1. Khái lược về văn hóa tư tưởng truyền thống phương Đông về nhân quyền
Thứ nhất, cơ sở văn hóa - xã hội và sự xuất hiện tư tưởng phương Đông về nhân quyền
Xét về địa lý - văn hóa, thuật ngữ “phương Đông” gồm các quốc gia thuộc châu Á và Bắc Phi (và châu Phi nói chung); còn phương Tây bao gồm các quốc gia châu Âu và cả các quốc gia có nguồn gốc thuộc địa châu Âu tại châu Mỹ và châu Đại Dương. Ở phương Đông, chỉ riêng tại châu Á và Bắc Phi đã có văn hóa Ả - Rập, Ấn Độ, Trung Quốc và Đông Nam Á. Trong mỗi nền văn hóa ấy, sự đa dạng của văn hoá được thể hiện trên mọi lĩnh vực xã hội(1). Về chế độ xã hội, hiện nay có các chế độ quân chủ - lập hiến (một số nước A-rập ở Tây Nam Á, Thái Lan, Campuchia, Nhật Bản...), quân chủ - cộng hòa (Ma lai-xi-a, Bu Tan...), dân chủ - nghị viện (một số nước Bắc Phi, Nam Phi, In-đô-nê-xi-a, Philippin...), xã hội chủ nghĩa (Trung Quốc, Việt Nam, Lào)... Sự đa dạng văn hóa - xã hội là phương thức hữu hiệu để bảo tồn, phát triển văn hóa và nhân quyền nói chung trên ba phương diện: mỗi dạng thức văn hóa là một chủ thể quyền; là một chủ thể có nghĩa vụ bảo đảm quyền và là một phương thức bảo đảm quyền.
Trong lịch sử nhân loại, dù đó là phương Tây hay phương Đông, con người với nhân phẩm của mình đã trải qua những giai đoạn lịch sử khác nhau. Trong quá trình lịch sử, con người luôn phải quan hệ và đấu tranh với tự nhiên, đặc biệt đấu tranh với những rào cản hoặc vi phạm nhân phẩm trong xã hội, nhằm duy trì sự tồn tại và phát triển của mỗi người và mọi người vì cuộc sống công bằng, bình đẳng và tự do. Trong quá trình đó, tư tưởng về nhân quyền đã xuất hiện rất sớm và không phân biệt địa điểm, chế độ xã hội hay bản sắc văn hoá.
Có thể nói, tại phương Đông đã xuất hiện một số khía cạnh đầu tiên của tư tưởng nhân quyền. Ví dụ bộ luật đầu tiên liên quan đến nhân quyền xuất hiện ở vùng Lưỡng hà là Bộ luật của Urukagina ở Lagash (khoảng năm 2.350 trước công nguyên), trong đó ở mức độ sơ khai đã đề cập đến những ý niệm về quyền (văn bản chính thức vẫn chưa được tìm thấy). Bộ luật cổ nhất hiện còn là Luật Ur-Nammu (khoảng 2.050 tr.CN) và đặc biệt bộ luật Hammurapi (khoảng 1.780 trước công nguyên) gồm nhiều luật, kể cả luật về quyền phụ nữ, quyền trẻ em, quyền của nô lệ và hình phạt, nếu những luật này bị vi phạm ở những khía cạnh khác nhau.
Tư tưởng tôn giáo đầu tiên và quan trọng nhất về nhân quyền cũng xuất hiện ở phương Đông (Đạo Do Thái cổ, Ky tô giáo, Phật giáo, Hồi giáo...) và các minh triết(2) hay triết lý nhân sinh liên quan đến quyền con người (Nho giáo, Lão giáo…). Vị vua Ba Tư đầu tiên là Cyrus Đại Đế vào năm 539 trước công nguyên, đã quyết định giải phóng toàn bộ nô lệ. Ông tuyên bố, tất cả mọi người đều có quyền lựa chọn tín ngưỡng tôn giáo riêng, và xác lập mọi nhóm sắc tộc đều bình đẳng. Chỉ dụ này được khắc lại bằng tiếng Akkadia trên một trục đất sét nung gọi là Trục Cyrus và đây được coi là hiến chương nhân quyền đầu tiên trên thế giới.
Thứ hai, quan niệm về nhân quyền trong văn hóa tư tưởng truyền thống phương Đông
Theo Đại từ điển tiếng Việt, tư tưởng là: “Quan điểm và ý nghĩ chung của con người đối với thế giới tự nhiên và xã hội”(3). Như vậy, theo nghĩa hẹp, tư tưởng về quyền con người được coi là hệ thống những quan điểm (gồm cả học thuyết, trường phái) có tính tất yếu, khách quan về quyền con người và bảo đảm nhân quyền. Còn theo nghĩa rộng, tư tưởng về quyền con người còn bao hàm cả “ý nghĩ chung của con người đối với thế giới tự nhiên và xã hội”. Cụ thể gồm những quan niệm, ý niệm, thậm chí cả những ý nghĩ còn ở mức cảm tính, thô sơ, chất phát về các quyền của con người và bảo đảm quyền con người.
Tại phương Đông, ví dụ tại Trung Quốc, tư tưởng không chỉ thể hiện trong minh triết và triết lý nhân sinh mang tính đạo (đức) học để chỉ con đường hay cách thức tồn tại, phát triển của ý thức và cái Tâm của con người về thế giới, như Nho giáo, Lão giáo...), mà còn gồm những ý niệm, quan niệm được thể hiện một cách đa dạng trong xã hội, chính trị, văn hóa nghệ thuật và phong tục, tập quán. Trong tư tưởng truyền thống Trung Quốc nói riêng và phương Đông nói chung, các loại tư tưởng liên quan đến con người như tư tưởng nhân sinh, luân lý (gốc của đạo đức), xã hội, lịch sử, đều rất phát triển. Còn tư tưởng triết học tự nhiên tuy không có nhiều tác phẩm, nhưng minh triết, triết lý về tự nhiên thì ngay từ đầu đã được thể hiện đặc sắc trong Kinh dịch (3.000 năm trước công nguyên) ở Trung Quốc và Kinh Upanishad (900 - 600 trước công nguyên) ở Ấn Độ. Hai bộ kinh này đã thể hiện sâu sắc thế giới quan thiên nhân hợp nhất, mang tính quy luật, tính nhịp điệu và vũ trụ là tập hợp khổng lồ các xoắn ốc.
Do đó, tại phương Đông có thể khai thác nhiều nguồn tư tưởng về con người và quyền của nó. Tư tưởng Trung Quốc (và có thể của cả phương Đông) coi con người là chủ thể phản ánh dựa theo cơ sở luân lý (chứ không chủ yếu dựa trên cơ sở khoa học, triết học như ở phương Tây), nên thường tập trung vào: Tâm, tính, tình, ý, khí, lương tri... Tất cả những phạm trù ấy chủ yếu được cảm nhận và nhằm cảm nhận về nhân sinh, nhân tính và cả tính mệnh con người.
Có thể nói, đặc trưng của tư tưởng truyền thống phương Đông là phức hợp các minh triết, triết lý nhân sinh và quan điểm, quan niệm, kể cả ý niệm, chứ không phải hệ thống các quan điểm hay học thuyết có tính khoa học, triết học nghiêm ngặt như ở phương Tây. Các minh triết, triết lý nhân sinh... và ý niệm này, không trực tiếp nhằm phản ánh và nâng cao nhận thức con người, mà chủ yếu nhằm giác ngộ con người. Chúng có thể được diễn đạt thành lời, nhưng cũng có thể không được diễn tả trực tiếp thành lời, mà chỉ đươc cảm nhận qua nghi lễ, qua hình tượng văn hóa nghệ thuật, qua biểu tượng và các hành vi thực hành tín ngưỡng, tôn giáo... Đặc trưng này càng thấy rõ trong tư tưởng nhân quyền, vì tư tưởng truyền thống phương Đông ít khi trực tiếp khẳng định các quyền con người, mà chủ yếu xác định các bổn phận luân lý và người phương Đông chủ yếu phải thông qua việc thực hành (ứng xử) các bổn phận luân lý đó thì mới có thể được cộng đồng, xã hội tôn trọng và được thụ hưởng quyền lợi của mình trong cộng đồng và trong xã hội nói chung.
