1. Đặt vấn đề 
          Theo thống kê dân số và địa bàn cư trú các dân tộc thiểu số sinh sống tại tỉnh Thanh Hóa cho biết, trên địa bàn Tỉnh hiện có 6 dân tộc thiểu số cùng sinh sống, bao gồm các dân tộc: Mường, Thái, Dao, Khơ Mú, Thổ và Mông. Trong đó, dân tộc Mường có 328.744 người, sinh sống tại các huyện Ngọc Lặc, Cẩm Thủy, Thạch Thành, Bá Thước; dân tộc Thái có 210.908 người, sinh sống tại các huyện Quan Hóa, Quan Sơn, Bá Thước, Lang Chánh, Thường Xuân; dân tộc Mông có 15.325 người, sinh sống tại xã Pù Nhi huyện Mường Lát; dân tộc Thổ có 8.980 người, sinh sống tại huyện Như Xuân; dân tộc Dao có 5.077 người, sinh sống tại các huyện Mường Lát, Ngọc Lặc, Cẩm Thủy; Người Khơ Mú có 607 người, sinh sống tại bản Đoàn Kết (xã Tén Tằn), bản Suối Lách (xã Mường Chanh) - đều thuộc huyện Mường Lát(1). Mỗi dân tộc đều có các đặc điểm văn hóa và phong tục tập quán riêng, góp phần tạo nên bức tranh đa dạng và sinh động của nền văn hóa Việt Nam.
          Sự đa dạng về dân tộc sinh sống tại Thanh Hóa đã tạo nên một bức tranh văn hóa vật chất và tinh thần phong phú, đa dạng, với nhiều lễ hội, phong tục tập quán, trang phục màu sắc và truyền thống độc đáo, tạo nên một nét riêng biệt của xứ Thanh. Mỗi dân tộc có những bộ trang phục riêng biệt, được thiết kế đặc trưng sử dụng phù hợp trong từng hoàn cảnh. Trong các trang phục, trang phục mặc trong các dịp lễ hội thường đặc biệt hơn trang phục thường ngày. Những bộ trang phục dành cho lễ hội thường sử dụng những loại vải màu sắc sặc sỡ và hoa văn tinh xảo. Những bộ trang phục này không chỉ thể hiện bản sắc văn hóa mà còn làm nổi bật lễ hội và nét đẹp của người mặc. Nhiều dân tộc cũng đã sử dụng trang phục như một cách để thể hiện sự tôn trọng đối với thiên nhiên, với các lực lượng siêu nhiên và thể hiện các giá trị tâm linh trong đời sống hàng ngày. 
          Sự phong phú trong trang phục truyền thống dân tộc không chỉ thể hiện nét đẹp văn hóa mà còn phản ánh lịch sử, truyền thống và lợi ích văn hóa của từng dân tộc tại Việt Nam nói chung, tại Thanh Hóa nói riêng. Qua các thời kỳ lịch sử, trang phục đã góp phần tạo nên nền văn hóa đa dạng của dân tộc, mang lại sức sống cho các giá trị và di sản văn hóa của đất nước. Do đó, việc gìn giữ và phát huy giá trị của những trang phục truyền thống này là nhiệm vụ của mỗi thế hệ, nhằm bảo tồn những giá trị văn hóa quý báu của dân tộc Việt Nam.
          2. Thực trạng về việc bảo tồn và phát huy giá trị trang phục truyền thống của các dân tộc thiểu số ở Thanh Hóa hiện nay
          2.1. Bảo tồn và phát huy giá trị trang phục truyền thống của các dân tộc thiểu số là nhiệm vụ quan trọng và cấp bách trong bối cảnh hiện nay
          Trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, sự kết nối sâu rộng giữa các nền văn hóa thông qua các phương tiện thông tin đại chúng đã đem lại nhiều cơ hội nhưng cũng không ít thách thức. Đồng bào các dân tộc thiểu số tiếp xúc ngày càng nhiều hơn với các trào lưu và sản phẩm văn hoá mới, từ đó cũng có sự thay đổi về nhận thức và thẩm mỹ. Bên cạnh những thay đổi tích cực, những ảnh hưởng từ sự giao thoa văn hóa, khiến nhận thức và thẩm mỹ cũng dần thay đổi. 
