh thần đánh giặc bằng văn hóa, sức mạnh văn hóa mà trong đó giá trị nhân văn là cốt lõi nhất, bản chất nhất được tiếp nối, kế thừa, phát triển không ngừng. Trong lịch sử không có thời đại, thế hệ nào không dùng đến sức mạnh của tinh thần nhân văn trong đánh giặc, trong giành và giữ độc lập chủ quyền dân tộc. Hồ Chí Minh đã kế thừa và phát triển lên một tầm cao mới. Các giá trị đó được vận dụng cụ thể hóa vào từng mặt khác nhau của quân sự và tạo nên sức mạnh kỳ diệu trong thực tiễn kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ. Đại thắng mùa Xuân 1975, là đỉnh cao của sự tỏa sáng những giá trị nhân văn ở mục đích, phương thức tiến hành và quan hệ ứng xử trong toàn Cuộc Tổng tiến và nổi dậy.
Thứ nhất, Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975 là thắng lợi của chiến tranh nhân dân Việt Nam tự vệ, chính nghĩa.
Mục đích hoạt động quân sự của cả dân tộc Việt Nam xuyên suốt lịch sử là tự vệ, chính nghĩa, là “Đem đại nghĩa để thắng hung tàn, lấy chí nhân để thay cường bạo”. Kháng chiến chống đế quốc Mỹ, đỉnh cao là Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975 nhằm mục đích giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, đưa cả nước tiến lên chủ nghĩa xã hội, đó là giá trị nhân văn cao cả. Mục đích hoạt động quân sự của ta đối lập với mục đích quân sự thôn tính, xâm lược, áp đặt chế độ áp bức, nô dịch của đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai. Sự đối lập này cho thấy chỉ có mục đích quân sự chính nghĩa, tự vệ mới có giá trị nhân văn, còn ngược lại là phản nhân văn. Trong lịch sử, để thực hiện mục đích hoạt động quân sự nhân văn cao đẹp đó, chúng ta đã đấu tranh kiên quyết và khéo léo, đã nhún nhường “ở trong thì xưng đế, ở ngoài thì xưng vương”. Trong kháng chiến chống thực dân Pháp, “Chúng ta muốn hoà bình, chúng ta phải nhân nhượng. Nhưng chúng ta càng nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới, vì chúng quyết tâm cướp nước ta lần nữa! Không! Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”(3).
Trong kháng chiến chống đế quốc Mỹ, chúng ta đã kiên trì, bền bỉ để thi hành hiệp định Giơ-ne-vơ, đàm phán để ký kết hiệp định Pa-ri, ra sức ngăn chặn chiến tranh, song không thành. Để giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, đem lại cuộc sống ấm no, tự do hạnh phúc cho nhân dân không cách nào khác phải đứng lên tiến hành chiến tranh chống đế quốc Mỹ. Hồ Chí Minh đã kêu gọi lương tri chính phủ Pháp và sau này là Mỹ tôn trọng độc lập, chủ quyền Việt Nam, tránh chiến tranh, đổ máu. Người nói, “Chúng tôi không muốn chiến tranh, nhưng chúng tôi quyết tự vệ đến giọt máu cuối cùng. Chúng tôi quyết không chịu mất nước làm nô lệ thực dân lần nữa”(4). Đó thực sự là các cuộc chiến tranh tự vệ, chính nghĩa, “dụng binh là việc nhân nghĩa, muốn cứu dân, cứu nước”(5). Mục đích nhân văn của cuộc kháng chiến đó là đòi quyền độc lập, tự do, chứ không phải vì tư thù, tư oán, không nhằm tiêu diệt sạch sành sanh kẻ thù. Do đó, đúc kết thành phương châm: “Đánh cho Mỹ cút, đánh cho Nguỵ nhào”. Mục đích nhân văn trong hoạt động quân sự của Việt Nam đã được chính bộ máy lãnh đạo chiến tranh của Mỹ thừa nhận sau này. Cựu Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Mắc-na-ma-ra cho rằng: “Đánh giá thấp sức mạnh của một dân tộc đấu tranh và hy sinh cho lý tưởng và các giá trị của nó”(6), chính là giá trị nhân văn cao đẹp của cả dân tộc. Tổng chỉ huy quân viễn chinh Mỹ ở miền nam Việt Nam, đại tướng Oét-mo-len khẳng định: Nhảy vào Việt Nam là một sai lầm lớn nhất của nước Mỹ. E-uyn Knon, một nhà báo chuyên theo dõi về cuộc chiến tranh Việt Nam, trong cuốn sách gây tiếng vang lớn trong xã hội Mỹ - “Cuộc chiến bịp bợm của Mỹ”, đã vạch trần bản chất hiếu chiến, phi nghĩa và các thủ đoạn chiến tranh hết sức tàn bạo, vô nhân đạo của đế quốc Mỹ từ hơn 7500 tài liệu chân thực phía Mỹ. Một số lượng tiền của, vũ khí khổng lồ và gần một triệu quân viễn chinh và quân đồng minh của Mỹ đổ vào miền Nam, Việt Nam là minh chứng về sự xâm lược, tính phi nghĩa không thể chối cãi. Mục đích nhân văn quân sự Việt Nam xuyên suốt đó, trở thành động lực to lớn, quy tụ sức mạnh của cả dân tộc và sức mạnh của thời đại để tiến hành Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975 đi đến thắng lợi cuối cùng. Đồng thời, cho thấy thất bại cay đắng của nước Mỹ, là do bản chất cuộc chiến tranh xâm lược, phi nghĩa.
