1. Dẫn nhập
Biểu tượng trống có một vị trí quan trọng trong nhiều nền văn hoá, trong đó có Việt Nam. Trống không đơn thuần là một loại nhạc cụ mà nó còn là một vật thiêng gắn liền với những nghi lễ, tín ngưỡng và sự hình thành các thị tộc. Trong huyền thoại lụt của các tộc người ở Việt Nam, hình ảnh trống hiện lên mang những giá trị sâu sắc liên quan đến sự tái sinh, cội nguồn và thậm chí là cả trật tự của các thị tộc và dần phát triển thành trật tự xã hội như hiện nay qua quá trình chọn lọc và biến đổi. Mặc dù đã có nhiều công trình của Đặng Nghiêm Vạn (1972), Nguyễn Tấn Đắc (1997), Phan Ngọc (2000) nghiên cứu, diễn giải về huyền thoại lụt như một “motif” về sự tái tạo, sắp đặt lại thế giới trong đó các tác giả tập trung nghiên cứu các biểu tượng “quả bầu”, “thuyền”, “đại hồng thủy” nhưng chưa có nhiều công trình đi sâu vào diễn giải biểu tượng trống trong các huyền thoại này, cũng như diễn giải mối liên hệ giữa trống và các ý niệm về nguồn gốc thị tộc. Do vậy, việc nghiên cứu biểu tượng trống trong huyền thoại lụt không chỉ giúp làm sáng tỏ mối quan hệ giữa biểu tượng này trong hệ thống các biểu tượng của huyền thoại lụt mà còn góp phần lí giải về nguồn gốc của các thị tộc và ý thức của họ trong việc xác lập trật tự, tổ chức đời sống cộng đồng, nhận diện cộng đồng mình với những đặc thù, tính cách khác biệt, song hành với các động đồng khác.
2. Nội dung nghiên cứu
2.1. Trống trong hệ biểu tượng của các huyền thoại về nguồn gốc loài người
Trong tác phẩm kinh điển “Hệ tư tưởng Đức”, Ăng-ghen có viết “cuối cùng nghệ thuật và khoa học ra đời bên cạnh thương nghiệp và thủ công nghiệp, các bộ lạc biến thành các dân tộc và quốc gia”(1), với hàm ý rằng sau thời kì bộ lạc, sự ra đời của các dân tộc và nhà nước là sự phát triển tất yếu, biện chứng, dù quá trình phát triển đó ở mỗi dân tộc diễn ra khác nhau và có thể các dân tộc không phải hình thành trực tiếp từ các bộ lạc. Tuy nhiên, phép biện chứng này khẳng định rằng việc nghiên cứu mối quan hệ giữa các thị tộc, bộ lạc với sự hình thành dân tộc, quốc gia là có cơ sở. Nghiên cứu về sự ra đời, hình thành, phát triển các thị tộc ngoài việc dựa trên các tư liệu khảo cổ, dân tộc học thì các di sản truyền miệng được xem là một căn cứ quan trọng và cần thiết. Ngày nay, nhiều tộc người ở Việt Nam bảo tồn được các thần thoại bằng hình thức truyền miệng, cùng với việc duy trì và tiếp nối các tín ngưỡng dân gian, nghi lễ thờ cúng các vị thần, khiến cho những huyền thoại có sức sống bền bỉ và mãnh liệt. Thần thoại với tư cách hình thái nghệ thuật đầu tiên của nhân loại, ra đời cuối thời kì đồ đá cũ, thời điểm xã hội loài người được tổ chức thành các thị tộc, chung sống theo huyết thống và phương thức sản xuất, phụ thuộc về kinh tế. Trong tổ chức xã hội thị tộc, con người đặt mình trong mối quan hệ với tự nhiên, đối diện với tự nhiên không phải với tư cách đối lập giữa dã man và văn hoá, giữa tự nhiên và xã hội, mà xem tự nhiên như một thực thể sống, một tương quan để con người nhận thức về cả tự nhiên và chính bản thân mình. Trong quá trình nhận thức đó, những câu hỏi “Trời sinh ra từ đâu? Đất sinh ra từ đâu? Cái gì có trước trời? Cái gì có trước đất” (Thần thoại Lô Lô) trở thành mối quan tâm thường trực. Từ đó, những ngôn bản truyền miệng ra đời, phản ánh quá trình phát triển của người nguyên thuỷ, cả về đời sống vật chất, sinh kế, cư trú và cả sự phát triển về ngôn ngữ, thế giới quan, nhân sinh quan. Những câu hỏi ngây thơ được trả lời bằng một tư duy hình tượng, hồn nhiên, trong sáng, bằng những “kinh nghiệm nguyên thuỷ” (chữ của Levy Bruhl), tạo nên những hình tượng thần thoại đặc sắc. Tư duy về cái đẹp, cái cao cả, dù còn chưa thành hình như các phạm trù thẩm mĩ của nghệ thuật, nhưng đã là nguồn cảm hứng bất tận của các cộng đồng người về sự sáng tạo thế giới.
Theo dòng thời gian thần thoại, khởi đầu cho mọi câu chuyện về thần thoại người Việt, là thần thoại về thần Trụ Trời nhằm lí giải nguồn gốc vạn vật. Thần thoại miêu tả ngoại hình lớn lao của thần trụ trời với hành động đào đất, đắp và tạo nên cột to. Tương tự, người Mường có bộ sử thi Đẻ đất đẻ nước nói về việc hình thành thị tộc: “Trước hết, ông Thu Tha, bà Thu Thiên đã tạo ra cây cỏ và các loài tôm cá. Đó là Đẻ Đất. Sau đó, ông Pồng Pêu (thần nước) cầy mưa và Đẻ Nước. Tại đất đó mọc lên Cây Si cao chọc trời, khi cây đổ biến 1919 cành Si thành 1919 đất mường và gọi là Đẻ Mường. Cuối cùng, để Đẻ Người và gây dựng lên thị tộc người Mường thì người con út là Trống Chim Tùng, Mái Chim Tót đẻ trứng Chiếng nở thành người. Trứng Pỏ nứt nghe thấy tiếng Lào, Kinh, Mường, Thái, Mán, Mẹo(2). Việc đặt tên cho các vị thần, đặt tên cho nhóm cộng đồng của mình là một dấu mốc trong hành trình nhận thức của con người về bản thân, về thị tộc.
Trong hệ thần thoại các tộc người, việc sinh ra con người, sáng tạo và tái tạo con người là dòng chảy liên tục, trong đó, mỗi tộc người có thể có nhiều bản kể khác nhau, diễn giải về nguồn gốc của mình, với một ý thức cội nguồn rõ rệt. Nguồn gốc tộc người đều liên quan đến thế giới tự nhiên, với hình ảnh đại diện là thực vật, hoặc động vật quen thuộc trong đời sống, là hình ảnh tô-tem của thị tộc. Có thể khẳng định tô-tem và các tín ngưỡng bái vật giáo nguyên thuỷ là tiền đề, cơ sở của niềm tin cho sự ra đời các huyền thoại tộc người. Liên quan đến các truyện kể về nguồn gốc, gần gũi với dân tộc Việt hơn cả là Truyện Quả bầu của người Dao. Truyện kể rằng:“Từ vỏ, cùi, hạt bầu đều hoá thành người. Vỏ bầu ít hoá thành người Dao, người Mèo ở trên núi cao. Cùi bầu nhiều hơn thì hoá thành người Tày người Nùng ở lưng chừng núi. Còn vô vàn hạt bầu hóa thành người Kinh (Việt) ở vùng thấp, vùng đồng bằng đông đúc”(3). Những thần thoại, sử thi được trình bày ở trên là khởi nguồn của Đất, Trời và lần lượt loài người xuất hiện tạo nên những thị tộc cùng chung sống.