          Hiện trạng đáng lo ngại là nhiều trang phục truyền thống đang dần biến đổi. Các sản phẩm này, do được sản xuất công nghiệp, đã bị thay đổi về họa tiết, hoa văn và đường nét, mất đi tính độc đáo và bản sắc riêng. Tình trạng này phổ biến nhiều tại các vùng có sự giao thoa văn hóa mạnh mẽ, nơi mà giá trị văn hóa truyền thống dễ bị pha loãng.
          Thực tế ở nhiều nơi, trang phục truyền thống chỉ còn xuất hiện vào các dịp lễ hội, ngày Tết và dường như trở thành thứ lễ phục xa lạ với đời sống sinh hoạt hàng ngày. Một số thanh niên dân tộc thiểu số chạy theo trào lưu của xu hướng thời trang, cảm thấy thiếu tự tin, ngần ngại khi khoác lên mình trang phục truyền thống, nhất là tại các đô thị, nơi họ dần bị cuốn vào vòng xoáy hiện đại hóa và đồng hóa văn hóa. 
          Có thể nhận thấy nguyên nhân dẫn đến thực trạng này bao gồm nhiều yếu tố:
         Một là, quan niệm về mặc của người dân. Trong sinh hoạt hàng ngày, nhiều người dân đã có quan niệm rằng trang phục truyền thống không còn là lựa chọn ưu tiên. 
          Hai là, để làm ra một bộ trang phục truyền thống cần rất nhiều thời gian, công sức và tiền bạc. Một bộ trang phục truyền thống thường yêu cầu sự tỉ mỉ và công phu. Nó không chỉ cần nguyên liệu chất lượng mà còn đòi hỏi kỹ năng thủ công cao. Hơn nữa, quy trình sản xuất truyền thống thường phức tạp, có thể mất nhiều thời gian để hoàn thiện. 
          Ba là, trang phục truyền thống không phù hợp với đời sống hiện đại. Trang phục truyền thống thường được thiết kế cho đời sống sinh hoạt truyền thống, các lễ hội của một tộc người, và không phù hợp với đời sống hiện đại, nhất là trong lao động sản xuất. 
          Bốn là, người dân chưa thật sự ý thức về bảo tồn trang phục truyền thống của dân tộc mình. Phần lớn thanh niên hiện nay đều không quan tâm, thậm chí không còn kỹ năng để tự dệt may cho mình một bộ trang phục truyền thống, trong khi những người nghệ nhân của bản làng ngày càng cao tuổi, chưa có người kế cận, trong một thời gian dài chúng ta chưa có một chính sách thật cụ thể, phù hợp với từng dân tộc trong bảo tồn nghề dệt may trang phục truyền thống.
          Trong xã hội hiện đại, việc bảo tồn và phát huy trang phục truyền thống là thách thức nhưng cũng là cơ hội để khẳng định giá trị văn hóa của mỗi dân tộc. Điều cần thiết là chúng ta phải tìm ra cách tốt nhất để kết hợp giữa hiện đại và truyền thống, để trang phục không chỉ trở thành một phần của di sản mà còn là một phần của đời sống hàng ngày.
          2.2. Bảo tồn và phát huy trang phục truyền thống của các dân tộc thiểu số ở Thanh Hóa 
        Cánh cửa giao thương mở ra với nhiều quốc gia trên thế giới, kéo theo đó là sự tiếp xúc đa dạng với các nền văn hóa khác nhau. Thông qua các phương tiện truyền thông đại chúng, những giá trị mới du nhập vào Việt Nam, dần thay đổi nhận thức và thị hiếu thẩm mỹ của người dân, đặc biệt là đồng bào các dân tộc thiểu số. Sự thay đổi này đặt ra một thách thức lớn đối với việc bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa truyền thống. Đứng trước những thách thức đó, việc triển khai xây dựng Đề án “Bảo tồn tiếng nói, chữ viết, trang phục, nghề truyền thống của đồng bào dân tộc thiểu số tỉnh Thanh Hóa đến năm 2030” là một việc làm thực sự cần và cấp thiết. 