Thứ hai, Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975 là thắng lợi của phương thức hoạt động quân sự nhân văn đặc sắc Việt Nam
Hoạt động quân sự Việt Nam luôn đề cao vai trò, sức mạnh của con người, của quần chúng, là sự quý trọng tính mạng, xương máu của người lính, của nhân dân. Đối mặt với đế quốc Mỹ hùng mạnh về tiềm lực kinh tế và quân sự. Muốn thắng giặc phải dùng đến sức người, sức của. Đây là một mâu thuẫn buộc con người Việt Nam giải quyết. Dân tộc ta đã lựa chọn một phương thức sử dụng sức người, sức của nhân văn nhất. Chiến tranh nhân dân chính là biểu tượng của lòng yêu nước. Thực hiện tiến công và nổi dậy từng phần, làm tiêu hao, tiêu diệt binh lực địch để tiến tới cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975. Chiến tranh nhân dân Việt Nam không phải là phương thức lôi kéo nhân dân vào “cối xay thịt” như luận điệu của một số kẻ phản động. Đó là cuộc chiến bảo vệ độc lập, tự chủ, phẩm giá của con người Việt Nam, một cuộc chiến vì dân, nên người dân tự giác tham gia đánh giặc. “Nhân dân Việt Nam đoàn kết triệu người như một, kiên quyết đứng vững trên tiền tuyến của phong trào đấu tranh vĩ của nhân dân toàn thế giới chống đế quốc Mỹ”(7).
Toàn dân tộc Việt Nam không phân biệt già trẻ, nam nữ, công nhân, nông dân hay trí thức, mọi tầng lớp nhân dân đều chung một lý tưởng nhân văn, chung một khát vọng giành lại độc lập và thống nhất đất nước. Nhân dân miền Bắc hậu phương lớn của tiền tuyến lớn miền Nam, vừa xây dựng chủ nghĩa xã hội và chi viện cho cuộc kháng chiến ở miền Nam. Mọi người đều hăng hái đoàn kết thi đua, đều ra sức làm việc bằng hai, vì miền Nam ruột thịt. Thanh niên ba sẵn sàng, Phụ nữ ba đảm đang, Công nhân tay búa tay súng, Nông dân tay cày tay súng, Học sinh làm nghìn việc tốt. Ai ai cũng hăng hái đoàn kết thi đua chống đế quốc Mỹ. Địa phương nào cũng đoàn kết phấn đấu bảo đảm “Thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người”. Hàng triệu thanh niên “xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước”. Trước khi Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975, miền Bắc đã chi viện cho miền Nam 56 tấn vật chất, hàng hóa. Vào giai đoạn cuối của cuộc Tổng tiến công, đã huy động và vận chuyển vào miền Nam 80% quân số, 81% vũ khí, đạn dược, 85% xe vận tải, 60% xăng dầu, 65% thuốc men(8) đáp ứng yêu cầu đánh giặc.
Ở miền Nam, chiến tranh nhân dân với phương thức tổ chức, sử dụng lực lượng nhân văn nhất, sau Tết Mậu Thân 1968, Liên minh các lực lượng dân tộc, dân chủ và hòa bình Việt Nam ra đời. Liên minh là tổ chức đại diện cho các nhân sĩ, bác sĩ, nhà văn, nhà báo, sinh viên, người tu hành, sĩ quan và công chức tiến bộ trong quân đội và chính quyền miền Nam, tư sản dân tộc. Cương lĩnh của Liên minh đã mở rộng hơn để tạo cơ hội đoàn kết, tập hợp lực lượng và tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ rộng rãi hơn cả trong và ngoài nước, là cơ sở tiến tới thành lập Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam. Tạo sức mạnh tổng hợp cho cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975 đạt được thắng lợi hoàn toàn.