Thứ ba, một số khác biệt và tính tương đối giữa văn hóa tư tưởng phương Đông và phương Tây
Tại phương Đông, trọng tâm của văn hóa tư tưởng là bàn về mối quan hệ của con người với chính mình (tâm, tính người, tình người) và quan hệ ứng xử người với người. Quan hệ xã hội của con người tập trung vào quan hệ luân lý theo kiểu thiện - ác, chứ ít quan tâm đến quan hệ lý trí, pháp lý như ở phương Tây. Văn hóa tư tưởng phương Đông nhấn mạnh sự thống nhất giữa con người và vũ trụ theo nguyên tắc “thiên nhân tương dữ” và có cả “nhân định thắng thiên”. Đây là cơ sở quyết định nhiều đặc điểm khác của triết học; ví dụ như tính chất hướng nội, lấy con người làm đối tượng nghiên cứu chủ yếu, hay nghiên cứu thế giới cũng là để làm rõ con người. Trong khi đó, văn hóa tư tưởng phương Tây nhấn mạnh việc tách con người ra khỏi vũ trụ, coi con người là chủ thể để nghiên cứu và chinh phục vũ trụ - thế giới khách quan.
Ở phương Đông, hệ thống tư tưởng là kết quả tích hợp - tổng hợp tư tưởng triết học và các hình thái ý thức xã hội khác. Thí dụ triết học Trung Hoa đan xen với lý luận chính trị, còn triết học Ấn Độ lại đan xen với tôn giáo, nghệ thuật. Hệ thống thuật ngữ của tư tưởng phương Đông cũng khác so với triết học phương Tây: Phương Tây dùng thuật ngữ “giới tự nhiên”, “bản thể”, “vật chất”. Còn phương Đông lại dùng thuật ngữ “thái cực” đạo sắc, hình, vạn pháp... hay ngũ hành: Kim, Mộc, Thuỷ, Hoả, Thổ... để bàn về bản chất của vũ trụ. Tại phương Đông, các nhà hiền triết thường tuân thủ nguyên tắc: Ý tại ngôn ngoại hay ý ở ngoài lời (lời nói, chữ viết bên ngoài có công dụng diễn tả ý tưởng, tư tưởng bên trong) hay được ý quên lời...
Khái quát, học giả Phan Khôi (1887 - 1959) đã khắc họa văn hóa tư tưởng phương Đông, phương Tây ở 3 đặc điểm: Đông phương chuộng huyền học, Tây phương chuộng khoa học; Đông phương quý an phận, Tây phương quý tấn thủ (chính phục, làm chủ); Đông phương trọng thống thuộc (phụ thuộc cộng đồng), Tây phương trọng tự chủ(4).
Nhà nghiên cứu Cao Xuân Huy (1900 -1983) cho rằng, phương thức tư duy của phương Đông thiên về “chủ toàn” (xuất phát và nhắm đến cái toàn thể) còn phương Tây thiên về “chủ biệt” (xuất phát và nhắm đến cái bộ phận). Phương thức “chủ toàn” dị biệt hóa toàn thể vũ trụ thành những cái toàn thể cục bộ, những cái hệ thống hữu cơ lớn và nhỏ, có quan hệ tương hỗ với nhau. Nó đặt lên trên toàn thể vũ trụ một tính đồng nhất tuyệt đối và lên trên mỗi hệ thống cá biệt một tính đồng nhất tương đối theo nguyên lý: “toàn thể quyết định bộ phận; toàn thể không phải chỉ là tổng số của bộ phận, nghĩa là các bộ phận cộng lại không phản ánh hết được cái nội dung của toàn thể do đặc tính của một bộ phận bị quyết định bởi quan hệ của nó đối với toàn thể và đối với các bộ phận khác”. Còn phương thức “chủ biệt” cũng có nhu cầu dị biệt hóa và đồng nhất hóa, nhưng trái với phương thức chủ toàn, nó đem cái nguyên lý “đồng nhất” tuyệt đối đặt lên trên mỗi sự vật cá biệt dựa trên nguyên tắc: “bộ phận quyết định toàn thể, toàn thể là do các bộ phận ghép lại mà thành, toàn thể chỉ là tổng số của các bộ phận”(5).
Nhà nghiên cứu Hoàng Ngọc Hiến (1930 - 2011) phân biệt, triết học phương Tây thiên về sự biết... còn minh triết phương Đông quan tâm đến sự ngộ... Người ta biết những gì chưa biết; còn đối tượng của ngộ là những gì đã biết (thậm chí biết quá nhiều). Ai cũng biết mình trước sau sẽ chết, mấy ai ngộ được điều này. Ai cũng biết đời mình là như thế, mấy ai ngộ được thân làm tội đời, đời làm tội thân như thế nào, biết dễ, ngộ rất khó... Cho nên triết gia thích nói, hay nói, lắm lời. Người minh triết ít nói, thường là chẳng có gì để nói. Triết học quan tâm đến sự phát lộ chân lý; minh triết thiên về sự điều tiết sao cho thoả đáng(6).
Cùng với quá trình phát triển theo hướng hiện đại, tính tương đối trong so sánh văn hóa tư tưởng phương Đông và tư tưởng phương Tây ngày càng lộ rõ. Một mặt, một số khác biệt giữa phương Đông và phương Tây chỉ là phản ánh những đối lập giữa các xã hội truyền thống và các xã hội hiện đại. Mặt khác, đã và đang diễn ra sự giao lưu, học hỏi nhau, tích hợp nhau giữa văn hóa tư tưởng Đông - Tây.
2. Đặc điểm, giá trị, hạn chế lịch sử và đóng góp của văn hóa tư tưởng truyền thống phương Đông về nhân quyền
Một là, về đặc điểm
- Về nội dung và phương thức thực hiện
Cả hai loại hình văn hóa tư tưởng phương Đông và phương Tây đều nhằm giải quyết vấn đề cơ bản của nhân quyền là nhân phẩm và thể chế hóa nhân phẩm thành nhu cầu, lợi ích và năng lực để con người có thể sống như một con người trong thực tế cuộc sống. Nhưng văn hóa tư tưởng phương Tây thiên về quyền cá nhân và tập trung bảo đảm bằng thể chế pháp luật, trong khi đó, văn hóa tư tưởng phương Đông thiên về quyền tập thể và tập trung bảo đảm bằng thể chế luân lý (đạo đức) với những minh triết, triết lý nhân sinh cùng quy tắc ứng xử trong quan hệ người người.
Khác với phương Tây, xã hội phương Đông tập trung vào quy định những nghĩa vụ mà các cá nhân phải thực hiện, các cá nhân tự giác thực hiện các nghĩa vụ này với tính cách là những bổn phận. Chỉ thông qua việc thực hành các bổn phận, con người mới được cộng đồng, xã hội tôn trọng; từ đó có quyền hay được hưởng quyền trong cộng đồng, trong xã hội; và thường là các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa, mà ít hơn các quyền dân sự, chính trị. Ở phương Đông, thông qua việc thực hành bổn phận, nên nhân quyền không chỉ liên quan đến cá nhân, mà chủ yếu liên quan đến quyền lợi chung của cộng đồng và xã hội. Dường như chỉ toàn thể cộng đồng và xã hội là có quyền, còn cá nhân chỉ có bổn phận. Các cộng đồng và xã hội coi nhân quyền là những quyền lợi được toàn bộ cộng đồng và xã hội ủng hộ. Vì thế, các quyền con người trong lịch sử thường được thể chế hoá dưới dạng những nghĩa vụ của các cơ quan nhà nước và các cộng đồng, xã hội đối với các cá nhân; còn các cá nhân thụ hưởng và thực hiện các quyền của mình thông qua bổn phận. Thông qua việc con người thực hiện một cách tự giác các bổn phận của mình mà xã hội có sự điều chỉnh các quyền và lợi ích một cách thống nhất và ổn định.