Là một phần nằm trong đề án “Bảo tồn, phát huy và phát triển tiếng nói, chữ viết, trang phục, nghề truyền thống của đồng bào dân tộc thiểu số” giai đoạn 2023 - 2025, trang phục các dân tộc thiểu số sinh sống tại Thanh Hóa đã thực sự nhận được sự quan tâm kịp thời trước nguy cơ mai một(2). Đề án đã đề ra các giải pháp để giữ gìn và bảo tồn trang phục dân tộc thiểu số và đã được thực hiện bao gồm:
          Về giải pháp bảo tồn trang phục: Đề án đã thực hiện khảo sát, nghiên cứu về trang phục dân tộc thiểu số để hiểu rõ về giá trị văn hóa, lịch sử và ý nghĩa của trang phục. Đã thực hiện bảo tồn và phục dựng trang phục dân tộc thiểu số để trưng bày tại các bảo tàng, trung tâm văn hóa. Đề án cũng đã tổ chức các hoạt động văn hóa, lễ hội để giới thiệu và quảng bá trang phục dân tộc thiểu số. Đề án cũng đã đưa ra các phương án triển khai trên thực tế để hỗ trợ nghệ nhân dân tộc thiểu số để họ tiếp tục sáng tạo và phát triển trang phục truyền thống. Nhằm mục đích hỗ trợ kích cầu du lịch, tạo điều kiện cho du lịch văn hóa để du khách có thể trải nghiệm và tìm hiểu về trang phục dân tộc thiểu số.
          Giải pháp phát triển trang phục dân tộc thiểu số: Đề án đã thực hiện phát triển sản phẩm trang phục dân tộc thiểu số để phục vụ nhu cầu của người dân và du khách. Tổ chức các lớp học để dạy kỹ thuật dệt may truyền thống cho thế hệ trẻ nhằm kế thừa và phát huy các nghề thủ công truyền thống. Hỗ trợ các doanh nghiệp trong việc sản xuất và kinh doanh sản phẩm trang phục dân tộc thiểu số. Tổ chức các cuộc thi để tìm kiếm và tôn vinh các nghệ nhân dân tộc thiểu số có tài năng trong việc sáng tạo và phát triển trang phục truyền thống.
          Trang phục dân tộc thiểu số đã được bảo tồn, phát huy thông qua việc xây dựng 6 mô hình mặc trang phục truyền thống vào các ngày trong tuần và trong các hoạt động chung, ngoại khóa… được áp dụng tại các điểm trường Dân tộc nội trú tỉnh và huyện Ngọc Lặc, Thạch Thành, Thường Xuân, Quan Sơn, Mường Lát đã tạo nên một không khí sôi động, đầy màu sắc, hứng khởi dạy và học cho giáo viên và học sinh tại các điểm trường. Du lịch văn hóa cũng phát triển, tạo việc làm và thu nhập cho người dân thông qua ba mô hình giới thiệu, quảng bá sản phẩm du lịch từ trang phục truyền thống dân tộc Thái, Mường, Dao tại các khu, điểm du lịch: Pù Luông, thác Ma Hao, khu du lịch sinh thái Bến En. 
          Dệt thổ cẩm không chỉ là một nghề thủ công truyền thống mà còn là nét đặc trưng riêng biệt, thể hiện bản sắc văn hóa của mỗi dân tộc thiểu số. Mỗi bộ trang phục truyền thống của các dân tộc thiểu số đều chứa đựng những hoa văn, họa tiết trang trí mang ý nghĩa sâu sắc và giá trị thẩm mỹ độc đáo. Nhận thức được tầm quan trọng của việc bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống, việc xây dựng mô hình truyền dạy nghề thổ cẩm trong gia đình, dòng tộc trở nên hết sức cần thiết. Các dự án đã được triển khai nhằm xây dựng các mô hình truyền dạy nghề truyền thống, đến nay mô hình này đã đạt được những kết quả khả quan, góp phần duy trì và phát triển nghề dệt thổ cẩm.