Giá trị nhân văn quân sự trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975 được hình thành trên cơ sở nghệ thuật sử dụng lực lượng đặc sắc, là không lấy số đông đánh số đông, cũng không lấy xương máu nhân dân làm sức mạnh đánh giặc. Xét theo lô-gíc hình thức khó tồn tại nghệ thuật quân sự trên, nhưng ở góc độ lô-gíc biện chứng lại tồn tại với nghệ thuật chiến tranh nhân dân, quốc phòng toàn dân và nghệ thuật kết hợp “thời”, “thế” và “lực” tạo nên sức mạnh đánh bại đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai. Phương thức hoạt động quân sự trọng tâm công (đánh vào lòng người) là chú trọng cách đánh khuất phục lòng người, cốt đuổi chứ không cốt diệt. Trong lịch sử từ trong Phạt Tống lộ bố văn của Lý Thường Kiệt, Bình Ngô sách do Nguyễn Trãi dâng lên Lê Lợi đến chủ trương “đánh chắc, tiến chắc” của chiến dịch Điện Biên Phủ. Trong kháng chiến chống đế quốc Mỹ, phương thức hoạt động quân sự nhân văn là “cốt đánh đuổi, không cốt đánh diệt”, “đánh cho Mỹ cút, đánh cho Ngụy nhào”, “đánh nhụt ý chí xâm lược”. Chúng ta đã kết hợp đấu tranh trên các mặt trận, kết hợp chính trị, quân sự, ngoại giao, binh vận, địch vận để giảm tổn thất cho người lính, người dân cả hai bên tham chiến. Trong Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975, phương châm chỉ đạo là “không đánh huỷ diệt, chỉ sử dụng hoả lực mạnh khi thật cần thiết”, “vừa đánh địch vừa lo bảo vệ dân, tạo thuận lợi để dân nổi dậy giành chính quyền cách mạng”. Chính vì vậy, sau chiến tranh, Sài Gòn và các thành phố lớn hầu như còn nguyên vẹn. Như vậy, ở chỗ tận cùng, buộc phải sử dụng vũ khí, tưởng chừng không thể nhân văn được, nhưng chúng ta vẫn làm mọi cách, và thực tế các phương thức đó đã khẳng định giá trị nhân văn cao cả nhất.
Thứ ba, Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975 là thắng lợi của giá trị nhân văn trong quan hệ ứng xử quân sự Việt Nam
Mục đích quân sự tự vệ, chính nghĩa quy định giá trị nhân văn trong quan hệ ứng xử. Giá trị đó thể hiện ở tính “Người” với những nội dung hài hòa, khoan dung, độ lượng, yêu thương, gắn bó giữa binh sĩ và binh sĩ, giữa cán bộ và binh sĩ, giữa quân với dân. Tính chất này đối lập với sự gia trưởng, thô bạo, tính cố chấp, phân biệt đối xử. Trong lịch sử là quan hệ “phụ tử chi binh”, là “tướng sĩ một lòng phụ tử hòa nước sông chén rượu ngọt ngào”, là “vua tôi đồng lòng, anh em hòa mục, cả nước góp sức, giặc phải bị bắt”. Trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975 là quan hệ quân với dân “cá với nước”, quan hệ giữa những người lính, giữa cán bộ và binh sĩ là “đồng chí, đồng đội”, là đoàn kết, thương yêu, giúp đỡ lẫn nhau, từ “điếu thuốc chia đôi, bát cơm sẻ nửa” đến “chia lửa” trong chiến đấu, sẵn sàng nhường sự sống cho đồng đội, nhận sự hy sinh về mình. Mặc dù, mối quan hệ giữa cấp trên, cấp dưới theo phân cấp, kỷ luật nghiêm minh, nhưng “Từ tiểu đội trưởng trở lên, từ Tổng tư lệnh trở xuống, phải săn sóc đời sống vật chất và tinh thần của đội viên, phải xem đội viên ăn uống như thế nào, phải hiểu nguyện vọng và thắc mắc của đội viên. Bộ đội chưa ăn cơm, cán bộ không được kêu mình đói. Bộ đội chưa đủ áo mặc, cán bộ không được kêu mình rét. Bộ đội chưa đủ chỗ ở, cán bộ không được kêu mình mệt”(9). Không chỉ bằng lời, mà nhiều hơn là những hành động, việc làm thể hiện tình thương yêu, quý trọng cán bộ, binh sĩ. Binh sĩ luôn thấy ở cán bộ tình cảm “gần gũi như người chị, thân thiết như người anh”. Trong Cuộc Tổng tiến và nổi dậy, thực sự mỗi người lính luôn được đề cao, tôn trọng và phát huy hết khả năng của mình.