- Về hình thức thể hiện
Tư tưởng nhân quyền chủ yếu được thể hiện bằng hình thức định tính, gián tiếp, nhiều khi không rõ ràng và được biểu hiện rất đa dạng, trước hết trong đời sống thường nhật. Phương Đông rất coi trọng quan hệ ứng xử đối với bản thân, với gia đình, cộng đồng và xã hội, nhất là ở kẻ sĩ (trí thức). Lối ứng xử đó thể hiện ở cái tính, cái tình, cái tâm, cái đức, cái tài; thể hiện “gia đạo”, “giấy rách mà giữ lấy lề”; thể hiện quân tử và tiểu nhân... theo bổn phận, danh phận, chức phận; theo quan và dân... Nguyên tắc chung là tôn trọng tôn ty trật tự xã hội, tôn trọng quyền lợi của cộng đồng, của dân tộc.
Trong lĩnh vực văn chương, nghệ thuật: Nếu đạo (đức) học, tôn giáo trình bày chung chung có tính trừu tượng về nhân quyền, thì văn chương, nghệ thuật phản ánh rõ nhất và trực tiếp ý niệm, quan niệm và tình cảm về danh dự, nhân phẩm con người, về bổn phận của bản thân với gia đình, cộng đồng; phê phán bằng văn chương, hình tượng nghệ thuật tư tưởng bất bình đẳng, trọng nam khinh nữ trong xã hội, phê phán quan lại quan liêu, tham nhũng... và thể hiện tình “thương người như thể thương thân”.
Trong các tư tưởng có tính đạo (đức) học: Trong xã hội phương Đông, chủ nghĩa cá nhân và quyền của cá nhân con người không bộc lộ công khai, mà đều được trình bày một cách gián tiếp, “mờ mờ nhân ảnh” thông qua minh triết hay triết lý nhân sinh. Ví dụ: (i) Tư tưởng về cá nhân và quyền con người kiểu “Đạo trung dung” của Nho giáo; (ii) Tư tưởng về cá nhân và nhân quyền theo kiểu “vô vi” của Đạo giáo; (iii) Tư tưởng về cá nhân và nhân quyền theo kiểu “pháp - thủ - thế” của Pháp gia: coi trọng luật hay quy tắc chung... Trong các tư tưởng có tính đạo (đức) học của Trung Quốc cổ đại, chỉ có tư tưởng của Mặc Địch (khoảng 478 - 392 trước công nguyên) và của Dương Chu (khoảng 395 - 335 trước công nguyên) là rất gần với tư tưởng về nhân quyền hiện đại. Bởi vì hai tư tưởng này dựa vào cái cá nhân có tính bình đẳng.
Trong tôn giáo: Trong quan niệm về nhân quyền, giáo lý của Do Thái giáo, Ki-tô giáo, Hồi giáo, Phật giáo đã đề xuất nhiều tư tưởng có ý nghĩa đạo đức về nhân phẩm, nhân ái, trung dung, hạnh phúc, bình đẳng và tự do.
Mặc dù không có thiết chế bảo vệ nhân quyền, nhưng tư tưởng truyền thống về nhân quyền ở phương Đông cũng được thể hiện trực tiếp có tính định lượng thông qua lệ (luật tục, hương ước...) và pháp luật của Nhà nước phong kiến. Thí dụ: (i) Quy định trong lệ (luật tục) của công xã nông thôn (hương ước): Đã thể chế hóa rất cụ thể một số quyền lợi của người dân trong cộng đồng; (ii) Quy định trong pháp luật của Nhà nước phong kiến: Các bộ luật đầu tiên trên thế giới liên quan đến nhân quyền xuất hiện ở vùng Lưỡng hà (Bộ Luật của Urukagina ở Lagash, Bộ Luật Ur-Nammu, Bộ Luật Hammurapi). Tại Việt Nam, Bộ “Quốc triều hình luật” (Bộ luật Hồng Đức) vào thế kỷ XV được thế giới biết đến, vì đã có quy định về quyền của phụ nữ, trẻ em, người già và một số đối tượng dễ bị tổn thương khác.
Hai là, một số giá trị trong văn hóa tư tưởng truyền thống phương Đông về nhân quyền
Tư tưởng “chính danh” trong Nho giáo: Xã hội cổ truyền vùng Đông Á, đều đòi hỏi mỗi người phải hành động “Chính danh”, tức đúng danh phận, danh nghĩa hay bổn phận của mình. Không nên chỉ nhìn thấy “chức năng” của tư tưởng “chính danh” là duy trì tôn ty trật tự theo kiểu một chiếu, mà từ cả hai chiều, cả người trên và kẻ dưới. Tức là cũng có tính bình đẳng, tương tác nhau trong việc duy trì tôn ty trật tự chung của cộng đồng và xã hội, trong đó coi trọng bổn phận, tấm gương của người trên theo kiểu “Bụt trên tòa thì gà nào dám mổ mắt” và cảnh tỉnh, soi xét nhược điểm có tính cố hữu của cả hai phía “quan tham” và “dân gian”.
Tôn trọng, hòa nhã trong cư xử với mọi người theo chữ “Lễ”: “Lễ” không phải là một nghi lễ cũng bái, mà bản chất là những quy định nhằm tôn trọng, bảo vệ, thực hiện sự tôn trọng, hòa nhã trong cư xử với mọi người cho đúng tính “Chính danh” của mình và của người khác ở mọi lúc, mọi nơi, nhất là trong dịp lễ tết, hiếu, hỷ. Và cũng như đối với tính “Chính danh”, không nên chỉ nhìn thấy “chức năng” của Lễ là giữ gìn tôn ty trật tự xã hội theo kiểu một chiều, mà nên nhìn nhận nó là một quy định có tính bình đẳng đối với cả hai chiều, cả người trên và kẻ dưới, trong đó đặt nặng bổn phận, tấm gương của người trên.
Tư tưởng dân chủ thể hiện tư tưởng bình đẳng, công bằng, như ở tư tưởng “dân là gốc”, thân dân, dựa vào dân, đề cao công bằng và lẽ phải. Tư tưởng tôn trọng quyền lực nhà nước và “dân là gốc”, chứ không nên chỉ nhìn nhận phiến diện từ phương châm cai trị, quản lý của Nhà nước là “lấy dân làm gốc”. Nhìn chung, các tư tưởng nêu trên đã trở thành một giá trị văn hóa khá bền vững trong việc xác định và bảo đảm nhân quyền trong suốt quá trình lịch sử rất lâu dài của phương Đông.
Ba là, hạn chế lịch sử trong văn hóa tư tưởng truyền thống phương Đông về nhân quyền
Tư tưởng cá nhân chủ nghĩa vốn là bản chất của tư tưởng quyền con người hầu như không được thể hiện trực tiếp, công khai mà phải ẩn sau các tư tưởng mang tính đạo (đức) học, tôn giáo(7).
Tư tưởng nhân quyền được thể hiện đa dạng nhưng rời rạc, không thống nhất. Ví dụ trong luật tục vừa có những quan niệm nhân văn, vừa có những quan niệm bất bình đẳng đối với phụ nữ.
Tư tưởng nhân quyền của con người nhưng chủ yếu thể hiện ở bổn phận và lợi ích của cộng đồng, của xã hội.