Trong tư duy thần thoại, quá trình sinh thành vạn vật và con người không phải diễn ra một lần duy nhất mà sự sáng tạo muôn loại được lặp lại, tái tạo ở mức độ cao hơn, phản ánh quá trình nhận thức liên tục, sự hình thành ý thức các cộng đồng người. Sau thần thoại về sự ra đời trời đất, muôn loài, thần thoại thế giới xuất hiện phổ biến cốt kể về đại hồng thuỷ, trong đó loài người một lần nữa được tái sinh và sắp xếp lại. Trong thần thoại Đông Nam Á “type” đại hồng thuỷ, có thể thấy, biểu tượng bầu và thóc xuất hiện phổ biến hơn. Đặc biệt, trong văn hóa Việt Nam, bầu cũng có thể liên quan đến hình ảnh mẹ, với khả năng bảo vệ và sinh ra sự sống. Như trong ý niệm của người Thái, các dân tộc đều từ quả bầu chui ra. “Trong đoạn mở đầu “Quan Tô Mương” có ghi Then đã cho hai anh em Tạo Xuông, Tạo Ngần đem 8 quả bầu mà Then đã bỏ vào 330 giống lúa dưới ruộng, 330 giống cá dưới nước, 330 giống người Xá và 330 giống người Thái”(4). Câu chuyện “Quả bầu mẹ” nằm trong hệ thống các thần thoại về dân tộc Việt Nam đã giải thích nguồn gốc loài người như sau: “Khi trận đại hồng thủy kết thúc, hai anh em ruột sau thời gian dài không gặp ai để kết hôn và đã nghe theo lực lượng siêu nhiên lấy nhau nhằm duy trì giống nòi”(5). Theo Đặng Nghiêm Vạn, số lượng thần thoại về quả bầu ở Đông Nam Á có số lượng 307 bản kể, một nửa là thu thập tại chỗ(6), ông cũng miêu tả cốt truyện về cách để tránh nạn hồng thuỷ, nhân vật dùng các phương tiện: thuyền, quả bầu, vỏ trấu, thùng gỗ rỗng (trống), ổ rơm, bè… Riêng ở 236 truyện ở Đông Nam Á, có 128 truyện, nhân vật chui vào quả bầu lánh nạn. Quả bầu thiêng xuất hiện trong thần thoại phản ánh vị trí của quả bầu trong đời sống xã hội xưa của tộc người. Bầu trồng phổ biến ở Đông Nam Á (Mạ, Sre, La Ha), lễ rước hồn lúa, lễ làm nhà mới bầu tượng trưng sự đầy đủ, thịnh vượng(7). Các nhà nghiên cứu nhận định “ý niệm về quả bầu mẹ” là “mọi người sinh ra từ một quả bầu: chỉ là cách biểu hiện bằng hình tuợng huyền thoại một giai đoạn phát triển loại người. Lúc này bắt đầu hình thành những nhóm người gắn bó với nhau theo dòng máu phía mẹ”(8), ý niệm về những người cùng thị tộc (mẫu hệ), rồi phát triển cộng đồng cư dân cùng khu vực, phương thức sinh tồn (bộ lạc). Sự tồn tại cộng đồng xưa, mô hình xã hội đã được phản ánh trong mô hình, cấu trúc thần thoại.
Để thoát khỏi nạn đại hồng thuỷ, thần thoại Trung Đông, Hi Lạp kể chuyện gia đình No-ê được cứu bằng nhà thuyền, cả gia đình được cứu sống; thần thoại Châu Mỹ thường kể con người nhanh chân chạy thoát khỏi cơn lũ lụt. Trong các bản kể của khu vực Đông Nam Á, có thể thấy hệ thống biểu tượng xuất hiện trong huyền thoại đại hồng thuỷ giúp con người thoát khỏi tai hoạ thường có hai nhóm: (I) Cây, bầu, thóc...; (II) Thân cây, bè, thùng gỗ rỗng, thuyền, trống, giường, cối gỗ….
Thần thoại của người Ba Na chỉ ra nguồn gốc loài người và sự ra đời của hạt lúa rằng: “Hai vợ chồng nhận thấy nước dâng cao liền tìm chiếc thùng gỗ to, mang thức ăn theo và mỗi loài vật một đôi, chui vào trốn trong đó. Sau trận đại hồng thủy, khi hai người chui ra có con kiến xuất hiện tha hạt lúa và cứu sống vợ chồng. Sau thời gian dài, họ sinh ra những người con, chia nhau đi làm ăn theo từng miền”(9).
Có thể thấy các biểu tượng của huyền thoại Đông Nam Á cho thấy lớp sớm hơn trong hệ thống huyền thoại lụt. Bầu và thóc trong các thần thoại trên phản ánh mối quan hệ con người và tự nhiên, gắn liền với nguồn thức ăn, phương thức sản xuất, sinh tồn của các cộng đồng người. Trong đó, bầu và thóc là biểu tượng cho sự sống, sinh sôi nảy nở và phát triển, tạo ra mối liên hệ giữa bầu, thóc với sự sinh sôi nảy nở của các thị tộc. Trong nhiều thần thoại Việt Nam, thóc gắn liền với hình ảnh của sự trù phú, màu mỡ của đất đai và khả năng cung cấp nguồn sống cho các cộng đồng người. Biểu tượng trống xuất hiện không nhiều nhưng có mối liên hệ chặt chẽ với các biểu tượng khác như bầu, thóc, thuyền, trấu… Nhóm (I) là biểu tượng thực vật nguyên thuỷ, nhóm thứ (II), tác giả Nguyễn Tấn Đắc gọi là “kí hiệu bầu”. Quan sát các văn bản, trống được xếp cùng loại với bầu, vỏ trấu, thuyền, thùng gỗ ở ý niệm “rỗng”, “có khả năng chứa đựng”. Trống (mà hình thức thùng gỗ rỗng - chưa đặt tên đồ vật - được coi là xuất hiện sớm hơn) và thuyền (bè mảng cũng được cho là sớm hơn thuyền, cùng nghĩa ở vật gỗ, nổi) là phương tiện giúp con người thoát khỏi đại hồng thuỷ. Chúng tôi cho rằng, thuyền và trống là những biểu tượng xuất hiện muộn hơn so với bầu, thóc; bè, mảng, không chỉ bởi ở vấn đề kĩ thuật làm thuyền, làm trống ở bậc cao, xuất hiện muộn mà bởi quá trình chuyển hoá, thiêng hoá, từ sự vật, phương tiện đời sống trở thành vật thiêng trong thần thoại. Người xưa mượn thần thoại để tôn vinh các thành tựu văn minh thời nguyên thuỷ, ca ngợi sản phẩm sáng tạo của con người.
