1. Đặc trưng và sự biến đổi lễ hội trong đời sống đương đại
Với chiều dài lịch sử, lễ hội là sự tích hợp và tái hiện những sự kiện lịch sử quan trọng của đất nước và những truyền thuyết dân gian. Các nghi thức trong lễ hội chính là sự biểu hiện giữa quá khứ và hiện tại, sự cố kết cộng đồng không chỉ ở một làng một xã, liên làng liên xã mà còn là cả vùng đất, quốc gia, dân tộc. Các lễ hội có ý nghĩa giáo dục vô cùng sâu sắcvề lịch sử, sứ mệnh dựng nước, giữ nước, chấn hưng, phát triển và tự chủ dân tộc. Lễ hội được sinh ra từ trong cộng đồng, vì vậy, để bảo tồn và phát huy giá trị của lễ hội, chúng ta phải khơi dậy ý thức của cộng đồng. Cộng đồng là chủ thể văn hóa, sáng tạo và duy trì lễ hội, đồng thời là khách thể, thụ hưởng những giá trị văn hóa từ lễ hội.
Việt Nam hiện nay có khoảng 8000 lễ hội lớn nhỏ, các lễ hội truyền thống ở Việt Nam tồn tại suốt chiều dài lịch sử dựng và giữ nước của dân tộc. Từ những năm 90 của thế kỷ trước, khi nghiên cứu về lễ hội, các nhà nghiên cứu đã phân loại lễ hội truyền thống với các cách tiếp cận khác nhau: “Cách phân loại đơn giản nhất là chia hội lễ thành hội lễ vốn không có nguồn gốc tôn giáo và hội lễ có nguồn gốc tôn giáo. Hội lễ mà nguồn gốc vốn không phải là tôn giáo vốn có từ rất lâu. Thí dụ như: Hội lễ nguyên thủy gắn với nghi thức phồn thực, với sản xuất nông nghiệp. Hội lễ tôn giáo chỉ xuất hiện khi xã hội đã phân chia thành giai cấp và tôn giáo đã ra đời (Balamôn giáo, Phật giáo, Đạo giáo, Do Thái giáo, Thiên chúa giáo, Hồi giáo…)”(1). Năm 2007, nhà nghiên cứu Ngô Đức Thịnh phân tích: “Từ nhiều năm nay, giới nghiên cứu về lễ hội nước ta, từ nhiều góc độ khác nhau, cố gắng đưa ra một cách phân loại lễ hội sao cho thỏa đáng nhất. Trước hết người tacăn cứ vào nội dung phản ánh của lễ hội để chia đây là lễ hội nông nghiệp, kia là lễ hội anh hùng lịch sử, còn kia nữa là lễ hội tôn giáo, tín ngưỡng… Căn cứ vào phạm vi to nhỏ để phân đâu là hội làng, hội vùng và hội của cả nước…; rồi lại căn cứ vào thời gian mở hội để chia ra lễ hội mùa xuân, lễ hội mùa thu, hay nơi tổ chức ở chùa, đền hay đình… Cách phân chia nào cũng có mặt hợp lý, nhưng cũng đều không tránh được những chồng chéo, bất hợp lý của nó. Điều trên thật dễ hiểu bởi vì, trong số hàng trăm, hàng ngàn lễ hội của người Việt ở đồng bằng Bắc Bộ, tuy to nhỏ khác nhau nhưng gốc tích ban đầu đều từ hội làng, mang đậm tính chất là lễ hội nông nghiệp, nhưng trong quá trình lịch sử lâu dài, lễ hội thu nhận vào mình những nội dung lịch sử, xã hội, văn hoá mới, tạo nên sự hoà quyện, đan xen giữa cái căn cỗi và những cái du nhập sau này, thậm chí về mặt thời gian của hội cũng chuyển dịch; các xu hướng huyền thoại hoá, lịch sử hoá, địa phương hoá cũng chi phối hình thức và nội dung lễ hội”(2).