Giá trị nhân văn quân sự Việt Nam trong Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975 còn biểu hiện trong ứng xử khoan dung độ lượng đối với kẻ thù. Kẻ thù đã cướp bóc, đàn áp nhân dân ta vô cùng dã man. Tội ác của đế quốc Mỹ và Ngụy là trời không dung, đất không tha: “chính sách xâm lược của Chính phủ Mỹ mà đồng bào miền Nam chúng tôi đã bị những tai nạn như sau: Hơn 4.000 phụ nữ bị hãm hiếp, có cả em bé và cụ già. Hơn 200.000 người bị thương vì tàu bay Mỹ ném bom. Hơn 400.000 người vô tội bị giam cầm. Hơn 1 triệu người thành tàn tật vì bị tra tấn. Hơn 150.000 người bị giết hại (3.000 người bị mổ bụng, moi gan, ăn thịt). Hàng trăm làng mạc bị đốt phá và bị thuốc độc, hàng chục vạn binh sĩ chết và bị thương ở chiến trường”(10). Vào trang web https://vi.wikipedia.org/, chỉ cần gõ từ “tội ác của đế quốc Mỹ và đồng minh trong chiến tranh Việt Nam” chúng ta đã thấy những tội ác dã man: “Thảm sát Mỹ Lai 1968”, “Lực lượng Mãnh Hổ”, “Thôn Khánh Giang - Trường Lệ, tỉnh Quảng Ngãi”, “Thảm sát Thạnh Phong”, “Chiến dịch Speedy Express”, “Các hoạt động ám sát của CIA”, “Thảm sát Duy Trinh”, “Thảm sát Bình Tai”, “Thảm sát Thái Bình”, “Thảm sát Bình An”, “Thảm sát Diên Niên - Phước Bình”, “Thảm sát Hà My”, “Thảm sát Phong Nhất và Phong Nhị” và các thảm sát trong các cuộc hành quân, bình định, thật là nhiều không kể xiết. Ngoài ra còn các vụ không quân Hoa Kỳ ném bom các khu vực dân sự ở miền Bắc Việt Nam, dải chất độc da cam, tra tấn tù nhân, tù binh dã man như chuồng cọp ở Côn Đảo. Hành động phản nhân văn của chúng đạt đến cực độ, nhưng chúng ta vẫn tìm mọi cách nhằm “tắt muôn đời chiến tranh; chỉ cần vẹn đất, cốt sao an ninh”.
Điều đặc biệt là ứng xử có tính khoan dung, độ lượng với cả kẻ thù của mình khi trở thành tù hàng binh. Kết thúc cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Đại thắng mùa Xuân 1975, hàng chục triệu thân nhân của toàn bộ ngụy quân, ngụy quyền, hàng vạn tù tội của chế độ cũ không một ai bị trả thù, ngược đãi, kể cả những tên ác ôn khét tiếng nợ máu với cách mạng, với nhân dân, đã được chính quyền cách mạng khoan hồng, tạo điều kiện cho họ cải tạo và hoà nhập với cuộc sống mới. Một người Mỹ ở bên kia chiến tuyến, Alan Dowson, trong cuốn sách 55 ngày chế độ Sài Gòn sụp đổ đã phải thừa nhận rằng sau khi cuộc chiến tranh chấm dứt, không có chuyện tắm máu xảy ra. Tác giả viết nghe kể lại một câu chuyện khó tin lúc bấy giờ về cách thức đối xử của những người cộng sản đối với tù nhân. Đó là trường hợp một tù binh là binh nhì thủy quân lục chiến Sài Gòn có tên là Đức đã từng giết 13 chiến sĩ cộng sản, được đưa đến trung tâm tạm giam và được một trung tá Quân giải phóng giảng giải tại sao Đức làm thế, và tội của Đức là không tuân lệnh chính quyền cách mạng kêu gọi bỏ súng xuống và sớm đầu hàng, Đức bị giam 6 tháng nếu cải tạo tốt sẽ được thả(11). Thật sự, không có các cuộc tàn sát “trả thù”, “tắm máu” hay “tẩy não” như các thế lực thù địch, phản động đã từng xuyên tạc.
Giá trị nhân văn trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Đại thắng mùa Xuân 1975 là một giá trị đặc trưng và quan trọng. Đó là sự thống nhất biện chứng giữa điều kiện lịch sử của đất nước và cốt cách con người Việt Nam. Giá trị đó được lưu truyền và vun đắp xuyên suốt chiều dài lịch sử trở thành bền vững. Hoạt động quân sự Việt Nam trong toàn bộ kháng chiến chống đế quốc Mỹ và giai đoạn cuối là cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975 ở mọi lúc, mọi nơi đều đậm dấu ấn nhân văn từ mục đích, phương thức hoạt động đến hành động ứng xử giữa đồng chí, đồng đội, giữa quân với dân và giữa ta với địch. Nó là động lực xuyên suốt kết tinh tất cả các yếu tố khác tạo nên sức mạnh to lớn để chúng ta có mùa Xuân Đại thắng. Giá trị đó là sự tiếp nối từ sâu trong mạch nguồn lịch sử dân tộc. Ngày nay chúng ta cần luôn luôn giữ gìn, phát huy, tiếp tục lan tỏa những giá trị đó trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa./.