Trận đại hồng thủy xuất hiện, hai anh em sống sót sau trận lụt nhờ nấp vào quả bầu/ vỏ thóc hay trống, lấy nhau sinh ra con người. Về nguồn gốc loài người, hầu hết các thần thoại đề cập đến vấn đề “hôn nhân nội tộc” xuất hiện trong thời gian dài ở xã hội nguyên thủy. Theo thời gian, khi loài người bước sang thời kì mới theo quy luật, hiện tượng “hôn nhân nội tộc” bị lên án. Tương tự, truyện Quả bầu mẹ được chấp nhận vì trong trường hợp cần duy trì nòi giống mới chấp nhận việc đó. Vì vậy, có thể coi trống như một biểu tượng của sự cứu rỗi con người, là điểm khởi đầu của một cuộc sống mới, từ đó thấy được quá trình sinh thành các thị tộc ở Việt Nam vô cùng phong phú và đa dạng. Các biểu tượng này không chỉ là những yếu tố trong tín ngưỡng dân gian, mà còn phản ánh các giá trị văn hóa, xã hội của người Việt, nơi mà sự kết nối giữa con người, thiên nhiên và thần linh luôn được coi trọng.
2.2. Biểu tượng trống có ý nghĩa tái tạo sự sống và xác lập trật tự thế giới
a. Trống là vật thiêng, kết nối con người và vũ trụ, trời và đất
Vai trò tái sinh của trống có thể được diễn giải qua nhiều hình tượng tạo ra nhiều thần thoại khác nhau, nhưng không có sức lan tỏa rộng như motip về đại hồng thủy. Đại hồng thủy là một huyền thoại phổ biến ở khắp các quốc gia, ở nhiều nền văn hóa khác nhau gây ra trận lụt lớn và sau đó phát triển dần thành những “huyền thoại tái sinh”. Hiểu một cách đơn giản, khi các hình thái dần trở nên cũ và theo quy luật, sự hình thành hình thái mới, lịch sử phát triển mới sẽ ra đời. Trận đại hồng thủy xuất hiện qua lời kể của người Mông như sau: “những trận mưa liên tiếp luôn bốn mươi ngày đêm, nước dâng lên ngập mặt đất, dâng lên đến tận trời cao”. Người Raglai cũng kể: “Nước lụt từ biển dâng lên đến ngọn núi, nước lên cao đến tận trời. Có hai người ở miền Thượng, một trai một gái chui vào một cái trống… Sau trận lụt lớn ấy, tất cả đều chết sạch, chỉ trừ hai người còn sống sót ở trong cái trống. Họ lấy nhau rồi dần dà sinh sôi nảy nở ra loài người”(10). Những thị tộc dần có sự thích nghi khi đối mặt với lụt và sau này khởi nguồn cho câu thành ngữ “Sống chung với lũ”. Ngoài ra còn có thần thoại của Bok Kơi Dơi và LaKonKeh - hai vị thần khai sáng tự nhiên, vũ trụ và loài người trong thần thoại người Ba Na. “Do con người làm việc không chu đáo nên thần đã cho làm trận đại hồng thủy để loài người không còn nữa, chỉ còn hai người may mắn chui vào trống nổi lên mặt nước, sống sót” (11).
Trong các thần thoại lụt, biểu tượng trống xuất hiện ở một lớp văn hóa muộn hơn gia nhập vào hệ biểu tượng thời kì sớm (cây, bầu, thóc…). Nếu như thân cây gỗ là vật nổi của tự nhiên, con người dựa vào đó để thoát nạn, thì các đồ vật như cối, trống, thuyền, bè, mảng… là những sản phẩm văn hóa, thể hiện trình độ tổ chức đời sống, thích nghi của con người với thiên tai. Đó là bước tiến dài trong kĩ thuật, tiến tới văn minh và ý thức sinh tồn của các cộng đồng thị tộc. Trống là nhạc cụ, mô phỏng âm thanh của tự nhiên (tiếng sấm) vì thế nó được thiêng hóa, vượt lên trên ý nghĩa nhạc cụ, là một biểu tượng thiêng, là vật kết nối giữa con người với thần linh và vũ trụ, đồng thời là biểu trưng của thủ lĩnh, mang trong mình ý nghĩa về sự sinh tồn và bảo vệ cộng đồng.
Tại sao trống lại gia nhập hệ thống biểu tượng của thần thoại về lụt? Ở Trung Quốc, có quan niệm “tiếng trống hòa theo tiếng sấm, gắn với nước, gắn với túi da của trời, với sét, với lò rèn, với chim cú” (12), ở Lào có nghi thức đánh trống để cầu mưa tốt lành, phúc của trời. Cũng lưu ý rằng ở Lào, huyền thoại quả bầu là dạng phổ biến. Việc trống tham gia vào các lễ hội cầu mưa có thể tìm thấy ở nhiều ngôn bản người Việt trong thời kì phong kiến. “Các pháp sư dùng trống trong ma thuật tôn giáo, là biểu tượng trung gian của trời và đất, người thầy pháp shaman chế tạo chiếc trống từ cành cây, như vậy mỗi khi sử dụng trống là tiếp xúc với trục trái đất, trống được trang trí là một tiểu vũ trụ”(13) điều này càng rõ khi chúng ta quan sát họa tiết hoa văn trên trống đồng Đông Sơn, ở đó có cả tiểu vũ trụ, thế giới quan, nhân sinh quan của người Việt cổ.
b. Trống là âm thanh báo hiệu chu kì mới, xác lập lại trật tự thế giới
Sau đại hồng thủy, luôn có sự sắp xếp lại về cuộc sống của con người: những nhóm người sống miền núi cao, người ở vùng đồng bằng; người có nước da ngăm đen, người có nước da sáng, họ sẽ phân bố ở các địa bàn khác nhau… Như vậy một trật tự mới được xác lập và phải ở một thời kì sau đó rất lâu, con người mới nhận thức và thuật lại rõ rệt trong các lời truyền miệng. Ý nghĩa của việc xuất hiện trống trong các huyền thoại lụt càng được củng cố, bồi đắp vì chức năng tái tạo âm thanh của trống. Người nguyên thủy bắt chước âm thanh tự nhiên vừa là sự hòa mình, vừa là tách dần mình khỏi thế giới tự nhiên. “Trống mang âm thanh tiết tấu, mở ra chu kì”(14). Việc đánh trống trận ở thời kì tiền nhà nước và nhà nước “có liên quan đến sấm và sét, vì tính hủy diệt của chúng, vừa hủy diệt vừa tái tạo”, trống còn gắn với thần chiến tranh Ares, Mars (Hi Lạp) với thần Indra (Ấn Độ)(15).