Tư tưởng nhân quyền nhiều khi mang tính đẳng cấp, thậm chí hà khắc, chuyên chế trong luật tục và pháp luật.
Bốn là đóng góp của văn hóa tư tưởng truyền thống phương Đông về nhân quyền đối với pháp luật nhân quyền quốc tế
Trong quá trình soạn thảo Tuyên ngôn thế giới về quyền con người (1946 - 1948), các đại diện của phương Đông (Liên Xô, Trung Quốc, Ai Cập, một số quốc gia Mỹ la tinh...) đã có đóng góp đáng kể, đặc biệt ở Lời mở đầu của Tuyền ngôn, và về các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa, quyền tập thể.
Ở Lời mở đầu của Tuyên ngôn, chẳng hạn đại diện Trung Quốc, GS P.C.Chang, đề nghị đưa vào Tuyên ngôn tinh hoa của cả văn hóa phương Đông và phương Tây; và góp phần bỏ ra khỏi bản dự thảo các khái niệm trừu tượng như “giá trị vốn có của con người”, “luật tự nhiên” và “Chúa Trời” như trong biện luận của Grumbach, đại diện Pháp(8).
Ở Điều 1, đại diện Trung Quốc cũng đề xuất bổ sung thêm cụm từ “về lương tâm”, thể hiện khái niệm mang tính quy phạm đạo đức Khổng giáo về chữ “nhân”, vốn là cơ sở cho tất cả các đức hạnh của con người, theo nghĩa đen là “quan tâm đến người khác” - gần tương tự như tư duy phương Tây về “tính nhân văn trong quan hệ với người khác” hay “ý thức về đồng loại của mình”. Và khi thảo luận, đại diện của Trung Quốc đề nghị bỏ cụm từ “được tạo hóa ban cho” hay “bởi tạo hóa” để tránh được những câu hỏi mang tính thần học mà không thể và không nên được nêu ra trong một tuyên ngôn áp dụng phổ biến trong thực tại đời sống xã hội như vậy(9). Trong các năm 1948, 1949, bản dự thảo đầu tiên của Công ước gồm 18 điều đã được đưa ra nhưng chỉ tập trung vào các quyền dân sự, chính trị, do đó đã vấp phải sự phản đối mạnh mẽ của nhiều thành viên Liên hợp quốc, chủ yếu nhóm các nước xã hội chủ nghĩa và các nước Á, Phi, Mỹ latinh.
Trên cơ sở đó, vào năm 1951, Ủy ban Nhân quyền đã bổ sung vào dự thảo Công ước trước đó 14 điều khoản mới về các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa, dựa trên đề xuất của các quốc gia cũng như của các cơ quan chuyên môn của Liên hợp quốc (LHQ). Thêm vào đó, Ủy ban còn bổ sung thêm 10 điều khoản quy định về các biện pháp thực hiện các quyền được ghi nhận trong Công ước. Tuy nhiên, sau những cuộc tranh luận kéo dài, mang đậm ý thức hệ chính trị giữa một bên là các nước Mỹ và phương Tây, và một bên là Liên Xô và các nước XHCN trong các năm 1951-1952, mà ẩn sau là sự khác biệt trong văn hóa phương Tây và phương Đông.
Cuối cùng Đại hội đồng LHQ đã yêu cầu Ủy ban Nhân quyền tách các điều khoản trong Tuyên ngôn để tiến hành soạn thảo hai công ước về quyền con người: Một công ước đề cập đến các quyền dân sự, chính trị và một công ước đề cập đến các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa. Thỏa hiệp đó đã được thực hiện khi dự thảo hai công ước (Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị và Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa) được trình lên Đại hội đồng LHQ và đều được thông qua vào ngày 16/12/1966.
Năm là, đóng góp của văn hóa tư tưởng truyền thống phương Đông về nhân quyền đối với pháp luật Việt Nam
Sự đóng góp của tư tưởng nhân quyền truyền thống phương Đông vào pháp luật nhân quyền Việt Nam, được thực hiện qua việc kế thừa, phát huy, phát triển một số điều luật trong pháp luật phong kiến Việt Nam. Thực vậy, Hiến pháp, pháp luật Việt Nam hiện nay, đã tiếp tục kế thừa, phát huy, phát triển một số điều luật trong Bộ Quốc triều hình luật của nhà Hậu Lê vào thế kỷ XV, vốn được nhiều chuyên gia luật đánh giá là bộ luật chứa đựng những nội dung nhân văn, tiến bộ. Việc kế thừa, phát huy, phát triển những điểm tiến bộ trong pháp luật phong kiến, là cần thiết và bổ ích cho việc tổ chức thực hiện pháp luật hiện nay, nhất là dưới góc độ tôn trọng, bảo vệ quyền con người. Cụ thể pháp luật Việt Nam, đặc biệt các bộ luật dân sự, tố tụng dân sự, hình sự và tụng hình sự (năm 2015), đã kế thừa, phát huy, phát triển những quyền sau: về quyền sống, về hình phạt tử hình, quyền của người phụ nữ, quyền của các nhóm dễ bị tổn thương khác, bảo vệ quyền sở hữu, quyền tài sản và những quyền lợi hợp pháp khác, quyền tố tụng, quyền khiếu nại tố cáo...
Kết luận:
Để nhìn nhận, đánh giá một nền văn hóa tư tưởng truyền thống và nhân quyền của nó, trước hết, cần am hiểu về nền văn hóa đó; cần tiếp cận từ góc nhìn của các chủ thể của nền văn hóa đó, chứ không phải từ các “cặp mắt” của người ngoài cuộc, hay lấy tiêu chuẩn của một nền văn hóa khác để xét đoàn và đánh giá nền văn hóa và quyền con người của nó. Các nền văn hóa và nhân quyền của nó khi được so sánh, tham chiếu với nhau thì không có cao - thấp, dã man - văn minh, lạc hậu - phát triển… Chính vì vậy, nhân quyền của mỗi nền văn hóa chỉ là tương đối, và phải được nhìn nhận dưới góc độ của chính chủ thể của nền văn hóa đó.
Việc xem xét, đánh giá văn hóa tư tưởng nhân quyền của các dân tộc, nên theo phương châm Hồ Chí Minh: “Văn hóa Việt Nam là ảnh hưởng lẫn nhau của văn hóa Đông phương và Tây phương chung đúc lại... Tây phương hay Đông phương có cái gì tốt, ta học lấy để tạo ra một nền văn hóa Việt Nam. Nghĩa là lấy kinh nghiệm tốt của văn hóa xưa và nay, trau dồi cho văn hóa Việt Nam có tinh thần thuần túy Việt Nam, để hợp với tinh thần dân chủ” và “phát triển hết cái hay, cái đẹp của dân tộc, tức là ta cùng đi tới chỗ nhân loại”(10)./.
Thứ nhất, cơ sở văn hóa - xã hội và sự xuất hiện tư tưởng phương Đông về nhân quyền
Xét về địa lý - văn hóa, thuật ngữ “phương Đông” gồm các quốc gia thuộc châu Á và Bắc Phi (và châu Phi nói chung); còn phương Tây bao gồm các quốc gia châu Âu và cả các quốc gia có nguồn gốc thuộc địa châu Âu tại châu Mỹ và châu Đại Dương. Ở phương Đông, chỉ riêng tại châu Á và Bắc Phi đã có văn hóa Ả - Rập, Ấn Độ, Trung Quốc và Đông Nam Á. Trong mỗi nền văn hóa ấy, sự đa dạng của văn hoá được thể hiện trên mọi lĩnh vực xã hội(1). Về chế độ xã hội, hiện nay có các chế độ quân chủ - lập hiến (một số nước A-rập ở Tây Nam Á, Thái Lan, Campuchia, Nhật Bản...), quân chủ - cộng hòa (Ma lai-xi-a, Bu Tan...), dân chủ - nghị viện (một số nước Bắc Phi, Nam Phi, In-đô-nê-xi-a, Philippin...), xã hội chủ nghĩa (Trung Quốc, Việt Nam, Lào)... Sự đa dạng văn hóa - xã hội là phương thức hữu hiệu để bảo tồn, phát triển văn hóa và nhân quyền nói chung trên ba phương diện: mỗi dạng thức văn hóa là một chủ thể quyền; là một chủ thể có nghĩa vụ bảo đảm quyền và là một phương thức bảo đảm quyền.