Hiện nay, do những biến đổi của lễ hội trong quá trình phát triển, dưới góc độ quản lý nhà nước, lễ hội được phân chia thành 4 loại: lễ hội truyền thống, lễ hội văn hoá, lễ hội ngành nghề, lễ hội có nguồn gốc từ nước ngoài. Trong đó, lễ hội truyền thống (bao gồm cả lễ hội tại các di tích lịch sử - văn hóa, lễ hội dân gian) là hình thức sinh hoạt văn hóa cộng đồng được tổ chức theo nghi lễ truyền thống, nhằm đáp ứng nhu cầu tinh thần của nhân dân; Lễ hội văn hóa là hoạt động giới thiệu, quảng bá giá trị văn hóa, thể thao tiêu biểu, đặc sắc, tiềm năng du lịch về đất nước, con người Việt Nam; Lễ hội ngành nghề là hoạt động quảng bá về đặc trưng, thế mạnh của các ngành nghề, tôn vinh các tổ chức, nghệ nhân tiêu biểu có nhiều đóng góp trong việc giữ gìn và phát triển ngành nghề; Lễ hội có nguồn gốc từ nước ngoài là những hoạt động giới thiệu văn hóa, kinh tế, xã hội của nước ngoài với công chúng Việt Nam(3). Qua phân tích của các nhà khoa học và văn bản quản lý nhà nước, chúng ta đã thấy được những đặc trưng của lễ hội Việt Nam và những biến đổi trong đời sống đương đại với tính chất, quy mô và nhu cầu của cộng đồng. Như vậy, các lễ hội sẽ ngày càng được mở rộng và biến đổi với nhiều xu hướng khác nhau tùy thuộc vào từng địa phương, vùng miền. Vì thế, cần phải có những định hướng tương xứng cho sự phát triển của văn hóa nói chung và lễ hội nói riêng trong giai đoạn sắp tới với những nguyên tắc cơ bản.
2. Một số nguyên tắc cơ bản trong bảo tồn, phục dựng lễ hội truyền thống gắn với phát triển du lịch
Trước hết, khi bảo tồn, phục dựng lễ hội (dù quy mô cấp làng/thôn xóm, thị xã, thành phố hay quốc gia), chúng ta phải xác định cộng đồng cư dân ở địa phương đó là chủ thể của lễ hội - chủ nhân của di sản văn hóa, đặc biệt là vai trò của những người có uy tín - những người được nhân dân tín nhiệm, vai trò của dòng họ đối với việc huy động nguồn nhân lực tham gia vào lễ hội. Điều này đảm bảo tính bền vững trong cộng đồng đối với lễ hội. Bên cạnh vai trò của cộng đồng, sự quản lý của Nhà nước cũng đóng vai trò then chốt trong bảo tồn và phục dựng lễ hội nhất là giai đoạn đầu.
Thứ hai, bảo tồn, phục dựng lễ hội cần dựa trên những cứ liệu lịch sử cụ thể, khoa học, khách quan, tránh gây những tranh cãi không cần thiết. Chúng ta cần hiểu rằng, việc bảo tồn, phục hồi lễ hội không phải là phục hồi nguyên vẹn hay phục hồi bất cứ những gì chúng ta thấy được từ văn bản cũ. Bảo tồn và phục dựng lễ hội dựa trên những căn cứ, văn bản, tư liệu sưu tầm, văn bản Hán Nôm, văn bản cộng đồng, ký ức của người dân nhưng nó vẫn phải mang hơi thở của ngày hôm nay, thể hiện những dấu ấn của thời đại Hồ Chí Minh kết hợp với truyền thống của cha ông.