Trống, trong văn hóa dân gian, thường được coi là vật dụng linh thiêng, có sức mạnh kỳ diệu. Việc khoét trống có thể được hiểu là cách con người tạo ra một “lối thoát” để tìm kiếm sự sống, trốn thoát khỏi hiểm họa đại hồng thủy. Điều này thể hiện khát vọng sinh tồn mãnh liệt và ý thức về sự cứu rỗi trong những lúc tuyệt vọng. Việc trốn trong “trống” cũng có thể là hình ảnh của sự tái sinh. Trong nhiều nền văn hóa, trống là một hình ảnh biểu trưng cho sự tái tạo và khởi đầu mới. Việc đánh trống cũng làm sinh sôi nảy nở của cải trên trái đất. Khi đại hồng thủy xảy ra, đó có thể là sự kết thúc của một chu kỳ cũ, và việc khoét trống để trốn có thể đồng thời ám chỉ hy vọng về một sự bắt đầu mới, một khởi đầu sau thảm họa. Tương tự như biểu tượng về thuyền hay cối, trống hiện hữu trong các lời căn dặn của các vị thần khi muốn cứu sống lấy con người thoát khỏi sự tàn phá của thiên nhiên, đặc biệt là các thần thoại có liên quan đến đại hồng thủy. Giải nghĩa về biểu tượng trống liên hệ với việc phát ra âm thanh, đó là khởi nguyên, cội nguồn của sự hiển lộ và tổng quát hơn, với tiết tấu của vũ trụ, trống không chỉ dùng để nổi hiệu báo động đơn thuần, hay cứu lấy con người, mà còn làm sinh sôi nảy nở của cải trên trái đất và là tiếng gọi của các thế lực phù trợ.
c. Trống là biểu tượng lưỡng hợp, lưỡng tính, biểu đạt sự sinh sôi nảy nở
Từ thần thoại về Bok Kơi Dơi và LaKonKeh, chúng tôi đã tìm hiểu thêm được về thần thoại của Bok Sơ Gơ. “Vẫn xuất phát từ một cơn đại hồng thủy từ các thần, họ đã dùng trống làm phương tiện để tránh nạn. Sau khi thoát nạn, họ mang theo vật nuôi mỗi loài một cặp, được gọi là Bok Sơgơ, tức là ông bà tránh nạn trong trống”(16). Điển hình như nguồn gốc của người Tà Ôi, biểu tượng trống xuất hiện và đóng vai trò rất rõ ràng trong nguồn gốc sinh thành ra tộc người đó. Thần thoại kể lại rằng, “Yàng Arơbang (Thần Trời) đã làm một trận mưa to, nước ngập khắp nơi, tạo ra trận đại hồng thủy nhấn chìm mọi thứ ở trần gian. Thần đã mách cho một cô gái cách tránh lũ lụt, đó là hãy làm một cái trống thật to, khoét một lỗ trên để chui vào đó ẩn nấp. Sau khi đại hồng thủy kết thúc, chỉ có mình cô gái đó sống sót, thần đã cho một vài giống cây để làm thức ăn. Một thời gian sau, cô gái có thai (ba năm, bảy tháng, bảy ngày) rồi sinh ra một quả bầu, từ quả bầu đó lần lượt xuất hiện rất nhiều người con. Chín người con trắng tinh xuống đồng bằng và trở thành người Kinh, những người còn lại lên núi và trở thành người Tà Ôi”(17). Khônvg chỉ có nguồn gốc sinh thành của người Tà Ôi, mà còn có nhiều tộc người khác cũng gắn liền với biểu tượng trống, như nguồn gốc dân tộc Pa Cô. “Ngày ấy, già làng nằm mơ thấy Yàng Arơbang (Thần Trời) hiện ra và nói rằng bảy ngày nữa sẽ có một trận lụt lớn. Vì vậy, cần đục đẽo một cái trống (Acư) thật lớn, đưa vật nuôi, cây trồng, dụng cụ sản xuất vào trong đó, mỗi loại chỉ được chọn một, đến cả con người cũng vậy. Sau bảy ngày bảy đêm, nước mới rút dần, cô gái mang thai và sinh ra mười người con (năm trai, năm gái). Theo lời người mẹ, họ đã gặp gỡ nhau và cưới nhau, từ đó tạo nên ngôi làng của người Pa Cô”(18). Như vậy, dấu ấn rõ nét của thị tộc mẫu hệ ở trong thần thoại chỉ có cô gái trốn thoát. Chúng ta thấy trống vừa là đàn ông, người thợ thủ công, thợ săn, vừa là đàn bà, biểu tượng của âm ti, hang động, cho nên đánh trống còn đươc gọi là đánh vào bụng(19).
Biểu tượng trống trong mối quan hệ thần thoại và nghi lễ, gắn với sự hình thành thị tộc và dân tộc. Trống (gỗ, da) xuất hiện trong đời sống văn hoá, nghi lễ, nghệ thuật của nhiều cộng đồng dân cư. Hầu như tất cả các đình, đền đều có trống, vừa như biểu tượng thiêng, dùng trong các dịp tế, lễ. Trống dược đặt ở vị trí trang trọng: đại sảnh, gian chính, được để trên kệ gỗ, sơn son, thậm chí được trang trí, khăn phủ. Để chuẩn bị cho lễ hội ở làng, ngoài lễ mộc dục tắm tượng, lau dọn vệ sinh các đồ thờ, trống cũng được làm sạch sẽ. Trống tham gia vào các nghệ thuật biểu diễn chèo, tuồng, múa rối… giữ nhịp, điều tiết vở diễn, tạo âm hưởng. Khi khảo sát thực địa làng trống Đọi Tam (xã Đọi Sơn, Duy Tiên, Hà Nam), những người thợ làm trống cho biết hiện nay nghề làm trống được duy trì tốt, với lượng sản phẩm lớn, trống dùng trong các nghi lễ tôn giáo là chính (nhà thờ, đền). Ngày nay, các lễ hội truyền thống cũng như hiện đại, màn trống hội được biểu diễn rất sôi nổi, hào hứng, tạo không khí vừa trang nghiêm, vừa vui vẻ cho các lễ hội. Tiếng trống trong trường học cũng gắn bó với tuổi thơ, tuổi học trò của tất cả thế hệ học sinh Việt Nam.
3. Kết luận
Tóm lại, trống là một biểu tượng nổi bật, xuất hiện nhiều trong các huyền thoại lụt ở Việt Nam, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng khi nghiên cứu đến vấn đề cội nguồn của sự khởi nguyên, sinh thành các cộng đồng thị tộc Việt. Những câu chuyện huyền thoại lụt ở Việt Nam, tạo dựng nên biểu tượng trống từ những nghệ thuật ngôn từ dân gian, là sự đúc kết những tư tưởng, giá trị cốt lõi của các thị tộc. Nó hàm chứa căn nguyên sự kiến tạo cộng đồng, sự kết nối giữa con người và thế giới siêu nhiên, sự tái lập trật tự xã hội sau thảm hoạ. Việc nghiên cứu biểu tượng trống, góp phần làm sáng tỏ cách thức con người cổ đại lí giải sự hình thành của xã hội và sự duy trì bản sắc thị tộc qua các thế hệ. Nghiên cứu biểu tượng trống trong các huyền thoại lụt đã phần nào gợi mở, đóng góp cho những nghiên tiếp theo về vai trò của biểu tượng trong sự hình thành và phát triển cộng đồng thị tộc./.
Biểu tượng trống có một vị trí quan trọng trong nhiều nền văn hoá, trong đó có Việt Nam. Trống không đơn thuần là một loại nhạc cụ mà nó còn là một vật thiêng gắn liền với những nghi lễ, tín ngưỡng và sự hình thành các thị tộc. Trong huyền thoại lụt của các tộc người ở Việt Nam, hình ảnh trống hiện lên mang những giá trị sâu sắc liên quan đến sự tái sinh, cội nguồn và thậm chí là cả trật tự của các thị tộc và dần phát triển thành trật tự xã hội như hiện nay qua quá trình chọn lọc và biến đổi. Mặc dù đã có nhiều công trình của Đặng Nghiêm Vạn (1972), Nguyễn Tấn Đắc (1997), Phan Ngọc (2000) nghiên cứu, diễn giải về huyền thoại lụt như một “motif” về sự tái tạo, sắp đặt lại thế giới trong đó các tác giả tập trung nghiên cứu các biểu tượng “quả bầu”, “thuyền”, “đại hồng thủy” nhưng chưa có nhiều công trình đi sâu vào diễn giải biểu tượng trống trong các huyền thoại này, cũng như diễn giải mối liên hệ giữa trống và các ý niệm về nguồn gốc thị tộc. Do vậy, việc nghiên cứu biểu tượng trống trong huyền thoại lụt không chỉ giúp làm sáng tỏ mối quan hệ giữa biểu tượng này trong hệ thống các biểu tượng của huyền thoại lụt mà còn góp phần lí giải về nguồn gốc của các thị tộc và ý thức của họ trong việc xác lập trật tự, tổ chức đời sống cộng đồng, nhận diện cộng đồng mình với những đặc thù, tính cách khác biệt, song hành với các động đồng khác.
