Sau khi giành được độc lập, Đảng và Nhà nước đã luôn quan tâm đến vấn đề bảo tồn và phát huy những yếu tố tích cực trong văn hóa truyền thống của các dân tộc thiểu số. Bên cạnh việc thực hiện chủ trương, chính sách về bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa các dân tộc, việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa các dân tộc thiểu số còn gắn liền với việc phát triển sinh kế, xóa đói giảm nghèo cho các dân tộc thiểu số. Nhiều mô hình kinh tế gắn với việc khai thác các giá trị văn hóa truyền thống của các dân tộc đã giúp thu nhập của người dân ngày càng tăng, tạo nhiều việc làm cho đồng bào các dân tộc. Ngược lại, các mô hình kinh tế đã lưu giữ, khôi phục và phát huy nhiều giá trị văn hóa truyền thống. Vì vậy, chính sách bảo tồn và phát triển văn hóa các dân tộc luôn là một yếu tố quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội chung của đất nước.

     1. Khái niệm và mối quan hệ giữa bảo tồn văn hóa và phát triển sinh kế

     Hiểu theo nghĩa chung nhất thì bảo tồn văn hóa là giữ gìn, lưu lại những giá trị văn hóa. Giá trị văn hóa do con người ở mỗi xã hội nhất định sáng tạo ra trong quá trình lịch sử, nhưng một khi hệ giá trị văn hóa đã hình thành thì nó lại có vai trò định hướng cho các mục tiêu, phương thức và hành động của con người trong các xã hội ấy và vì vậy, nó cũng chính là vốn xã hội Tuy nhiên, quá trình phát triển sinh kế có thể gây ra những tác động tiêu cực đến phát triển văn hóa. Đó là một quá trình mâu thuẫn, xung đột và thỏa hiệp. Nó phụ thuộc vào sự hiểu biết, kiến thức, văn hóa và hành vi của từng cộng đồng. Do vậy, thách thức lớn đặt ra là là phải biết chấp nhận việc chia sẻ chi phí và lợi ích giữa các bên theo hệ quy chiếu về không gian và thời gian.

     Sinh kế là một khái niệm thường được hiểu và sử dụng theo nhiều cách khác nhau. Người đầu tiên sử dụng khái niệm này là Robert Champers vào năm 1983 với định nghĩa như sau: “Sinh kế gồm năng lực, tài sản, cách tiếp cận (sự dự trữ, tài nguyên, quyền sở hữu, quyền sử dụng) và các hoạt động cần thiết cho cuộc sống”(1). Khái niệm sinh kế tiếp tục được phát triển bởi Robert Chambers và Gordon Conway vào năm 1992 với quan điểm: “Sinh kế là hoạt động mà con người thực thi dựa trên tất cả các khả năng, các nguồn lực cần thiết để tồn tại cũng như để đạt được các mục tiêu sống của họ” và “Một sinh kế bền vững là một sinh kế có thể đối phó và phục hồi trước những sức ép và cú sốc, duy trì hoặc nâng cao năng lực, tài sản và cung cấp các cơ hội kiếm sống bền vững cho thế hệ tiếp theo, đóng góp lợi ích vào sinh kế của những người khác tại địa phương và trên toàn cầu trong ngắn hạn và dài hạn”(2).

     Hai khái niệm bảo tồn văn hóa và phát triển sinh kế tuy tương đối độc lập nhưng lại có mối quan hệ chặt chẽ, tác động qua lại với nhau trong quá trình phát triển. Bảo tồn văn hóa có vai trò quan trọng, là một trong những điều kiện quyết định đối với sự phát triển nói chung và phát triển bền vững nói riêng. Văn hóa tuy là động lực của sự phát triển nhưng cũng có thể là lực cản đối với sự phát triển của xã hội. Sinh kế của mỗi dân tộc có thể tác động tích cực đến sự phát triển và bảo tồn các giá trị văn hóa nếu sinh kế đó bền vững. Ngược lại, với một nền kinh tế nghèo nàn, lạc hậu và không bền vững thì tiềm ẩn nguy cơ văn hóa bị đồng hóa và xói mòn.