Thứ ba, phục dựng lễ hội cần phải coi trọng tính đặc thù, tính độc đáo, nhận diện đầy đủ giá trị văn hóa đặc trưng của lễ hội nhất là đối với lễ hội về các vị vua, tướng lĩnh, anh hùng dân tộc trong các thời kỳ lịch sử dựng và giữ nước của dân tộc. Với các nguyên tắc như vậy, khi bảo tồn và phục hồi lễ hội truyền thống, chúng ta cần nghiên cứu làm rõ các vấn đề sau:75
1) Nhận diện giá trị di sản văn hóa đặc trưng với các giá trị lịch sử, giá trị văn hóa, giá trị khoa học, vai trò của lễ hội trong đời sống cộng đồng;
2) Đánh giá thực trạng và sự biến đổi của lễ hội trong đời sống đương đại từ lễ tục cho đến các trò chơi dân gian;
3) Xây dựng mô hình không gian thực hành di sản văn hóa lễ hội;
4) Phục dựng lễ hội gắn kết giữa di sản văn hoá với cộng đồng để phát triển kinh tế du lịch bền vững tại địa phương;
5) Khai thác tiềm năng và phát huy vốn di sản văn hoá của lễ hội trong phát triển kinh tế du lịch;
6) Giải pháp bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hoá lễ hội gắn với phát triển du lịch bền vững.
3. Nguyên tắc tổ chức lễ hội truyền thống gắn với phát triển du lịch
Thứ nhất, thực hiện nghiêm túc Nghị định 110/2018/NĐ-CP ngày 29/08/2018 của Chính phủ Quy định về quản lý và tổ chức lễ hội. Đó là:
- Việc tổ chức lễ hội nhằm giáo dục truyền thống yêu nước, lòng tự hào dân tộc, đạo lý “Uống nước nhớ nguồn”, tôn vinh công lao các bậc tiền nhân, nhân vật lịch sử, những người có nhiều đóng góp trong quá trình hình thành, phát triển đất nước; tuyên truyền giá trị về lịch sử, văn hóa, kiến trúc của di tích, truyền thống tốt đẹp của lễ hội.
- Lễ hội phải được tổ chức trang trọng, thiết thực, hiệu quả; phù hợp với quy mô, nội dung của lễ hội; tổ chức lễ hội truyền thống theo đúng bản chất, ý nghĩa lịch sử văn hóa; giảm tần suất, thời gian tổ chức lễ hội văn hóa.
- Nghi lễ của lễ hội phải trang nghiêm, bảo đảm truyền thống; không thực hiện nghi lễ có tính bạo lực, phản cảm, trái với truyền thống yêu hòa bình, nhân đạo của dân tộc Việt Nam.
- Giáo dục, định hướng con người hình thành các hành vi, thái độ, nhận thức cao đẹp; loại bỏ xu hướng chạy theo lợi ích vật chất, lòng tham và các lợi ích cá nhân.
- Phải thực hiện các biện pháp bảo vệ di tích, danh lam thắng cảnh; bảo đảm an ninh, trật tự, an toàn xã hội, phòng chống cháy nổ, an toàn giao thông và vệ sinh môi trường.
- Không lợi dụng việc tổ chức lễ hội nhằm mục đích trục lợi cá nhân, phục vụ lợi ích nhóm; không ép buộc tổ chức, cá nhân tham gia đóng góp kinh phí tổ chức lễ hội.
- Hạn chế sử dụng ngân sách nhà nước, đẩy mạnh xã hội hóa các nguồn lực trong việc tổ chức lễ hội; thực hành tiết kiệm, chống lãng phí.