2. Nội dung nghiên cứu
2.1. Trống trong hệ biểu tượng của các huyền thoại về nguồn gốc loài người
Trong tác phẩm kinh điển “Hệ tư tưởng Đức”, Ăng-ghen có viết “cuối cùng nghệ thuật và khoa học ra đời bên cạnh thương nghiệp và thủ công nghiệp, các bộ lạc biến thành các dân tộc và quốc gia”(1), với hàm ý rằng sau thời kì bộ lạc, sự ra đời của các dân tộc và nhà nước là sự phát triển tất yếu, biện chứng, dù quá trình phát triển đó ở mỗi dân tộc diễn ra khác nhau và có thể các dân tộc không phải hình thành trực tiếp từ các bộ lạc. Tuy nhiên, phép biện chứng này khẳng định rằng việc nghiên cứu mối quan hệ giữa các thị tộc, bộ lạc với sự hình thành dân tộc, quốc gia là có cơ sở. Nghiên cứu về sự ra đời, hình thành, phát triển các thị tộc ngoài việc dựa trên các tư liệu khảo cổ, dân tộc học thì các di sản truyền miệng được xem là một căn cứ quan trọng và cần thiết. Ngày nay, nhiều tộc người ở Việt Nam bảo tồn được các thần thoại bằng hình thức truyền miệng, cùng với việc duy trì và tiếp nối các tín ngưỡng dân gian, nghi lễ thờ cúng các vị thần, khiến cho những huyền thoại có sức sống bền bỉ và mãnh liệt. Thần thoại với tư cách hình thái nghệ thuật đầu tiên của nhân loại, ra đời cuối thời kì đồ đá cũ, thời điểm xã hội loài người được tổ chức thành các thị tộc, chung sống theo huyết thống và phương thức sản xuất, phụ thuộc về kinh tế. Trong tổ chức xã hội thị tộc, con người đặt mình trong mối quan hệ với tự nhiên, đối diện với tự nhiên không phải với tư cách đối lập giữa dã man và văn hoá, giữa tự nhiên và xã hội, mà xem tự nhiên như một thực thể sống, một tương quan để con người nhận thức về cả tự nhiên và chính bản thân mình. Trong quá trình nhận thức đó, những câu hỏi “Trời sinh ra từ đâu? Đất sinh ra từ đâu? Cái gì có trước trời? Cái gì có trước đất” (Thần thoại Lô Lô) trở thành mối quan tâm thường trực. Từ đó, những ngôn bản truyền miệng ra đời, phản ánh quá trình phát triển của người nguyên thuỷ, cả về đời sống vật chất, sinh kế, cư trú và cả sự phát triển về ngôn ngữ, thế giới quan, nhân sinh quan. Những câu hỏi ngây thơ được trả lời bằng một tư duy hình tượng, hồn nhiên, trong sáng, bằng những “kinh nghiệm nguyên thuỷ” (chữ của Levy Bruhl), tạo nên những hình tượng thần thoại đặc sắc. Tư duy về cái đẹp, cái cao cả, dù còn chưa thành hình như các phạm trù thẩm mĩ của nghệ thuật, nhưng đã là nguồn cảm hứng bất tận của các cộng đồng người về sự sáng tạo thế giới.
Theo dòng thời gian thần thoại, khởi đầu cho mọi câu chuyện về thần thoại người Việt, là thần thoại về thần Trụ Trời nhằm lí giải nguồn gốc vạn vật. Thần thoại miêu tả ngoại hình lớn lao của thần trụ trời với hành động đào đất, đắp và tạo nên cột to. Tương tự, người Mường có bộ sử thi Đẻ đất đẻ nước nói về việc hình thành thị tộc: “Trước hết, ông Thu Tha, bà Thu Thiên đã tạo ra cây cỏ và các loài tôm cá. Đó là Đẻ Đất. Sau đó, ông Pồng Pêu (thần nước) cầy mưa và Đẻ Nước. Tại đất đó mọc lên Cây Si cao chọc trời, khi cây đổ biến 1919 cành Si thành 1919 đất mường và gọi là Đẻ Mường. Cuối cùng, để Đẻ Người và gây dựng lên thị tộc người Mường thì người con út là Trống Chim Tùng, Mái Chim Tót đẻ trứng Chiếng nở thành người. Trứng Pỏ nứt nghe thấy tiếng Lào, Kinh, Mường, Thái, Mán, Mẹo(2). Việc đặt tên cho các vị thần, đặt tên cho nhóm cộng đồng của mình là một dấu mốc trong hành trình nhận thức của con người về bản thân, về thị tộc.
Trong hệ thần thoại các tộc người, việc sinh ra con người, sáng tạo và tái tạo con người là dòng chảy liên tục, trong đó, mỗi tộc người có thể có nhiều bản kể khác nhau, diễn giải về nguồn gốc của mình, với một ý thức cội nguồn rõ rệt. Nguồn gốc tộc người đều liên quan đến thế giới tự nhiên, với hình ảnh đại diện là thực vật, hoặc động vật quen thuộc trong đời sống, là hình ảnh tô-tem của thị tộc. Có thể khẳng định tô-tem và các tín ngưỡng bái vật giáo nguyên thuỷ là tiền đề, cơ sở của niềm tin cho sự ra đời các huyền thoại tộc người. Liên quan đến các truyện kể về nguồn gốc, gần gũi với dân tộc Việt hơn cả là Truyện Quả bầu của người Dao. Truyện kể rằng:“Từ vỏ, cùi, hạt bầu đều hoá thành người. Vỏ bầu ít hoá thành người Dao, người Mèo ở trên núi cao. Cùi bầu nhiều hơn thì hoá thành người Tày người Nùng ở lưng chừng núi. Còn vô vàn hạt bầu hóa thành người Kinh (Việt) ở vùng thấp, vùng đồng bằng đông đúc”(3). Những thần thoại, sử thi được trình bày ở trên là khởi nguồn của Đất, Trời và lần lượt loài người xuất hiện tạo nên những thị tộc cùng chung sống.