          Song song với việc giữ gìn, bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa, trang phục truyền thống đề án cũng đã góp phần nâng cao ý thức cộng đồng trong việc bảo tồn và phát huy trang phục các dân tộc thiểu số. Bản sắc văn hóa của các dân tộc thiểu số cũng được phát huy và quảng bá rộng rãi, đưa trang phục dân tộc thiểu số đến với sự quan tâm của không chỉ cộng đồng người dân trong nước mà còn nhân rộng đến bạn bè khắp năm châu. Du khách nước ngoài khi đến tham quan tại các điểm du lịch rất hào hứng khi được khoác trên mình bộ trang phục đa dạng màu sắc của trang phục các dân tộc thiểu số. Điều này cho thấy sức hút của trang phục truyền thống các dân tộc thiểu số không chỉ đối với người dân trong nước mà còn đối với bạn bè quốc tế.
          Tuy nhiên, thực tế cũng cho thấy, trang phục truyền thống của các dân tộc thiểu số đang có sự biến đổi nhanh chóng. Nhiều dân tộc, đặc biệt là những dân tộc có số dân ít, không còn gữ được bản sắc văn hóa trong trang phục truyền thống của mình. Mức độ sử dụng trang phục truyền thống trong giới trẻ ngày càng giảm sút. Điều này đặt ra một câu hỏi cấp thiết: Làm thế nào để bảo tồn và phát huy văn hóa truyền thống nói chung, và trang phục truyền thống của các dân tộc thiểu số nói riêng? Làm thế nào để thế hệ trẻ các dân tộc thiểu số có ý thức và trách nhiệm hơn trong việc lựa chọn và gìn giữ các giá trị văn hóa tốt đẹp của dân tộc mình? Đây là một vấn đề không hề đơn giản, đòi hỏi sự chung tay của toàn xã hội để tìm ra giải pháp phù hợp.
          3. Đề xuất một số giải pháp bảo tồn và phát huy giá trị trang phục truyền thống của các dân tộc thiểu số ở Thanh Hóa
          Để bảo tồn và phát huy hiệu quả giá trị trang phục truyền thống của các dân tộc thiểu số, cần một chiến lược toàn diện, đa chiều, kết hợp sự tham gia của cộng đồng, nhà nước, các tổ chức xã hội và doanh nghiệp. Dưới đây là một số giải pháp chi tiết:
          3.1. Nâng cao nhận thức và khơi dậy niềm tự hào văn hóa
          Đưa nội dung về trang phục truyền thống vào chương trình giáo dục địa phương từ cấp mầm non đến trung học phổ thông. Tổ chức các buổi học ngoại khóa, các hoạt động trải nghiệm thực tế để học sinh được tìm hiểu về lịch sử, ý nghĩa, kỹ thuật chế tác trang phục.
Mời các nghệ nhân đến trường để truyền đạt kiến thức, kỹ năng về dệt, thêu, may trang phục truyền thống, giúp học sinh hiểu rõ hơn về quy trình sản xuất và giá trị của sản phẩm.
          Tận dụng sức mạnh của mạng xã hội để lan tỏa thông tin về trang phục truyền thống. Tạo các trang, nhóm trên Facebook, Instagram, TikTok để chia sẻ hình ảnh, video, câu chuyện về trang phục, các nghệ nhân, các lễ hội liên quan.
          Hợp tác với các nghệ sĩ, người nổi tiếng có sức ảnh hưởng để quảng bá trang phục truyền thống. Tổ chức các buổi chụp hình, quay video với trang phục truyền thống, chia sẻ trên mạng xã hội.
          Tổ chức các sự kiện văn hóa, thời trang, triển lãm về trang phục truyền thống ở các thành phố lớn, trung tâm du lịch, “Ngày hội trang phục truyền thống” hàng năm tại các địa phương, khuyến khích người dân mặc trang phục truyền thống khi tham gia các hoạt động văn hóa, lễ hội…
          3.2. Nghiên cứu và ứng dụng khoa học công nghệ
          Tổ chức các đề tài, hội thảo khoa học nghiên cứu về lịch sử, văn hóa, kỹ thuật chế tác trang phục truyền thống của các dân tộc thiểu số, thu thập, phân tích, đánh giá các thông tin, dữ liệu. Trên cơ sở các kết qủa nghiên cứu xuất bản thành các cuốn sách, ấn phẩm về trang phục truyền thống, giới thiệu đến công chúng những giá trị văn hóa, lịch sử, nghệ thuật của trang phục.