Nhân văn là giá trị cơ bản nhất, xuyên suốt trong hoạt động quân sự Việt Nam, được hình thành, lưu truyền và phát triển gắn với lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam. Bản chất sức mạnh dân tộc ta trong hoạt động quân sự là văn hóa, nhân đạo, nhân văn. Tinh thần đánh giặc bằng văn hóa, sức mạnh văn hóa mà trong đó giá trị nhân văn là cốt lõi nhất, bản chất nhất được tiếp nối, kế thừa, phát triển không ngừng. Trong lịch sử không có thời đại, thế hệ nào không dùng đến sức mạnh của tinh thần nhân văn trong đánh giặc, trong giành và giữ độc lập chủ quyền dân tộc. Hồ Chí Minh đã kế thừa và phát triển lên một tầm cao mới. Các giá trị đó được vận dụng cụ thể hóa vào từng mặt khác nhau của quân sự và tạo nên sức mạnh kỳ diệu trong thực tiễn kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ. Đại thắng mùa Xuân 1975, là đỉnh cao của sự tỏa sáng những giá trị nhân văn ở mục đích, phương thức tiến hành và quan hệ ứng xử trong toàn Cuộc Tổng tiến và nổi dậy.
Thứ nhất, Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975 là thắng lợi của chiến tranh nhân dân Việt Nam tự vệ, chính nghĩa.
Mục đích hoạt động quân sự của cả dân tộc Việt Nam xuyên suốt lịch sử là tự vệ, chính nghĩa, là “Đem đại nghĩa để thắng hung tàn, lấy chí nhân để thay cường bạo”. Kháng chiến chống đế quốc Mỹ, đỉnh cao là Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975 nhằm mục đích giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, đưa cả nước tiến lên chủ nghĩa xã hội, đó là giá trị nhân văn cao cả. Mục đích hoạt động quân sự của ta đối lập với mục đích quân sự thôn tính, xâm lược, áp đặt chế độ áp bức, nô dịch của đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai. Sự đối lập này cho thấy chỉ có mục đích quân sự chính nghĩa, tự vệ mới có giá trị nhân văn, còn ngược lại là phản nhân văn. Trong lịch sử, để thực hiện mục đích hoạt động quân sự nhân văn cao đẹp đó, chúng ta đã đấu tranh kiên quyết và khéo léo, đã nhún nhường “ở trong thì xưng đế, ở ngoài thì xưng vương”. Trong kháng chiến chống thực dân Pháp, “Chúng ta muốn hoà bình, chúng ta phải nhân nhượng. Nhưng chúng ta càng nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới, vì chúng quyết tâm cướp nước ta lần nữa! Không! Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”(3).
Trong kháng chiến chống đế quốc Mỹ, chúng ta đã kiên trì, bền bỉ để thi hành hiệp định Giơ-ne-vơ, đàm phán để ký kết hiệp định Pa-ri, ra sức ngăn chặn chiến tranh, song không thành. Để giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, đem lại cuộc sống ấm no, tự do hạnh phúc cho nhân dân không cách nào khác phải đứng lên tiến hành chiến tranh chống đế quốc Mỹ. Hồ Chí Minh đã kêu gọi lương tri chính phủ Pháp và sau này là Mỹ tôn trọng độc lập, chủ quyền Việt Nam, tránh chiến tranh, đổ máu. Người nói, “Chúng tôi không muốn chiến tranh, nhưng chúng tôi quyết tự vệ đến giọt máu cuối cùng. Chúng tôi quyết không chịu mất nước làm nô lệ thực dân lần nữa”(4). Đó thực sự là các cuộc chiến tranh tự vệ, chính nghĩa, “dụng binh là việc nhân nghĩa, muốn cứu dân, cứu nước”(5). Mục đích nhân văn của cuộc kháng chiến đó là đòi quyền độc lập, tự do, chứ không phải vì tư thù, tư oán, không nhằm tiêu diệt sạch sành sanh kẻ thù. Do đó, đúc kết thành phương châm: “Đánh cho Mỹ cút, đánh cho Nguỵ nhào”. Mục đích nhân văn trong hoạt động quân sự của Việt Nam đã được chính bộ máy lãnh đạo chiến tranh của Mỹ thừa nhận sau này. Cựu Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Mắc-na-ma-ra cho rằng: “Đánh giá thấp sức mạnh của một dân tộc đấu tranh và hy sinh cho lý tưởng và các giá trị của nó”(6), chính là giá trị nhân văn cao đẹp của cả dân tộc. Tổng chỉ huy quân viễn chinh Mỹ ở miền nam Việt Nam, đại tướng Oét-mo-len khẳng định: Nhảy vào Việt Nam là một sai lầm lớn nhất của nước Mỹ. E-uyn Knon, một nhà báo chuyên theo dõi về cuộc chiến tranh Việt Nam, trong cuốn sách gây tiếng vang lớn trong xã hội Mỹ - “Cuộc chiến bịp bợm của Mỹ”, đã vạch trần bản chất hiếu chiến, phi nghĩa và các thủ đoạn chiến tranh hết sức tàn bạo, vô nhân đạo của đế quốc Mỹ từ hơn 7500 tài liệu chân thực phía Mỹ. Một số lượng tiền của, vũ khí khổng lồ và gần một triệu quân viễn chinh và quân đồng minh của Mỹ đổ vào miền Nam, Việt Nam là minh chứng về sự xâm lược, tính phi nghĩa không thể chối cãi. Mục đích nhân văn quân sự Việt Nam xuyên suốt đó, trở thành động lực to lớn, quy tụ sức mạnh của cả dân tộc và sức mạnh của thời đại để tiến hành Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975 đi đến thắng lợi cuối cùng. Đồng thời, cho thấy thất bại cay đắng của nước Mỹ, là do bản chất cuộc chiến tranh xâm lược, phi nghĩa.