Trong lịch sử nhân loại, dù đó là phương Tây hay phương Đông, con người với nhân phẩm của mình đã trải qua những giai đoạn lịch sử khác nhau. Trong quá trình lịch sử, con người luôn phải quan hệ và đấu tranh với tự nhiên, đặc biệt đấu tranh với những rào cản hoặc vi phạm nhân phẩm trong xã hội, nhằm duy trì sự tồn tại và phát triển của mỗi người và mọi người vì cuộc sống công bằng, bình đẳng và tự do. Trong quá trình đó, tư tưởng về nhân quyền đã xuất hiện rất sớm và không phân biệt địa điểm, chế độ xã hội hay bản sắc văn hoá.
Có thể nói, tại phương Đông đã xuất hiện một số khía cạnh đầu tiên của tư tưởng nhân quyền. Ví dụ bộ luật đầu tiên liên quan đến nhân quyền xuất hiện ở vùng Lưỡng hà là Bộ luật của Urukagina ở Lagash (khoảng năm 2.350 trước công nguyên), trong đó ở mức độ sơ khai đã đề cập đến những ý niệm về quyền (văn bản chính thức vẫn chưa được tìm thấy). Bộ luật cổ nhất hiện còn là Luật Ur-Nammu (khoảng 2.050 tr.CN) và đặc biệt bộ luật Hammurapi (khoảng 1.780 trước công nguyên) gồm nhiều luật, kể cả luật về quyền phụ nữ, quyền trẻ em, quyền của nô lệ và hình phạt, nếu những luật này bị vi phạm ở những khía cạnh khác nhau.
Tư tưởng tôn giáo đầu tiên và quan trọng nhất về nhân quyền cũng xuất hiện ở phương Đông (Đạo Do Thái cổ, Ky tô giáo, Phật giáo, Hồi giáo...) và các minh triết(2) hay triết lý nhân sinh liên quan đến quyền con người (Nho giáo, Lão giáo…). Vị vua Ba Tư đầu tiên là Cyrus Đại Đế vào năm 539 trước công nguyên, đã quyết định giải phóng toàn bộ nô lệ. Ông tuyên bố, tất cả mọi người đều có quyền lựa chọn tín ngưỡng tôn giáo riêng, và xác lập mọi nhóm sắc tộc đều bình đẳng. Chỉ dụ này được khắc lại bằng tiếng Akkadia trên một trục đất sét nung gọi là Trục Cyrus và đây được coi là hiến chương nhân quyền đầu tiên trên thế giới.
Thứ hai, quan niệm về nhân quyền trong văn hóa tư tưởng truyền thống phương Đông
Theo Đại từ điển tiếng Việt, tư tưởng là: “Quan điểm và ý nghĩ chung của con người đối với thế giới tự nhiên và xã hội”(3). Như vậy, theo nghĩa hẹp, tư tưởng về quyền con người được coi là hệ thống những quan điểm (gồm cả học thuyết, trường phái) có tính tất yếu, khách quan về quyền con người và bảo đảm nhân quyền. Còn theo nghĩa rộng, tư tưởng về quyền con người còn bao hàm cả “ý nghĩ chung của con người đối với thế giới tự nhiên và xã hội”. Cụ thể gồm những quan niệm, ý niệm, thậm chí cả những ý nghĩ còn ở mức cảm tính, thô sơ, chất phát về các quyền của con người và bảo đảm quyền con người.
Tại phương Đông, ví dụ tại Trung Quốc, tư tưởng không chỉ thể hiện trong minh triết và triết lý nhân sinh mang tính đạo (đức) học để chỉ con đường hay cách thức tồn tại, phát triển của ý thức và cái Tâm của con người về thế giới, như Nho giáo, Lão giáo...), mà còn gồm những ý niệm, quan niệm được thể hiện một cách đa dạng trong xã hội, chính trị, văn hóa nghệ thuật và phong tục, tập quán. Trong tư tưởng truyền thống Trung Quốc nói riêng và phương Đông nói chung, các loại tư tưởng liên quan đến con người như tư tưởng nhân sinh, luân lý (gốc của đạo đức), xã hội, lịch sử, đều rất phát triển. Còn tư tưởng triết học tự nhiên tuy không có nhiều tác phẩm, nhưng minh triết, triết lý về tự nhiên thì ngay từ đầu đã được thể hiện đặc sắc trong Kinh dịch (3.000 năm trước công nguyên) ở Trung Quốc và Kinh Upanishad (900 - 600 trước công nguyên) ở Ấn Độ. Hai bộ kinh này đã thể hiện sâu sắc thế giới quan thiên nhân hợp nhất, mang tính quy luật, tính nhịp điệu và vũ trụ là tập hợp khổng lồ các xoắn ốc.
Do đó, tại phương Đông có thể khai thác nhiều nguồn tư tưởng về con người và quyền của nó. Tư tưởng Trung Quốc (và có thể của cả phương Đông) coi con người là chủ thể phản ánh dựa theo cơ sở luân lý (chứ không chủ yếu dựa trên cơ sở khoa học, triết học như ở phương Tây), nên thường tập trung vào: Tâm, tính, tình, ý, khí, lương tri... Tất cả những phạm trù ấy chủ yếu được cảm nhận và nhằm cảm nhận về nhân sinh, nhân tính và cả tính mệnh con người.
Có thể nói, đặc trưng của tư tưởng truyền thống phương Đông là phức hợp các minh triết, triết lý nhân sinh và quan điểm, quan niệm, kể cả ý niệm, chứ không phải hệ thống các quan điểm hay học thuyết có tính khoa học, triết học nghiêm ngặt như ở phương Tây. Các minh triết, triết lý nhân sinh... và ý niệm này, không trực tiếp nhằm phản ánh và nâng cao nhận thức con người, mà chủ yếu nhằm giác ngộ con người. Chúng có thể được diễn đạt thành lời, nhưng cũng có thể không được diễn tả trực tiếp thành lời, mà chỉ đươc cảm nhận qua nghi lễ, qua hình tượng văn hóa nghệ thuật, qua biểu tượng và các hành vi thực hành tín ngưỡng, tôn giáo... Đặc trưng này càng thấy rõ trong tư tưởng nhân quyền, vì tư tưởng truyền thống phương Đông ít khi trực tiếp khẳng định các quyền con người, mà chủ yếu xác định các bổn phận luân lý và người phương Đông chủ yếu phải thông qua việc thực hành (ứng xử) các bổn phận luân lý đó thì mới có thể được cộng đồng, xã hội tôn trọng và được thụ hưởng quyền lợi của mình trong cộng đồng và trong xã hội nói chung.
Thứ ba, một số khác biệt và tính tương đối giữa văn hóa tư tưởng phương Đông và phương Tây
Tại phương Đông, trọng tâm của văn hóa tư tưởng là bàn về mối quan hệ của con người với chính mình (tâm, tính người, tình người) và quan hệ ứng xử người với người. Quan hệ xã hội của con người tập trung vào quan hệ luân lý theo kiểu thiện - ác, chứ ít quan tâm đến quan hệ lý trí, pháp lý như ở phương Tây. Văn hóa tư tưởng phương Đông nhấn mạnh sự thống nhất giữa con người và vũ trụ theo nguyên tắc “thiên nhân tương dữ” và có cả “nhân định thắng thiên”. Đây là cơ sở quyết định nhiều đặc điểm khác của triết học; ví dụ như tính chất hướng nội, lấy con người làm đối tượng nghiên cứu chủ yếu, hay nghiên cứu thế giới cũng là để làm rõ con người. Trong khi đó, văn hóa tư tưởng phương Tây nhấn mạnh việc tách con người ra khỏi vũ trụ, coi con người là chủ thể để nghiên cứu và chinh phục vũ trụ - thế giới khách quan.