          Bên cạnh đó, đẩy mạnh số hóa các nguồn tư liệu về trang phục và hệ thống hoa văn trên trang phục truyền thống, tiến tới xây dựng cơ sở dữ liệu về trang phục truyền thống của các dân tộc thiểu số. Đồng thời, ứng dụng các công nghệ sản xuất thông minh vào quá trình sản xuất trang phục, nâng cao năng suất, chất lượng, giảm chi phí, kết hợp với thương mại điện tử (xây dựng các trang web thương mại điện tử, các ứng dụng bán hàng trực tuyến) để quảng bá, phân phối sản phẩm trang phục.
          Áp dụng phần mềm quản lý nguồn liệu là trang phục truyền thống và hệ thống hoa văn trên trang phục truyền thống. Các phần mềm này cung cấp nhiều tính năng tiên tiến, giúp tối ưu hóa quy trình làm việc và nâng cao hiệu suất quản lý. Một trong những tính năng nổi bật là khả năng tra cứu thông minh, cho phép người dùng nhanh chóng tìm thấy thông tin cần thiết dựa trên các tiêu chí cụ thể như: thời kỳ, trang phục dân tộc nào, hệ thống hoa văn trên từng thành tố cần tìm… điều này giúp tiết kiệm thời gian và công sức trong việc truy xuất thông tin.
          3.3. Tăng cường hợp tác quốc tế
        Tổ chức các đoàn nghệ thuật biểu diễn trang phục truyền thống ở nước ngoài, giới thiệu văn hóa Việt Nam đến bạn bè quốc tế, kết hợp với mời các đoàn nghệ thuật nước ngoài đến Việt Nam biểu diễn, giao lưu văn hóa, tạo cơ hội để người dân Việt Nam tìm hiểu về văn hóa của các quốc gia khác.
          Hợp tác với UNESCO, các tổ chức phi chính phủ để thực hiện các dự án hỗ trợ các làng nghề, các nghệ nhân bảo tồn và phát triển trang phục truyền thống.
          Để các giải pháp trên đạt hiệu quả cao nhất, cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cấp chính quyền, các sở, ban, ngành, các tổ chức xã hội, các doanh nghiệp và cộng đồng dân cư ở Thanh Hoá nói riêng, cả nước nói chung. Đồng thời, cần có sự đầu tư thích đáng về nguồn lực tài chính, nhân lực, vật lực, tạo điều kiện thuận lợi cho việc triển khai các hoạt động bảo tồn và phát huy giá trị trang phục truyền thống của các dân tộc thiểu số ở Thanh Hoá.
          Tóm lại, trang phục không chỉ đơn thuần là quần áo mà còn là một phần quan trọng trong di sản văn hóa của từng dân tộc. Mỗi bộ trang phục đều mang trong mình câu chuyện riêng về lịch sử, phong tục và truyền thống của một cộng đồng. Trong thời kỳ hội nhập quốc tế, việc quảng bá trang phục truyền thống qua các sự kiện văn hóa và du lịch không chỉ giúp nâng cao giá trị của trang phục mà còn làm cho các thế hệ trẻ hiểu rõ hơn về nguồn cội và di sản văn hóa của họ. Bởi vậy, bảo tồn trang phục dân tộc không chỉ là nhiệm vụ của các nhà nghiên cứu mà còn là trách nhiệm của cộng đồng./.
ThS, Bùi Thị Hậu
Trường Đại học Văn hoá, Thể thao và Du lịch Thanh Hoá

---------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------
1. Tổng cục thống kê Việt Nam, Tổng điều tra dân số và nhà ở, số liệu ngày 01/10/2010.
2. Quyết định 4795/QĐ-UBND Thanh Hóa, Đề án Bảo tồn, phát huy và phát triển tiếng nói, chữ viết của đồng bào dân tộc thiểu số, 2022.