Trong tư duy thần thoại, quá trình sinh thành vạn vật và con người không phải diễn ra một lần duy nhất mà sự sáng tạo muôn loại được lặp lại, tái tạo ở mức độ cao hơn, phản ánh quá trình nhận thức liên tục, sự hình thành ý thức các cộng đồng người. Sau thần thoại về sự ra đời trời đất, muôn loài, thần thoại thế giới xuất hiện phổ biến cốt kể về đại hồng thuỷ, trong đó loài người một lần nữa được tái sinh và sắp xếp lại. Trong thần thoại Đông Nam Á “type” đại hồng thuỷ, có thể thấy, biểu tượng bầu và thóc xuất hiện phổ biến hơn. Đặc biệt, trong văn hóa Việt Nam, bầu cũng có thể liên quan đến hình ảnh mẹ, với khả năng bảo vệ và sinh ra sự sống. Như trong ý niệm của người Thái, các dân tộc đều từ quả bầu chui ra. “Trong đoạn mở đầu “Quan Tô Mương” có ghi Then đã cho hai anh em Tạo Xuông, Tạo Ngần đem 8 quả bầu mà Then đã bỏ vào 330 giống lúa dưới ruộng, 330 giống cá dưới nước, 330 giống người Xá và 330 giống người Thái”(4). Câu chuyện “Quả bầu mẹ” nằm trong hệ thống các thần thoại về dân tộc Việt Nam đã giải thích nguồn gốc loài người như sau: “Khi trận đại hồng thủy kết thúc, hai anh em ruột sau thời gian dài không gặp ai để kết hôn và đã nghe theo lực lượng siêu nhiên lấy nhau nhằm duy trì giống nòi”(5). Theo Đặng Nghiêm Vạn, số lượng thần thoại về quả bầu ở Đông Nam Á có số lượng 307 bản kể, một nửa là thu thập tại chỗ(6), ông cũng miêu tả cốt truyện về cách để tránh nạn hồng thuỷ, nhân vật dùng các phương tiện: thuyền, quả bầu, vỏ trấu, thùng gỗ rỗng (trống), ổ rơm, bè… Riêng ở 236 truyện ở Đông Nam Á, có 128 truyện, nhân vật chui vào quả bầu lánh nạn. Quả bầu thiêng xuất hiện trong thần thoại phản ánh vị trí của quả bầu trong đời sống xã hội xưa của tộc người. Bầu trồng phổ biến ở Đông Nam Á (Mạ, Sre, La Ha), lễ rước hồn lúa, lễ làm nhà mới bầu tượng trưng sự đầy đủ, thịnh vượng(7). Các nhà nghiên cứu nhận định “ý niệm về quả bầu mẹ” là “mọi người sinh ra từ một quả bầu: chỉ là cách biểu hiện bằng hình tuợng huyền thoại một giai đoạn phát triển loại người. Lúc này bắt đầu hình thành những nhóm người gắn bó với nhau theo dòng máu phía mẹ”(8), ý niệm về những người cùng thị tộc (mẫu hệ), rồi phát triển cộng đồng cư dân cùng khu vực, phương thức sinh tồn (bộ lạc). Sự tồn tại cộng đồng xưa, mô hình xã hội đã được phản ánh trong mô hình, cấu trúc thần thoại.
Để thoát khỏi nạn đại hồng thuỷ, thần thoại Trung Đông, Hi Lạp kể chuyện gia đình No-ê được cứu bằng nhà thuyền, cả gia đình được cứu sống; thần thoại Châu Mỹ thường kể con người nhanh chân chạy thoát khỏi cơn lũ lụt. Trong các bản kể của khu vực Đông Nam Á, có thể thấy hệ thống biểu tượng xuất hiện trong huyền thoại đại hồng thuỷ giúp con người thoát khỏi tai hoạ thường có hai nhóm: (I) Cây, bầu, thóc...; (II) Thân cây, bè, thùng gỗ rỗng, thuyền, trống, giường, cối gỗ….
Thần thoại của người Ba Na chỉ ra nguồn gốc loài người và sự ra đời của hạt lúa rằng: “Hai vợ chồng nhận thấy nước dâng cao liền tìm chiếc thùng gỗ to, mang thức ăn theo và mỗi loài vật một đôi, chui vào trốn trong đó. Sau trận đại hồng thủy, khi hai người chui ra có con kiến xuất hiện tha hạt lúa và cứu sống vợ chồng. Sau thời gian dài, họ sinh ra những người con, chia nhau đi làm ăn theo từng miền”(9).
Có thể thấy các biểu tượng của huyền thoại Đông Nam Á cho thấy lớp sớm hơn trong hệ thống huyền thoại lụt. Bầu và thóc trong các thần thoại trên phản ánh mối quan hệ con người và tự nhiên, gắn liền với nguồn thức ăn, phương thức sản xuất, sinh tồn của các cộng đồng người. Trong đó, bầu và thóc là biểu tượng cho sự sống, sinh sôi nảy nở và phát triển, tạo ra mối liên hệ giữa bầu, thóc với sự sinh sôi nảy nở của các thị tộc. Trong nhiều thần thoại Việt Nam, thóc gắn liền với hình ảnh của sự trù phú, màu mỡ của đất đai và khả năng cung cấp nguồn sống cho các cộng đồng người. Biểu tượng trống xuất hiện không nhiều nhưng có mối liên hệ chặt chẽ với các biểu tượng khác như bầu, thóc, thuyền, trấu… Nhóm (I) là biểu tượng thực vật nguyên thuỷ, nhóm thứ (II), tác giả Nguyễn Tấn Đắc gọi là “kí hiệu bầu”. Quan sát các văn bản, trống được xếp cùng loại với bầu, vỏ trấu, thuyền, thùng gỗ ở ý niệm “rỗng”, “có khả năng chứa đựng”. Trống (mà hình thức thùng gỗ rỗng - chưa đặt tên đồ vật - được coi là xuất hiện sớm hơn) và thuyền (bè mảng cũng được cho là sớm hơn thuyền, cùng nghĩa ở vật gỗ, nổi) là phương tiện giúp con người thoát khỏi đại hồng thuỷ. Chúng tôi cho rằng, thuyền và trống là những biểu tượng xuất hiện muộn hơn so với bầu, thóc; bè, mảng, không chỉ bởi ở vấn đề kĩ thuật làm thuyền, làm trống ở bậc cao, xuất hiện muộn mà bởi quá trình chuyển hoá, thiêng hoá, từ sự vật, phương tiện đời sống trở thành vật thiêng trong thần thoại. Người xưa mượn thần thoại để tôn vinh các thành tựu văn minh thời nguyên thuỷ, ca ngợi sản phẩm sáng tạo của con người.
Trận đại hồng thủy xuất hiện, hai anh em sống sót sau trận lụt nhờ nấp vào quả bầu/ vỏ thóc hay trống, lấy nhau sinh ra con người. Về nguồn gốc loài người, hầu hết các thần thoại đề cập đến vấn đề “hôn nhân nội tộc” xuất hiện trong thời gian dài ở xã hội nguyên thủy. Theo thời gian, khi loài người bước sang thời kì mới theo quy luật, hiện tượng “hôn nhân nội tộc” bị lên án. Tương tự, truyện Quả bầu mẹ được chấp nhận vì trong trường hợp cần duy trì nòi giống mới chấp nhận việc đó. Vì vậy, có thể coi trống như một biểu tượng của sự cứu rỗi con người, là điểm khởi đầu của một cuộc sống mới, từ đó thấy được quá trình sinh thành các thị tộc ở Việt Nam vô cùng phong phú và đa dạng. Các biểu tượng này không chỉ là những yếu tố trong tín ngưỡng dân gian, mà còn phản ánh các giá trị văn hóa, xã hội của người Việt, nơi mà sự kết nối giữa con người, thiên nhiên và thần linh luôn được coi trọng.