Thứ hai, việc tổ chức các hoạt động của lễ hội phải gắn tín ngưỡng và các sự kiện có liên quan đến nhân vật được thờ tự. Do việc tổ chức các lễ hội là chuỗi sự kiện có liên quan đến lịch sử đất nước nên việc tổ chức các hoạt động trong lễ hội cũng phải thể hiện những dấu ấn lịch sử này. Về bản chất, các lễ hội cổ truyền luôn có sự gắn bó giữa phần lễ và phần hội. Chính vì vậy, nguyên tắc này sẽ bảo đảm cho sự kế thừa nguyên tắc tổ chức lễ hội, đồng thời tạo ra dấu ấn riêng cho lễ hội. Tuy nhiên, các hoạt động của lễ hội cũng không nên quá máy móc khi đi tìm lại những hoạt động mang tính nguyên gốc. Bởi lễ hội giờ đây là sản phẩm của thời hiện tại, phát triển lễ hội nhằm mục đích đáp ứng nhu cầu và đòi hỏi của hiện tại, được định hình và tồn tại bởi chính những yêu cầu đó. Thời hiện tại lựa chọn một di sản từ quá khứ, được mường tượng ra cho mục đích hiện tại và quyết định những gì nên được chuyển giao cho một tương lai mà xã hội ấy mong chờ. Đây chỉ là một sự mở rộng của ý tưởng rằng “tất cả lịch sử đều là lịch sử đương đại”; “quá khứ thông qua con mắt của thời hiện tại”. Chính vì vậy, cả lịch sử và di sản sử dụng quá khứ một cách có lựa chọn cho mục đích hiện thời và biến đổi nó thông qua sự giải thích. Lịch sử là những gì được ghi chép lại qua lăng kính của sử gia và di sản là những gì mà xã hội đương đại lựa chọn để kế thừa và chuyển giao cho các thế hệ tương lai. Di sản không đơn thuần chỉ là quá khứ. Quá khứ là nguyên liệu ban đầu để cho mỗi thế hệ tái hiện lại di sản cho chính mình. Chính vì lý do đó, việc tổ chức các hoạt động cho lễ hội cũng cần được cân nhắc cẩn thận để tránh những yếu tố không phù hợp với bối cảnh đương đại, gây ảnh hưởng đến tính hấp dẫn, sự tồn tại và phát triển của lễ hội.
Thứ ba, việc tổ chức lễ hội phải lấy cộng đồng cư dân địa phương làm trung tâm. Cộng đồng phải được tham gia bàn bạc, lên kế hoạch tổ chức các hoạt động hội. Đây là điều kiện căn bản để người dân có thể chủ động, tích cực tham gia vào tổ chức các hoạt động hội ngay từ ban đầu. Trong rất nhiều trường hợp, việc tổ chức lễ hội được lên kế hoạch từ những người không am hiểu về văn hóa, điều kiện lịch sử, xã hội thực tế của cộng đồng. Chính vì vậy, việc tổ chức sự kiện không thể huy động sự tham gia của người dân địa phương do họ cảm thấy những yếu tố xa lạ ngay từ kế hoạch tổ chức. Do đó, người tổ chức các hoạt động lễ hội cần tham khảo ý kiến người dân địa phương, tạo điều kiện để họ tham gia vào quá trình lên kế hoạch tổ chức các hoạt động lễ hội này, từ đó, đảm bảo cho sự khởi đầu của việc tổ chức sự kiện thành công.
Cộng đồng phải được tham gia vào việc tổ chức các hoạt động lễ hội. Sự tham gia vào việc lên kế hoạch tổ chức lễ hội mới chỉ là phần mở đầu. Điều quan trọng là người dân địa phương phải thực sự tham gia vào các hoạt động lễ hội. Việc tổ chức các lễ hội cổ truyền trước kia là một ví dụ cho thấy sự thành công khi người dân tham gia vào việc tổ chức sự kiện cho chính mình, vì chính mình và bởi chính mình. Khi họ tham gia các hoạt động lễ hội, họ sẽ tạo ra những dấu ấn, tính mộc mạc, chân thành, chân thực của riêng họ, mà không một đoàn văn công, đoàn nghệ thuật chuyên nghiệp hay nhà hát nào có thể làm được. Điều này chắc chắn được đánh giá cao bởi du khách, khán giả - những người đóng vai trò quyết định đến việc đánh giá một thành công của một sự kiện (chứ không phải văn bản báo cáo của một cơ quan nhà nước).
Cộng đồng phải được tham gia vào quá trình đánh giá hiệu quả của các hoạt động lễ hội. Thông thường, tổ chức các hoạt động lễ hội và đánh giá sự kiện được giao cho những cơ quan nhà nước hoặc các tổ chức đoàn thể như Đoàn Thanh niên, Hội Phụ nữ, Hội Nông dân…. Cách đánh giá này thường đem lại những cách nhìn rất khác đối với hiệu quả tổ chức của một sự kiện.