Ở phương Đông, hệ thống tư tưởng là kết quả tích hợp - tổng hợp tư tưởng triết học và các hình thái ý thức xã hội khác. Thí dụ triết học Trung Hoa đan xen với lý luận chính trị, còn triết học Ấn Độ lại đan xen với tôn giáo, nghệ thuật. Hệ thống thuật ngữ của tư tưởng phương Đông cũng khác so với triết học phương Tây: Phương Tây dùng thuật ngữ “giới tự nhiên”, “bản thể”, “vật chất”. Còn phương Đông lại dùng thuật ngữ “thái cực” đạo sắc, hình, vạn pháp... hay ngũ hành: Kim, Mộc, Thuỷ, Hoả, Thổ... để bàn về bản chất của vũ trụ. Tại phương Đông, các nhà hiền triết thường tuân thủ nguyên tắc: Ý tại ngôn ngoại hay ý ở ngoài lời (lời nói, chữ viết bên ngoài có công dụng diễn tả ý tưởng, tư tưởng bên trong) hay được ý quên lời...
Khái quát, học giả Phan Khôi (1887 - 1959) đã khắc họa văn hóa tư tưởng phương Đông, phương Tây ở 3 đặc điểm: Đông phương chuộng huyền học, Tây phương chuộng khoa học; Đông phương quý an phận, Tây phương quý tấn thủ (chính phục, làm chủ); Đông phương trọng thống thuộc (phụ thuộc cộng đồng), Tây phương trọng tự chủ(4).
Nhà nghiên cứu Cao Xuân Huy (1900 -1983) cho rằng, phương thức tư duy của phương Đông thiên về “chủ toàn” (xuất phát và nhắm đến cái toàn thể) còn phương Tây thiên về “chủ biệt” (xuất phát và nhắm đến cái bộ phận). Phương thức “chủ toàn” dị biệt hóa toàn thể vũ trụ thành những cái toàn thể cục bộ, những cái hệ thống hữu cơ lớn và nhỏ, có quan hệ tương hỗ với nhau. Nó đặt lên trên toàn thể vũ trụ một tính đồng nhất tuyệt đối và lên trên mỗi hệ thống cá biệt một tính đồng nhất tương đối theo nguyên lý: “toàn thể quyết định bộ phận; toàn thể không phải chỉ là tổng số của bộ phận, nghĩa là các bộ phận cộng lại không phản ánh hết được cái nội dung của toàn thể do đặc tính của một bộ phận bị quyết định bởi quan hệ của nó đối với toàn thể và đối với các bộ phận khác”. Còn phương thức “chủ biệt” cũng có nhu cầu dị biệt hóa và đồng nhất hóa, nhưng trái với phương thức chủ toàn, nó đem cái nguyên lý “đồng nhất” tuyệt đối đặt lên trên mỗi sự vật cá biệt dựa trên nguyên tắc: “bộ phận quyết định toàn thể, toàn thể là do các bộ phận ghép lại mà thành, toàn thể chỉ là tổng số của các bộ phận”(5).
Nhà nghiên cứu Hoàng Ngọc Hiến (1930 - 2011) phân biệt, triết học phương Tây thiên về sự biết... còn minh triết phương Đông quan tâm đến sự ngộ... Người ta biết những gì chưa biết; còn đối tượng của ngộ là những gì đã biết (thậm chí biết quá nhiều). Ai cũng biết mình trước sau sẽ chết, mấy ai ngộ được điều này. Ai cũng biết đời mình là như thế, mấy ai ngộ được thân làm tội đời, đời làm tội thân như thế nào, biết dễ, ngộ rất khó... Cho nên triết gia thích nói, hay nói, lắm lời. Người minh triết ít nói, thường là chẳng có gì để nói. Triết học quan tâm đến sự phát lộ chân lý; minh triết thiên về sự điều tiết sao cho thoả đáng(6).
Cùng với quá trình phát triển theo hướng hiện đại, tính tương đối trong so sánh văn hóa tư tưởng phương Đông và tư tưởng phương Tây ngày càng lộ rõ. Một mặt, một số khác biệt giữa phương Đông và phương Tây chỉ là phản ánh những đối lập giữa các xã hội truyền thống và các xã hội hiện đại. Mặt khác, đã và đang diễn ra sự giao lưu, học hỏi nhau, tích hợp nhau giữa văn hóa tư tưởng Đông - Tây.
2. Đặc điểm, giá trị, hạn chế lịch sử và đóng góp của văn hóa tư tưởng truyền thống phương Đông về nhân quyền
Một là, về đặc điểm
- Về nội dung và phương thức thực hiện
Cả hai loại hình văn hóa tư tưởng phương Đông và phương Tây đều nhằm giải quyết vấn đề cơ bản của nhân quyền là nhân phẩm và thể chế hóa nhân phẩm thành nhu cầu, lợi ích và năng lực để con người có thể sống như một con người trong thực tế cuộc sống. Nhưng văn hóa tư tưởng phương Tây thiên về quyền cá nhân và tập trung bảo đảm bằng thể chế pháp luật, trong khi đó, văn hóa tư tưởng phương Đông thiên về quyền tập thể và tập trung bảo đảm bằng thể chế luân lý (đạo đức) với những minh triết, triết lý nhân sinh cùng quy tắc ứng xử trong quan hệ người người.
Khác với phương Tây, xã hội phương Đông tập trung vào quy định những nghĩa vụ mà các cá nhân phải thực hiện, các cá nhân tự giác thực hiện các nghĩa vụ này với tính cách là những bổn phận. Chỉ thông qua việc thực hành các bổn phận, con người mới được cộng đồng, xã hội tôn trọng; từ đó có quyền hay được hưởng quyền trong cộng đồng, trong xã hội; và thường là các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa, mà ít hơn các quyền dân sự, chính trị. Ở phương Đông, thông qua việc thực hành bổn phận, nên nhân quyền không chỉ liên quan đến cá nhân, mà chủ yếu liên quan đến quyền lợi chung của cộng đồng và xã hội. Dường như chỉ toàn thể cộng đồng và xã hội là có quyền, còn cá nhân chỉ có bổn phận. Các cộng đồng và xã hội coi nhân quyền là những quyền lợi được toàn bộ cộng đồng và xã hội ủng hộ. Vì thế, các quyền con người trong lịch sử thường được thể chế hoá dưới dạng những nghĩa vụ của các cơ quan nhà nước và các cộng đồng, xã hội đối với các cá nhân; còn các cá nhân thụ hưởng và thực hiện các quyền của mình thông qua bổn phận. Thông qua việc con người thực hiện một cách tự giác các bổn phận của mình mà xã hội có sự điều chỉnh các quyền và lợi ích một cách thống nhất và ổn định.
- Về hình thức thể hiện
Tư tưởng nhân quyền chủ yếu được thể hiện bằng hình thức định tính, gián tiếp, nhiều khi không rõ ràng và được biểu hiện rất đa dạng, trước hết trong đời sống thường nhật. Phương Đông rất coi trọng quan hệ ứng xử đối với bản thân, với gia đình, cộng đồng và xã hội, nhất là ở kẻ sĩ (trí thức). Lối ứng xử đó thể hiện ở cái tính, cái tình, cái tâm, cái đức, cái tài; thể hiện “gia đạo”, “giấy rách mà giữ lấy lề”; thể hiện quân tử và tiểu nhân... theo bổn phận, danh phận, chức phận; theo quan và dân... Nguyên tắc chung là tôn trọng tôn ty trật tự xã hội, tôn trọng quyền lợi của cộng đồng, của dân tộc.