Thứ hai, Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975 là thắng lợi của phương thức hoạt động quân sự nhân văn đặc sắc Việt Nam
Hoạt động quân sự Việt Nam luôn đề cao vai trò, sức mạnh của con người, của quần chúng, là sự quý trọng tính mạng, xương máu của người lính, của nhân dân. Đối mặt với đế quốc Mỹ hùng mạnh về tiềm lực kinh tế và quân sự. Muốn thắng giặc phải dùng đến sức người, sức của. Đây là một mâu thuẫn buộc con người Việt Nam giải quyết. Dân tộc ta đã lựa chọn một phương thức sử dụng sức người, sức của nhân văn nhất. Chiến tranh nhân dân chính là biểu tượng của lòng yêu nước. Thực hiện tiến công và nổi dậy từng phần, làm tiêu hao, tiêu diệt binh lực địch để tiến tới cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975. Chiến tranh nhân dân Việt Nam không phải là phương thức lôi kéo nhân dân vào “cối xay thịt” như luận điệu của một số kẻ phản động. Đó là cuộc chiến bảo vệ độc lập, tự chủ, phẩm giá của con người Việt Nam, một cuộc chiến vì dân, nên người dân tự giác tham gia đánh giặc. “Nhân dân Việt Nam đoàn kết triệu người như một, kiên quyết đứng vững trên tiền tuyến của phong trào đấu tranh vĩ của nhân dân toàn thế giới chống đế quốc Mỹ”(7).
Toàn dân tộc Việt Nam không phân biệt già trẻ, nam nữ, công nhân, nông dân hay trí thức, mọi tầng lớp nhân dân đều chung một lý tưởng nhân văn, chung một khát vọng giành lại độc lập và thống nhất đất nước. Nhân dân miền Bắc hậu phương lớn của tiền tuyến lớn miền Nam, vừa xây dựng chủ nghĩa xã hội và chi viện cho cuộc kháng chiến ở miền Nam. Mọi người đều hăng hái đoàn kết thi đua, đều ra sức làm việc bằng hai, vì miền Nam ruột thịt. Thanh niên ba sẵn sàng, Phụ nữ ba đảm đang, Công nhân tay búa tay súng, Nông dân tay cày tay súng, Học sinh làm nghìn việc tốt. Ai ai cũng hăng hái đoàn kết thi đua chống đế quốc Mỹ. Địa phương nào cũng đoàn kết phấn đấu bảo đảm “Thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người”. Hàng triệu thanh niên “xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước”. Trước khi Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975, miền Bắc đã chi viện cho miền Nam 56 tấn vật chất, hàng hóa. Vào giai đoạn cuối của cuộc Tổng tiến công, đã huy động và vận chuyển vào miền Nam 80% quân số, 81% vũ khí, đạn dược, 85% xe vận tải, 60% xăng dầu, 65% thuốc men(8) đáp ứng yêu cầu đánh giặc.
Ở miền Nam, chiến tranh nhân dân với phương thức tổ chức, sử dụng lực lượng nhân văn nhất, sau Tết Mậu Thân 1968, Liên minh các lực lượng dân tộc, dân chủ và hòa bình Việt Nam ra đời. Liên minh là tổ chức đại diện cho các nhân sĩ, bác sĩ, nhà văn, nhà báo, sinh viên, người tu hành, sĩ quan và công chức tiến bộ trong quân đội và chính quyền miền Nam, tư sản dân tộc. Cương lĩnh của Liên minh đã mở rộng hơn để tạo cơ hội đoàn kết, tập hợp lực lượng và tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ rộng rãi hơn cả trong và ngoài nước, là cơ sở tiến tới thành lập Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam. Tạo sức mạnh tổng hợp cho cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975 đạt được thắng lợi hoàn toàn.