2.2. Biểu tượng trống có ý nghĩa tái tạo sự sống và xác lập trật tự thế giới
a. Trống là vật thiêng, kết nối con người và vũ trụ, trời và đất
Vai trò tái sinh của trống có thể được diễn giải qua nhiều hình tượng tạo ra nhiều thần thoại khác nhau, nhưng không có sức lan tỏa rộng như motip về đại hồng thủy. Đại hồng thủy là một huyền thoại phổ biến ở khắp các quốc gia, ở nhiều nền văn hóa khác nhau gây ra trận lụt lớn và sau đó phát triển dần thành những “huyền thoại tái sinh”. Hiểu một cách đơn giản, khi các hình thái dần trở nên cũ và theo quy luật, sự hình thành hình thái mới, lịch sử phát triển mới sẽ ra đời. Trận đại hồng thủy xuất hiện qua lời kể của người Mông như sau: “những trận mưa liên tiếp luôn bốn mươi ngày đêm, nước dâng lên ngập mặt đất, dâng lên đến tận trời cao”. Người Raglai cũng kể: “Nước lụt từ biển dâng lên đến ngọn núi, nước lên cao đến tận trời. Có hai người ở miền Thượng, một trai một gái chui vào một cái trống… Sau trận lụt lớn ấy, tất cả đều chết sạch, chỉ trừ hai người còn sống sót ở trong cái trống. Họ lấy nhau rồi dần dà sinh sôi nảy nở ra loài người”(10). Những thị tộc dần có sự thích nghi khi đối mặt với lụt và sau này khởi nguồn cho câu thành ngữ “Sống chung với lũ”. Ngoài ra còn có thần thoại của Bok Kơi Dơi và LaKonKeh - hai vị thần khai sáng tự nhiên, vũ trụ và loài người trong thần thoại người Ba Na. “Do con người làm việc không chu đáo nên thần đã cho làm trận đại hồng thủy để loài người không còn nữa, chỉ còn hai người may mắn chui vào trống nổi lên mặt nước, sống sót” (11).
Trong các thần thoại lụt, biểu tượng trống xuất hiện ở một lớp văn hóa muộn hơn gia nhập vào hệ biểu tượng thời kì sớm (cây, bầu, thóc…). Nếu như thân cây gỗ là vật nổi của tự nhiên, con người dựa vào đó để thoát nạn, thì các đồ vật như cối, trống, thuyền, bè, mảng… là những sản phẩm văn hóa, thể hiện trình độ tổ chức đời sống, thích nghi của con người với thiên tai. Đó là bước tiến dài trong kĩ thuật, tiến tới văn minh và ý thức sinh tồn của các cộng đồng thị tộc. Trống là nhạc cụ, mô phỏng âm thanh của tự nhiên (tiếng sấm) vì thế nó được thiêng hóa, vượt lên trên ý nghĩa nhạc cụ, là một biểu tượng thiêng, là vật kết nối giữa con người với thần linh và vũ trụ, đồng thời là biểu trưng của thủ lĩnh, mang trong mình ý nghĩa về sự sinh tồn và bảo vệ cộng đồng.
Tại sao trống lại gia nhập hệ thống biểu tượng của thần thoại về lụt? Ở Trung Quốc, có quan niệm “tiếng trống hòa theo tiếng sấm, gắn với nước, gắn với túi da của trời, với sét, với lò rèn, với chim cú” (12), ở Lào có nghi thức đánh trống để cầu mưa tốt lành, phúc của trời. Cũng lưu ý rằng ở Lào, huyền thoại quả bầu là dạng phổ biến. Việc trống tham gia vào các lễ hội cầu mưa có thể tìm thấy ở nhiều ngôn bản người Việt trong thời kì phong kiến. “Các pháp sư dùng trống trong ma thuật tôn giáo, là biểu tượng trung gian của trời và đất, người thầy pháp shaman chế tạo chiếc trống từ cành cây, như vậy mỗi khi sử dụng trống là tiếp xúc với trục trái đất, trống được trang trí là một tiểu vũ trụ”(13) điều này càng rõ khi chúng ta quan sát họa tiết hoa văn trên trống đồng Đông Sơn, ở đó có cả tiểu vũ trụ, thế giới quan, nhân sinh quan của người Việt cổ.
b. Trống là âm thanh báo hiệu chu kì mới, xác lập lại trật tự thế giới
Sau đại hồng thủy, luôn có sự sắp xếp lại về cuộc sống của con người: những nhóm người sống miền núi cao, người ở vùng đồng bằng; người có nước da ngăm đen, người có nước da sáng, họ sẽ phân bố ở các địa bàn khác nhau… Như vậy một trật tự mới được xác lập và phải ở một thời kì sau đó rất lâu, con người mới nhận thức và thuật lại rõ rệt trong các lời truyền miệng. Ý nghĩa của việc xuất hiện trống trong các huyền thoại lụt càng được củng cố, bồi đắp vì chức năng tái tạo âm thanh của trống. Người nguyên thủy bắt chước âm thanh tự nhiên vừa là sự hòa mình, vừa là tách dần mình khỏi thế giới tự nhiên. “Trống mang âm thanh tiết tấu, mở ra chu kì”(14). Việc đánh trống trận ở thời kì tiền nhà nước và nhà nước “có liên quan đến sấm và sét, vì tính hủy diệt của chúng, vừa hủy diệt vừa tái tạo”, trống còn gắn với thần chiến tranh Ares, Mars (Hi Lạp) với thần Indra (Ấn Độ)(15).
Trống, trong văn hóa dân gian, thường được coi là vật dụng linh thiêng, có sức mạnh kỳ diệu. Việc khoét trống có thể được hiểu là cách con người tạo ra một “lối thoát” để tìm kiếm sự sống, trốn thoát khỏi hiểm họa đại hồng thủy. Điều này thể hiện khát vọng sinh tồn mãnh liệt và ý thức về sự cứu rỗi trong những lúc tuyệt vọng. Việc trốn trong “trống” cũng có thể là hình ảnh của sự tái sinh. Trong nhiều nền văn hóa, trống là một hình ảnh biểu trưng cho sự tái tạo và khởi đầu mới. Việc đánh trống cũng làm sinh sôi nảy nở của cải trên trái đất. Khi đại hồng thủy xảy ra, đó có thể là sự kết thúc của một chu kỳ cũ, và việc khoét trống để trốn có thể đồng thời ám chỉ hy vọng về một sự bắt đầu mới, một khởi đầu sau thảm họa. Tương tự như biểu tượng về thuyền hay cối, trống hiện hữu trong các lời căn dặn của các vị thần khi muốn cứu sống lấy con người thoát khỏi sự tàn phá của thiên nhiên, đặc biệt là các thần thoại có liên quan đến đại hồng thủy. Giải nghĩa về biểu tượng trống liên hệ với việc phát ra âm thanh, đó là khởi nguyên, cội nguồn của sự hiển lộ và tổng quát hơn, với tiết tấu của vũ trụ, trống không chỉ dùng để nổi hiệu báo động đơn thuần, hay cứu lấy con người, mà còn làm sinh sôi nảy nở của cải trên trái đất và là tiếng gọi của các thế lực phù trợ.