Trong lĩnh vực văn chương, nghệ thuật: Nếu đạo (đức) học, tôn giáo trình bày chung chung có tính trừu tượng về nhân quyền, thì văn chương, nghệ thuật phản ánh rõ nhất và trực tiếp ý niệm, quan niệm và tình cảm về danh dự, nhân phẩm con người, về bổn phận của bản thân với gia đình, cộng đồng; phê phán bằng văn chương, hình tượng nghệ thuật tư tưởng bất bình đẳng, trọng nam khinh nữ trong xã hội, phê phán quan lại quan liêu, tham nhũng... và thể hiện tình “thương người như thể thương thân”.
Trong các tư tưởng có tính đạo (đức) học: Trong xã hội phương Đông, chủ nghĩa cá nhân và quyền của cá nhân con người không bộc lộ công khai, mà đều được trình bày một cách gián tiếp, “mờ mờ nhân ảnh” thông qua minh triết hay triết lý nhân sinh. Ví dụ: (i) Tư tưởng về cá nhân và quyền con người kiểu “Đạo trung dung” của Nho giáo; (ii) Tư tưởng về cá nhân và nhân quyền theo kiểu “vô vi” của Đạo giáo; (iii) Tư tưởng về cá nhân và nhân quyền theo kiểu “pháp - thủ - thế” của Pháp gia: coi trọng luật hay quy tắc chung... Trong các tư tưởng có tính đạo (đức) học của Trung Quốc cổ đại, chỉ có tư tưởng của Mặc Địch (khoảng 478 - 392 trước công nguyên) và của Dương Chu (khoảng 395 - 335 trước công nguyên) là rất gần với tư tưởng về nhân quyền hiện đại. Bởi vì hai tư tưởng này dựa vào cái cá nhân có tính bình đẳng.
Trong tôn giáo: Trong quan niệm về nhân quyền, giáo lý của Do Thái giáo, Ki-tô giáo, Hồi giáo, Phật giáo đã đề xuất nhiều tư tưởng có ý nghĩa đạo đức về nhân phẩm, nhân ái, trung dung, hạnh phúc, bình đẳng và tự do.
Mặc dù không có thiết chế bảo vệ nhân quyền, nhưng tư tưởng truyền thống về nhân quyền ở phương Đông cũng được thể hiện trực tiếp có tính định lượng thông qua lệ (luật tục, hương ước...) và pháp luật của Nhà nước phong kiến. Thí dụ: (i) Quy định trong lệ (luật tục) của công xã nông thôn (hương ước): Đã thể chế hóa rất cụ thể một số quyền lợi của người dân trong cộng đồng; (ii) Quy định trong pháp luật của Nhà nước phong kiến: Các bộ luật đầu tiên trên thế giới liên quan đến nhân quyền xuất hiện ở vùng Lưỡng hà (Bộ Luật của Urukagina ở Lagash, Bộ Luật Ur-Nammu, Bộ Luật Hammurapi). Tại Việt Nam, Bộ “Quốc triều hình luật” (Bộ luật Hồng Đức) vào thế kỷ XV được thế giới biết đến, vì đã có quy định về quyền của phụ nữ, trẻ em, người già và một số đối tượng dễ bị tổn thương khác.
Hai là, một số giá trị trong văn hóa tư tưởng truyền thống phương Đông về nhân quyền
Tư tưởng “chính danh” trong Nho giáo: Xã hội cổ truyền vùng Đông Á, đều đòi hỏi mỗi người phải hành động “Chính danh”, tức đúng danh phận, danh nghĩa hay bổn phận của mình. Không nên chỉ nhìn thấy “chức năng” của tư tưởng “chính danh” là duy trì tôn ty trật tự theo kiểu một chiếu, mà từ cả hai chiều, cả người trên và kẻ dưới. Tức là cũng có tính bình đẳng, tương tác nhau trong việc duy trì tôn ty trật tự chung của cộng đồng và xã hội, trong đó coi trọng bổn phận, tấm gương của người trên theo kiểu “Bụt trên tòa thì gà nào dám mổ mắt” và cảnh tỉnh, soi xét nhược điểm có tính cố hữu của cả hai phía “quan tham” và “dân gian”.
Tôn trọng, hòa nhã trong cư xử với mọi người theo chữ “Lễ”: “Lễ” không phải là một nghi lễ cũng bái, mà bản chất là những quy định nhằm tôn trọng, bảo vệ, thực hiện sự tôn trọng, hòa nhã trong cư xử với mọi người cho đúng tính “Chính danh” của mình và của người khác ở mọi lúc, mọi nơi, nhất là trong dịp lễ tết, hiếu, hỷ. Và cũng như đối với tính “Chính danh”, không nên chỉ nhìn thấy “chức năng” của Lễ là giữ gìn tôn ty trật tự xã hội theo kiểu một chiều, mà nên nhìn nhận nó là một quy định có tính bình đẳng đối với cả hai chiều, cả người trên và kẻ dưới, trong đó đặt nặng bổn phận, tấm gương của người trên.
Tư tưởng dân chủ thể hiện tư tưởng bình đẳng, công bằng, như ở tư tưởng “dân là gốc”, thân dân, dựa vào dân, đề cao công bằng và lẽ phải. Tư tưởng tôn trọng quyền lực nhà nước và “dân là gốc”, chứ không nên chỉ nhìn nhận phiến diện từ phương châm cai trị, quản lý của Nhà nước là “lấy dân làm gốc”. Nhìn chung, các tư tưởng nêu trên đã trở thành một giá trị văn hóa khá bền vững trong việc xác định và bảo đảm nhân quyền trong suốt quá trình lịch sử rất lâu dài của phương Đông.
Ba là, hạn chế lịch sử trong văn hóa tư tưởng truyền thống phương Đông về nhân quyền
Tư tưởng cá nhân chủ nghĩa vốn là bản chất của tư tưởng quyền con người hầu như không được thể hiện trực tiếp, công khai mà phải ẩn sau các tư tưởng mang tính đạo (đức) học, tôn giáo(7).
Tư tưởng nhân quyền được thể hiện đa dạng nhưng rời rạc, không thống nhất. Ví dụ trong luật tục vừa có những quan niệm nhân văn, vừa có những quan niệm bất bình đẳng đối với phụ nữ.
Tư tưởng nhân quyền của con người nhưng chủ yếu thể hiện ở bổn phận và lợi ích của cộng đồng, của xã hội.
Tư tưởng nhân quyền nhiều khi mang tính đẳng cấp, thậm chí hà khắc, chuyên chế trong luật tục và pháp luật.
Bốn là đóng góp của văn hóa tư tưởng truyền thống phương Đông về nhân quyền đối với pháp luật nhân quyền quốc tế
Trong quá trình soạn thảo Tuyên ngôn thế giới về quyền con người (1946 - 1948), các đại diện của phương Đông (Liên Xô, Trung Quốc, Ai Cập, một số quốc gia Mỹ la tinh...) đã có đóng góp đáng kể, đặc biệt ở Lời mở đầu của Tuyền ngôn, và về các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa, quyền tập thể.
Ở Lời mở đầu của Tuyên ngôn, chẳng hạn đại diện Trung Quốc, GS P.C.Chang, đề nghị đưa vào Tuyên ngôn tinh hoa của cả văn hóa phương Đông và phương Tây; và góp phần bỏ ra khỏi bản dự thảo các khái niệm trừu tượng như “giá trị vốn có của con người”, “luật tự nhiên” và “Chúa Trời” như trong biện luận của Grumbach, đại diện Pháp(8).