Người dân thường đứng bên lề những sự đánh giá này, hoặc cùng lắm chỉ là những ý kiến nhất định được các cơ quan nhà nước khảo sát qua một cuộc điều tra cụ thể. Điều này là chưa đủ, vì những hiệu quả của một tổ chức cần phải đánh giá một cách toàn diện và nhất thiết phải phản ánh ý kiến của người trong cuộc. Người dân cần phải là một thành phần tham gia vào quá trình đánh giá để thể hiện ý kiến của chính họ, những lợi ích thật sự mà họ được hưởng chứ không phải là do những người bên ngoài đánh giá. Bên cạnh đó, chính nhờ quá trình tham gia đánh giá hiệu quả này, cộng đồng có thể hoàn thiện việc tổ chức các hoạt động lễ hội tốt hơn từ những kiến thức mà họ có.
Cộng đồng phải được lợi từ các hoạt động lễ hội. Xét đến cùng, lợi ích là một yếu tố chi phối rất nhiều đến việc tổ chức các hoạt động lễ hội. Nếu việc tổ chức các hoạt động lễ hội không có lợi - cho cả người tổ chức và cộng đồng địa phương - thì việc tổ chức một sự kiện bị xem là thất bại. Tuy nhiên, lợi ích của việc tổ chức một hoạt động lễ hội không chỉ dừng ở những lợi ích tài chính mà còn phải được xem xét dưới nhiều góc độ khác nhau khác. Từ phương diện cộng đồng, những lợi ích này có thể là việc củng cố và phát huy hình ảnh địa phương, niềm tự hào của người dân hay những lợi ích gián tiếp, lâu dài khác. Dù sao, cộng đồng cũng phải được nhận những lợi ích này và phải biết về những lợi ích mà họ có thể có khi tổ chức hoạt động lễ hội. Nếu không, việc tổ chức các hoạt động lễ hội sẽ không đem lại hiệu quả như mong đợi.
Thứ tư, việc tổ chức hoạt động lễ hội cần chú ý đến nhu cầu của người dân, khách tham quan di tích và tất cả các bên liên quan khác. Tổ chức lễ hội hướng đến nhiều mục đích khác nhau, vì vậy, việc tổ chức các hoạt động lễ hội cũng phải hướng đến các mục đích khác nhau này. Nếu chúng ta coi việc tổ chức lễ hội là một hình thức di sản hóa thì ngày nay, di sản đang dần trở thành một dạng sản phẩm văn hóa, đáp ứng nhu cầu của xã hội hiện tại. Với tư cách là một sản phẩm văn hóa, lễ hội có những logic vận hành phù hợp với vai trò của nó trong xã hội hiện tại. Các lễ hội này có vai trò quan trọng đặc biệt như kích thích nhu cầu thăm quan của khách du lịch, tạo tính hấp dẫn cho điểm tham quan, xây dựng hình ảnh cho một vùng đất, quốc gia dân tộc, cũng là tác nhân kích thích phát triển địa phương, hình thành du lịch thay thế và đáp ứng mục tiêu phát triển bền vững. Bên cạnh đó, di sản được xem như một nguồn lực về văn hóa có giá trị tự thân; một nguồn lực về chính trị trong việc tạo nên sự ủng hộ của người dân đối với chính quyền; đồng thời được xem như một nguồn lực về kinh tế thông qua các hỗ trợ trực tiếp hoặc gián tiếp cho các hoạt động kinh tế khác. Chính vì vậy, nhu cầu đa dạng của tất cả các bên liên quan đến lễ hội, tổ chức các hoạt động lễ hội phải được cân nhắc để tìm cách đáp ứng như hội chợ thương mại, các trò chơi mới....
Việc tổ chức, quản lý một hoạt động trong lễ hội truyền thống không đơn giản chỉ xoay quanh việc phục hồi, bảo tồn hay phát huy các hoạt động mà còn liên quan đến các công việc như lập kế hoạch, nguồn nhân lực tổ chức tham gia, tuyên truyền, marketing, tìm kiếm nguồn tài trợ, dịch vụ hậu cần, an ninh, y tế, vệ sinh thực phẩm, phát triển các cơ sở hạ tầng có liên quan… Dù quy mô lễ hội khác nhau, nhưng các vấn đề đặt ra như trên vẫn cần có sự quan tâm quản lý từ các cấp, các ngành. Chính vì vậy, mọi quy định quản lý lễ hội khi ban hành cần phải tính đến các nguyên tắc, tác nhân có thể xảy ra này.