Giá trị nhân văn quân sự trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975 được hình thành trên cơ sở nghệ thuật sử dụng lực lượng đặc sắc, là không lấy số đông đánh số đông, cũng không lấy xương máu nhân dân làm sức mạnh đánh giặc. Xét theo lô-gíc hình thức khó tồn tại nghệ thuật quân sự trên, nhưng ở góc độ lô-gíc biện chứng lại tồn tại với nghệ thuật chiến tranh nhân dân, quốc phòng toàn dân và nghệ thuật kết hợp “thời”, “thế” và “lực” tạo nên sức mạnh đánh bại đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai. Phương thức hoạt động quân sự trọng tâm công (đánh vào lòng người) là chú trọng cách đánh khuất phục lòng người, cốt đuổi chứ không cốt diệt. Trong lịch sử từ trong Phạt Tống lộ bố văn của Lý Thường Kiệt, Bình Ngô sách do Nguyễn Trãi dâng lên Lê Lợi đến chủ trương “đánh chắc, tiến chắc” của chiến dịch Điện Biên Phủ. Trong kháng chiến chống đế quốc Mỹ, phương thức hoạt động quân sự nhân văn là “cốt đánh đuổi, không cốt đánh diệt”, “đánh cho Mỹ cút, đánh cho Ngụy nhào”, “đánh nhụt ý chí xâm lược”. Chúng ta đã kết hợp đấu tranh trên các mặt trận, kết hợp chính trị, quân sự, ngoại giao, binh vận, địch vận để giảm tổn thất cho người lính, người dân cả hai bên tham chiến. Trong Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975, phương châm chỉ đạo là “không đánh huỷ diệt, chỉ sử dụng hoả lực mạnh khi thật cần thiết”, “vừa đánh địch vừa lo bảo vệ dân, tạo thuận lợi để dân nổi dậy giành chính quyền cách mạng”. Chính vì vậy, sau chiến tranh, Sài Gòn và các thành phố lớn hầu như còn nguyên vẹn. Như vậy, ở chỗ tận cùng, buộc phải sử dụng vũ khí, tưởng chừng không thể nhân văn được, nhưng chúng ta vẫn làm mọi cách, và thực tế các phương thức đó đã khẳng định giá trị nhân văn cao cả nhất.
Thứ ba, Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975 là thắng lợi của giá trị nhân văn trong quan hệ ứng xử quân sự Việt Nam
Mục đích quân sự tự vệ, chính nghĩa quy định giá trị nhân văn trong quan hệ ứng xử. Giá trị đó thể hiện ở tính “Người” với những nội dung hài hòa, khoan dung, độ lượng, yêu thương, gắn bó giữa binh sĩ và binh sĩ, giữa cán bộ và binh sĩ, giữa quân với dân. Tính chất này đối lập với sự gia trưởng, thô bạo, tính cố chấp, phân biệt đối xử. Trong lịch sử là quan hệ “phụ tử chi binh”, là “tướng sĩ một lòng phụ tử hòa nước sông chén rượu ngọt ngào”, là “vua tôi đồng lòng, anh em hòa mục, cả nước góp sức, giặc phải bị bắt”. Trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975 là quan hệ quân với dân “cá với nước”, quan hệ giữa những người lính, giữa cán bộ và binh sĩ là “đồng chí, đồng đội”, là đoàn kết, thương yêu, giúp đỡ lẫn nhau, từ “điếu thuốc chia đôi, bát cơm sẻ nửa” đến “chia lửa” trong chiến đấu, sẵn sàng nhường sự sống cho đồng đội, nhận sự hy sinh về mình. Mặc dù, mối quan hệ giữa cấp trên, cấp dưới theo phân cấp, kỷ luật nghiêm minh, nhưng “Từ tiểu đội trưởng trở lên, từ Tổng tư lệnh trở xuống, phải săn sóc đời sống vật chất và tinh thần của đội viên, phải xem đội viên ăn uống như thế nào, phải hiểu nguyện vọng và thắc mắc của đội viên. Bộ đội chưa ăn cơm, cán bộ không được kêu mình đói. Bộ đội chưa đủ áo mặc, cán bộ không được kêu mình rét. Bộ đội chưa đủ chỗ ở, cán bộ không được kêu mình mệt”(9). Không chỉ bằng lời, mà nhiều hơn là những hành động, việc làm thể hiện tình thương yêu, quý trọng cán bộ, binh sĩ. Binh sĩ luôn thấy ở cán bộ tình cảm “gần gũi như người chị, thân thiết như người anh”. Trong Cuộc Tổng tiến và nổi dậy, thực sự mỗi người lính luôn được đề cao, tôn trọng và phát huy hết khả năng của mình.