c. Trống là biểu tượng lưỡng hợp, lưỡng tính, biểu đạt sự sinh sôi nảy nở
Từ thần thoại về Bok Kơi Dơi và LaKonKeh, chúng tôi đã tìm hiểu thêm được về thần thoại của Bok Sơ Gơ. “Vẫn xuất phát từ một cơn đại hồng thủy từ các thần, họ đã dùng trống làm phương tiện để tránh nạn. Sau khi thoát nạn, họ mang theo vật nuôi mỗi loài một cặp, được gọi là Bok Sơgơ, tức là ông bà tránh nạn trong trống”(16). Điển hình như nguồn gốc của người Tà Ôi, biểu tượng trống xuất hiện và đóng vai trò rất rõ ràng trong nguồn gốc sinh thành ra tộc người đó. Thần thoại kể lại rằng, “Yàng Arơbang (Thần Trời) đã làm một trận mưa to, nước ngập khắp nơi, tạo ra trận đại hồng thủy nhấn chìm mọi thứ ở trần gian. Thần đã mách cho một cô gái cách tránh lũ lụt, đó là hãy làm một cái trống thật to, khoét một lỗ trên để chui vào đó ẩn nấp. Sau khi đại hồng thủy kết thúc, chỉ có mình cô gái đó sống sót, thần đã cho một vài giống cây để làm thức ăn. Một thời gian sau, cô gái có thai (ba năm, bảy tháng, bảy ngày) rồi sinh ra một quả bầu, từ quả bầu đó lần lượt xuất hiện rất nhiều người con. Chín người con trắng tinh xuống đồng bằng và trở thành người Kinh, những người còn lại lên núi và trở thành người Tà Ôi”(17). Khônvg chỉ có nguồn gốc sinh thành của người Tà Ôi, mà còn có nhiều tộc người khác cũng gắn liền với biểu tượng trống, như nguồn gốc dân tộc Pa Cô. “Ngày ấy, già làng nằm mơ thấy Yàng Arơbang (Thần Trời) hiện ra và nói rằng bảy ngày nữa sẽ có một trận lụt lớn. Vì vậy, cần đục đẽo một cái trống (Acư) thật lớn, đưa vật nuôi, cây trồng, dụng cụ sản xuất vào trong đó, mỗi loại chỉ được chọn một, đến cả con người cũng vậy. Sau bảy ngày bảy đêm, nước mới rút dần, cô gái mang thai và sinh ra mười người con (năm trai, năm gái). Theo lời người mẹ, họ đã gặp gỡ nhau và cưới nhau, từ đó tạo nên ngôi làng của người Pa Cô”(18). Như vậy, dấu ấn rõ nét của thị tộc mẫu hệ ở trong thần thoại chỉ có cô gái trốn thoát. Chúng ta thấy trống vừa là đàn ông, người thợ thủ công, thợ săn, vừa là đàn bà, biểu tượng của âm ti, hang động, cho nên đánh trống còn đươc gọi là đánh vào bụng(19).
Biểu tượng trống trong mối quan hệ thần thoại và nghi lễ, gắn với sự hình thành thị tộc và dân tộc. Trống (gỗ, da) xuất hiện trong đời sống văn hoá, nghi lễ, nghệ thuật của nhiều cộng đồng dân cư. Hầu như tất cả các đình, đền đều có trống, vừa như biểu tượng thiêng, dùng trong các dịp tế, lễ. Trống dược đặt ở vị trí trang trọng: đại sảnh, gian chính, được để trên kệ gỗ, sơn son, thậm chí được trang trí, khăn phủ. Để chuẩn bị cho lễ hội ở làng, ngoài lễ mộc dục tắm tượng, lau dọn vệ sinh các đồ thờ, trống cũng được làm sạch sẽ. Trống tham gia vào các nghệ thuật biểu diễn chèo, tuồng, múa rối… giữ nhịp, điều tiết vở diễn, tạo âm hưởng. Khi khảo sát thực địa làng trống Đọi Tam (xã Đọi Sơn, Duy Tiên, Hà Nam), những người thợ làm trống cho biết hiện nay nghề làm trống được duy trì tốt, với lượng sản phẩm lớn, trống dùng trong các nghi lễ tôn giáo là chính (nhà thờ, đền). Ngày nay, các lễ hội truyền thống cũng như hiện đại, màn trống hội được biểu diễn rất sôi nổi, hào hứng, tạo không khí vừa trang nghiêm, vừa vui vẻ cho các lễ hội. Tiếng trống trong trường học cũng gắn bó với tuổi thơ, tuổi học trò của tất cả thế hệ học sinh Việt Nam.
3. Kết luận
Tóm lại, trống là một biểu tượng nổi bật, xuất hiện nhiều trong các huyền thoại lụt ở Việt Nam, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng khi nghiên cứu đến vấn đề cội nguồn của sự khởi nguyên, sinh thành các cộng đồng thị tộc Việt. Những câu chuyện huyền thoại lụt ở Việt Nam, tạo dựng nên biểu tượng trống từ những nghệ thuật ngôn từ dân gian, là sự đúc kết những tư tưởng, giá trị cốt lõi của các thị tộc. Nó hàm chứa căn nguyên sự kiến tạo cộng đồng, sự kết nối giữa con người và thế giới siêu nhiên, sự tái lập trật tự xã hội sau thảm hoạ. Việc nghiên cứu biểu tượng trống, góp phần làm sáng tỏ cách thức con người cổ đại lí giải sự hình thành của xã hội và sự duy trì bản sắc thị tộc qua các thế hệ. Nghiên cứu biểu tượng trống trong các huyền thoại lụt đã phần nào gợi mở, đóng góp cho những nghiên tiếp theo về vai trò của biểu tượng trong sự hình thành và phát triển cộng đồng thị tộc./.
PGS.TS Nguyễn Việt Hùng
Trường Đại học Sư phạm Hà Nội
và nhóm tác giả: Phạm Hương Giang, Hoàng Ngọc Giáp,Phạm Huyền Linh, Nguyễn Phương Thảo
và nhóm tác giả: Phạm Hương Giang, Hoàng Ngọc Giáp,Phạm Huyền Linh, Nguyễn Phương Thảo
Sinh viên Khoa Ngữ văn, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội
----------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------
1. Hà Văn Tấn, Đến với lịch sử văn hóa Việt Nam, Nxb Hội nhà văn, Hà Nội, 2005, tr.138.
2. Đặng Nghiêm Vạn, Tổng tập văn học Việt Nam, tập 41, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2000, tr.32.
3, 4, 5, 9, 11, 16, 17, 18. Nguyễn Huy Bỉnh (chủ nhiệm đề tài), Từ điển bách khoa thần thoại Việt Nam (Phần II), Đề tài khoa học cấp Viện, Viện Hàn lâm, KHXH Việt Nam, Hà Nội, 2024, tr.35; tr.173; tr.208; tr.143; tr.16; tr.17; tr.148; tr.149.
6, 7, Đặng Nghiêm Vạn, Huyền thoại về nạn hồng thủy và nguồn gốc các tộc người, in trong Nghiên cứu văn nghệ dân gian Việt Nam, tập I, Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội, 1997, tr.806, tr.822.
8. Nguyễn Tấn Đắc, Từ truyện quả bầu Lào đến huyền thoại lụt Đông Nam Á, in trong Nghiên cứu văn nghệ dân gian Việt Nam, tập II, Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội, 1997, tr.25.
10. Vũ Ngọc Khánh, Phạm Minh Thảo, Nguyễn Thị Huế, Kho tàng thần thoại Việt Nam, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội, 2006, tr.163
12, 13, 14, 15, 19. Jean Chevalier, Từ điển biểu tượng văn hóa thế giới, Nxb Đà Nẵng, 1997, tr.953; tr.954.