4. Thay lời kết
Thực tế cho thấy, việc bảo tồn, phục dựng và tổ chức lễ hội với quy mô lớn, nhỏ trong những năm gần đây đã khơi dậy được sự tự hào, ý thức bảo tồn di sản của cộng đồng. Người dân luôn có tâm lý phấn khởi, háo hức mỗi dịp chuẩn bị lễ hội. Điều đó tạo nên sự thành công của các lễ hội, thể hiện sự đồng thuận giữa các ban ngành và người dân địa phương trong việc chuẩn bị và tổ chức lễ hội. Đây cũng là lợi thế của các địa phương, của lễ hội trong việc thu hút du khách và quảng bá rộng rãi lễ hội. Đó chính là nền tảng vững chắc để phát huy giá trị lễ hội, bởi không có môi trường nào bảo lưu, gìn giữ và phát triển tốt hơn chính môi trường đã sản sinh ra nó. Vì vậy, cộng đồng, các cấp chính quyền cần phải có sự đầu tư nâng cao hơn nữa chất lượng của các sản phẩm du lịch, nhằm thu hút khách du lịch trong và ngoài nước, tăng thu nhập cho người dân, đẩy mạnh phát triển kinh tế địa phương như: phát triển các mặt hàng nông sản của địa phương, các loại hình nghệ thuật dân gian, nghề thủ công truyền thống... Hầu hết người dân địa phương đều nhận thức được giá trị của lễ hội. Tuy nhiên, cần phải có những biện pháp tuyên truyền, giáo dục cách ứng xử, giao tiếp, nếp sống văn hóa cho người dân sở tại ở mọi lứa tuổi, mọi ngành nghề, đặc biệt là lớp trẻ - lứa tuổi dễ thay đổi theo những luồng văn hóa mới. Điều này tạo nên sự hài lòng của du khách khi đến với lễ hội. Bên cạnh đó, cần quan tâm đầu tư các dịch vụ văn hóa, nghệ thuật đương đại phục vụ cho giới trẻ, thu hút du khách ở mọi lứa tuổi. Điều này khẳng định sự nhạy bén trong công tác quản lý lễ hội, tiếp cận các giá trị văn hóa mới, hiện đại song song với việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống, bảo tồn bản sắc đồng hành cùng sự phát triển.
Có thể thấy, lễ hội ngày càng được biết đến rộng rãi trên khắp cả nước. Với những giá trị lịch sử, giá trị văn hóa, lễ hội sẽ ngày càng thu hút được du khách trong và ngoài nước. Đây là một tiền đề quan trọng của xu hướng biến đổi (chuyển đổi nhu cầu) sinh hoạt hoạt tín ngưỡng của cư dân trong thời gian tới. Vì vậy, cần phải có những giải pháp mang tính đồng bộ từ bộ máy quản lý, hành lang pháp lý đến những giải pháp về quản lý lễ hội (di sản văn hóa phi vật thể) trước những đòi hỏi của thực tế cuộc sống và một trong những giải pháp đó chính là đảm bảo những nguyên tắc bảo tồn, phục dựng và tổ chức lễ hội./.
TS, Vũ Diệu Trung
Viện Văn hóa Nghệ thuật, Thể thao và Du lịch Việt Nam
1.Đinh Gia Khánh (1989), Trên đường tìm hiểu văn hóa dân gian, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, tr.174.
2. Ngô Đức Thịnh (2007), Về tín ngưỡng và lễ hội cổ truyền, Nxb Văn hoá thông tin, Hà Nội, tr.324-325
3. Chính phủ (2018), Nghị định 110/2018/NĐ-CP ngày
29 tháng 8 năm 2018 Quy định về quản lý và tổ chức lễ hội, Điều 3.