Giá trị nhân văn quân sự Việt Nam trong Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975 còn biểu hiện trong ứng xử khoan dung độ lượng đối với kẻ thù. Kẻ thù đã cướp bóc, đàn áp nhân dân ta vô cùng dã man. Tội ác của đế quốc Mỹ và Ngụy là trời không dung, đất không tha: “chính sách xâm lược của Chính phủ Mỹ mà đồng bào miền Nam chúng tôi đã bị những tai nạn như sau: Hơn 4.000 phụ nữ bị hãm hiếp, có cả em bé và cụ già. Hơn 200.000 người bị thương vì tàu bay Mỹ ném bom. Hơn 400.000 người vô tội bị giam cầm. Hơn 1 triệu người thành tàn tật vì bị tra tấn. Hơn 150.000 người bị giết hại (3.000 người bị mổ bụng, moi gan, ăn thịt). Hàng trăm làng mạc bị đốt phá và bị thuốc độc, hàng chục vạn binh sĩ chết và bị thương ở chiến trường”(10). Vào trang web https://vi.wikipedia.org/, chỉ cần gõ từ “tội ác của đế quốc Mỹ và đồng minh trong chiến tranh Việt Nam” chúng ta đã thấy những tội ác dã man: “Thảm sát Mỹ Lai 1968”, “Lực lượng Mãnh Hổ”, “Thôn Khánh Giang - Trường Lệ, tỉnh Quảng Ngãi”, “Thảm sát Thạnh Phong”, “Chiến dịch Speedy Express”, “Các hoạt động ám sát của CIA”, “Thảm sát Duy Trinh”, “Thảm sát Bình Tai”, “Thảm sát Thái Bình”, “Thảm sát Bình An”, “Thảm sát Diên Niên - Phước Bình”, “Thảm sát Hà My”, “Thảm sát Phong Nhất và Phong Nhị” và các thảm sát trong các cuộc hành quân, bình định, thật là nhiều không kể xiết. Ngoài ra còn các vụ không quân Hoa Kỳ ném bom các khu vực dân sự ở miền Bắc Việt Nam, dải chất độc da cam, tra tấn tù nhân, tù binh dã man như chuồng cọp ở Côn Đảo. Hành động phản nhân văn của chúng đạt đến cực độ, nhưng chúng ta vẫn tìm mọi cách nhằm “tắt muôn đời chiến tranh; chỉ cần vẹn đất, cốt sao an ninh”.
Điều đặc biệt là ứng xử có tính khoan dung, độ lượng với cả kẻ thù của mình khi trở thành tù hàng binh. Kết thúc cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Đại thắng mùa Xuân 1975, hàng chục triệu thân nhân của toàn bộ ngụy quân, ngụy quyền, hàng vạn tù tội của chế độ cũ không một ai bị trả thù, ngược đãi, kể cả những tên ác ôn khét tiếng nợ máu với cách mạng, với nhân dân, đã được chính quyền cách mạng khoan hồng, tạo điều kiện cho họ cải tạo và hoà nhập với cuộc sống mới. Một người Mỹ ở bên kia chiến tuyến, Alan Dowson, trong cuốn sách 55 ngày chế độ Sài Gòn sụp đổ đã phải thừa nhận rằng sau khi cuộc chiến tranh chấm dứt, không có chuyện tắm máu xảy ra. Tác giả viết nghe kể lại một câu chuyện khó tin lúc bấy giờ về cách thức đối xử của những người cộng sản đối với tù nhân. Đó là trường hợp một tù binh là binh nhì thủy quân lục chiến Sài Gòn có tên là Đức đã từng giết 13 chiến sĩ cộng sản, được đưa đến trung tâm tạm giam và được một trung tá Quân giải phóng giảng giải tại sao Đức làm thế, và tội của Đức là không tuân lệnh chính quyền cách mạng kêu gọi bỏ súng xuống và sớm đầu hàng, Đức bị giam 6 tháng nếu cải tạo tốt sẽ được thả(11). Thật sự, không có các cuộc tàn sát “trả thù”, “tắm máu” hay “tẩy não” như các thế lực thù địch, phản động đã từng xuyên tạc.
Giá trị nhân văn trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Đại thắng mùa Xuân 1975 là một giá trị đặc trưng và quan trọng. Đó là sự thống nhất biện chứng giữa điều kiện lịch sử của đất nước và cốt cách con người Việt Nam. Giá trị đó được lưu truyền và vun đắp xuyên suốt chiều dài lịch sử trở thành bền vững. Hoạt động quân sự Việt Nam trong toàn bộ kháng chiến chống đế quốc Mỹ và giai đoạn cuối là cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975 ở mọi lúc, mọi nơi đều đậm dấu ấn nhân văn từ mục đích, phương thức hoạt động đến hành động ứng xử giữa đồng chí, đồng đội, giữa quân với dân và giữa ta với địch. Nó là động lực xuyên suốt kết tinh tất cả các yếu tố khác tạo nên sức mạnh to lớn để chúng ta có mùa Xuân Đại thắng. Giá trị đó là sự tiếp nối từ sâu trong mạch nguồn lịch sử dân tộc. Ngày nay chúng ta cần luôn luôn giữ gìn, phát huy, tiếp tục lan tỏa những giá trị đó trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa./.
PGS.TS, Đại tá, Bùi Xuân Quỳnh
Học viện Chính trị, Bộ Quốc phòng
----------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------
1, 11. Alan Dawson, 55 ngày chế độ Sài Gòn sụp đổ, (Cao Minh trích dịch), Nxb Sự thật, Hà Nội, 1990.
2. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, tập 37, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2004, tr.471.
3, 5. Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 4, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tr.534, 286.
4. Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 5, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tr.138.
6. Theo số liệu của Trung tâm Lịch sử quân sự Mỹ (US Army Center of Military History, Washington DC), 1995.
7, 10. Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 14, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tr.607, 260.
8. Nhà xuất bản Quân đội nhân dân, Đại thắng mùa Xuân 1975 - Nguyên nhân và bài học, Hà Nội, 2003, tr.306.
9. Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 7, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tr.76.v