Ở Điều 1, đại diện Trung Quốc cũng đề xuất bổ sung thêm cụm từ “về lương tâm”, thể hiện khái niệm mang tính quy phạm đạo đức Khổng giáo về chữ “nhân”, vốn là cơ sở cho tất cả các đức hạnh của con người, theo nghĩa đen là “quan tâm đến người khác” - gần tương tự như tư duy phương Tây về “tính nhân văn trong quan hệ với người khác” hay “ý thức về đồng loại của mình”. Và khi thảo luận, đại diện của Trung Quốc đề nghị bỏ cụm từ “được tạo hóa ban cho” hay “bởi tạo hóa” để tránh được những câu hỏi mang tính thần học mà không thể và không nên được nêu ra trong một tuyên ngôn áp dụng phổ biến trong thực tại đời sống xã hội như vậy(9). Trong các năm 1948, 1949, bản dự thảo đầu tiên của Công ước gồm 18 điều đã được đưa ra nhưng chỉ tập trung vào các quyền dân sự, chính trị, do đó đã vấp phải sự phản đối mạnh mẽ của nhiều thành viên Liên hợp quốc, chủ yếu nhóm các nước xã hội chủ nghĩa và các nước Á, Phi, Mỹ latinh.
Trên cơ sở đó, vào năm 1951, Ủy ban Nhân quyền đã bổ sung vào dự thảo Công ước trước đó 14 điều khoản mới về các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa, dựa trên đề xuất của các quốc gia cũng như của các cơ quan chuyên môn của Liên hợp quốc (LHQ). Thêm vào đó, Ủy ban còn bổ sung thêm 10 điều khoản quy định về các biện pháp thực hiện các quyền được ghi nhận trong Công ước. Tuy nhiên, sau những cuộc tranh luận kéo dài, mang đậm ý thức hệ chính trị giữa một bên là các nước Mỹ và phương Tây, và một bên là Liên Xô và các nước XHCN trong các năm 1951-1952, mà ẩn sau là sự khác biệt trong văn hóa phương Tây và phương Đông.
Cuối cùng Đại hội đồng LHQ đã yêu cầu Ủy ban Nhân quyền tách các điều khoản trong Tuyên ngôn để tiến hành soạn thảo hai công ước về quyền con người: Một công ước đề cập đến các quyền dân sự, chính trị và một công ước đề cập đến các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa. Thỏa hiệp đó đã được thực hiện khi dự thảo hai công ước (Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị và Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa) được trình lên Đại hội đồng LHQ và đều được thông qua vào ngày 16/12/1966.
Năm là, đóng góp của văn hóa tư tưởng truyền thống phương Đông về nhân quyền đối với pháp luật Việt Nam
Sự đóng góp của tư tưởng nhân quyền truyền thống phương Đông vào pháp luật nhân quyền Việt Nam, được thực hiện qua việc kế thừa, phát huy, phát triển một số điều luật trong pháp luật phong kiến Việt Nam. Thực vậy, Hiến pháp, pháp luật Việt Nam hiện nay, đã tiếp tục kế thừa, phát huy, phát triển một số điều luật trong Bộ Quốc triều hình luật của nhà Hậu Lê vào thế kỷ XV, vốn được nhiều chuyên gia luật đánh giá là bộ luật chứa đựng những nội dung nhân văn, tiến bộ. Việc kế thừa, phát huy, phát triển những điểm tiến bộ trong pháp luật phong kiến, là cần thiết và bổ ích cho việc tổ chức thực hiện pháp luật hiện nay, nhất là dưới góc độ tôn trọng, bảo vệ quyền con người. Cụ thể pháp luật Việt Nam, đặc biệt các bộ luật dân sự, tố tụng dân sự, hình sự và tụng hình sự (năm 2015), đã kế thừa, phát huy, phát triển những quyền sau: về quyền sống, về hình phạt tử hình, quyền của người phụ nữ, quyền của các nhóm dễ bị tổn thương khác, bảo vệ quyền sở hữu, quyền tài sản và những quyền lợi hợp pháp khác, quyền tố tụng, quyền khiếu nại tố cáo...
Kết luận:
Để nhìn nhận, đánh giá một nền văn hóa tư tưởng truyền thống và nhân quyền của nó, trước hết, cần am hiểu về nền văn hóa đó; cần tiếp cận từ góc nhìn của các chủ thể của nền văn hóa đó, chứ không phải từ các “cặp mắt” của người ngoài cuộc, hay lấy tiêu chuẩn của một nền văn hóa khác để xét đoàn và đánh giá nền văn hóa và quyền con người của nó. Các nền văn hóa và nhân quyền của nó khi được so sánh, tham chiếu với nhau thì không có cao - thấp, dã man - văn minh, lạc hậu - phát triển… Chính vì vậy, nhân quyền của mỗi nền văn hóa chỉ là tương đối, và phải được nhìn nhận dưới góc độ của chính chủ thể của nền văn hóa đó.
Việc xem xét, đánh giá văn hóa tư tưởng nhân quyền của các dân tộc, nên theo phương châm Hồ Chí Minh: “Văn hóa Việt Nam là ảnh hưởng lẫn nhau của văn hóa Đông phương và Tây phương chung đúc lại... Tây phương hay Đông phương có cái gì tốt, ta học lấy để tạo ra một nền văn hóa Việt Nam. Nghĩa là lấy kinh nghiệm tốt của văn hóa xưa và nay, trau dồi cho văn hóa Việt Nam có tinh thần thuần túy Việt Nam, để hợp với tinh thần dân chủ” và “phát triển hết cái hay, cái đẹp của dân tộc, tức là ta cùng đi tới chỗ nhân loại”(10)./.
PGS.TS, Nguyễn Thanh Tuấn
Hội Cựu giáo chức, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
----------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------
1. Nguyễn Thanh Tuấn, Đa dạng văn hóa và quyền văn hóa, Nxb Văn hóa – Thông tin& Viện Văn hóa, Hà Nội, 2010, tr.5-126.
2. Là một khái niệm triết học khá mới, có thể hiểu thuật ngữ “Minh triết” dùng để chỉ sự thông thái, sáng suốt, thông tuệ dựa cả vào việc đánh thức tầng vô thức, tiềm thức để nhắm vào cái toàn thể, cái tuyệt đối ở trạng thái đứng yên tương đối (tĩnh) nhằm giác ngộ và điều tiết những gì đã biết (đã nhận thức lý tính) ở con người.
3. Bộ Giáo dục và Đào tạo, Trung tâm ngôn ngữ và văn hóa Việt Nam, Đại từ điển tiếng Việt, Nxb Văn hóa-Thông tin, Hà Nội, 1998, tr.157.
4. Phan Khôi, Tư tưởng của Tây phương và Đông phương, Đông Pháp thời báo, Sài Gòn, s.774 (27/9/1928); s.776 (2/10/1928) – Dẫn theo tài liệu của nhà nghiên cứu Lại Nguyên Ân.
5. Xem Cao Xuân Huy, Tư tưởng Phương Đông gợi những điểm nhìn tham chiếu, Nxb Văn học, Hà Nội, 1995.
6. Xem: http://tapchisonghuong.com.vn/tap-chi/c178/n3568/Minh-triet-phuong-Dong-triet-hoc-phuong-Tay.html, truy cập ngày 2/4/2025.
7. Nguyễn Thanh Tuấn, Về chủ nghĩa cá nhân trong văn hóa, Nxb. văn hóa – Thông tin& Viện Văn hóa, Hà Nội, 2013, tr.145 – 173.
8, 9. Xem Gudmundur Alfredsson &Ábiorn Eide, chủ biên, Tuyên ngôn quốc tế nhân quyền 1948 Mục tiêu chung của nhân loại, Nxb Lao động- xã hội, Hà Nội, 2010, ở chú thích tr. 68.
10. Hồ Chí Minh, Về công tác văn hóa văn nghệ, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1971, tr. 71.