     Thông qua phát triển sinh kế, các giá trị văn hóa của dân tộc sẽ được duy trì và phát huy trong điều kiện của bối cảnh mới. Sự gắn kết cộng đồng, năng lực cộng đồng theo đó cũng thay đổi để phù hợp với điều kiện mới và hoàn cảnh mới. Do văn hóa có quá trình biến đổi liên tục nên việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống cũng đòi hỏi phải được huy động và phát triển cho phù hợp với quá trình chuyển đổi văn hóa. Phát triển bền vững sinh kế và xóa đói giảm nghèo cũng làm cho bản sắc văn hóa của cộng đồng các dân tộc thiểu số được thúc đẩy và khẳng định, đồng thời tạo ra nhiều giá trị văn hóa mới, làm cho bản sắc văn hóa các dân tộc ngày càng phong phú và đa dạng hơn. Do đó, việc giải quyết mối quan hệ giữa bảo tồn và phát huy truyền thống giá trị văn hóa của các dân tộc thiểu số với phát triển sinh kế bền vững và giảm nghèo đa chiều phải được kết hợp đồng thời, nếu chỉ tập trung vào một trong hai thì sẽ không có lợi cho phát triển kinh tế - xã hội. Trong mối quan hệ này, việc bảo tồn hệ thống giá trị văn hóa dân tộc là yếu tố quyết định và là cơ sở vững chắc cho phát triển sinh kế hiệu quả và ngược lại, việc chủ động, tích cực phát triển sinh kế, giảm nghèo đa chiều sẽ phát huy được lợi thế tiềm tàng của các dân tộc thiểu số, tranh thủ được các điều kiện mới để phát triển.

     Như vậy, mối quan hệ tương hỗ giữa bảo tồn văn hóa và phát triển sinh kế là những mối quan hệ biện chứng cần được nhìn nhận một cách khách quan, toàn diện để xây dựng định hướng khai thác hiệu quả các giá trị văn hóa phục vụ phát triển kinh tế - xã hội và xây dựng chính sách phù hợp kết hợp với các mô hình kinh doanh mới, mô hình sản xuất mới có những đóng góp tích cực, có trách nhiệm nhất vào việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa dân tộc.

     2. Một số đặc điểm địa bàn nghiên cứu

     Khu vực biên giới tỉnh Nghệ An có đường biên giới trên bộ dài 468,281km, tiếp giáp với ba tỉnh Hủa Phăn, Xiêng Khoảng và Bôlykhămxay của nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào. Khu vực biên giới gồm 47 dân tộc thiểu số với 05 dân tộc thiểu số chiếm tỷ lệ cao là Thái, Thổ, Khơ Mú, Mông, Ơ Đu(3). Đây là địa bàn có vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng về kinh tế xã hội, quốc phòng an ninh và môi trường sinh thái của nước ta. Nơi đây có nhiều tiềm năng lớn về tài nguyên đất đai để trồng cây công nghiệp, lâm nghiệp, dược liệu, chăn nuôi đại gia súc, gia cầm, khai thác khoáng sản và phát triển thương mại, du lịch sinh thái gắn liền với bảo tồn, gìn giữ, phát huy bản sắc văn hóa các dân tộc thiểu số tỉnh Nghệ An.

     Khu vực biên giới tỉnh Nghệ An đã hình thành hai khu vực khá rõ nét là miền núi Tây Bắc (gồm các huyện dọc theo Quốc lộ 48) và miền núi Tây Nam (gồm các huyện dọc theo Quốc lộ 7). Sự phân chia này do quá trình hình thành, phát triển văn hóa, con người Nghệ An có nhiều biến động lịch sử. Giữa hai khu vực có những yếu tố tự nhiên, kinh tế, văn hóa, xã hội tương đối khác nhau và hình thành các điểm về phân bổ dân tộc, gắn với các địa danh, như: Kim Sơn (Quế Phong), Chiềng Ngam (Quỳ Châu), Khủn Tinh (Quỳ Hợp), Mường Quạ (Con Cuông), Mường Lăm (Tương Dương), Mường Lống (Kỳ Sơn)… Sự phân vùng tương đối về địa lý cùng với các đặc trưng văn hóa, lịch sử, con người đã tạo nên sự phong phú, đa dạng, nhiều màu sắc trong đời sống văn hóa vùng dân tộc miền núi ở Nghệ An.

     Quá trình hình thành của các tộc người ở Nghệ An đa dạng thể hiện là một số tộc người có thể có nhiều nhóm cư dân khác nhau, nhưng sinh sống hòa hợp. Hiện tượng song ngữ, đa ngữ tức là một người có thể nói 2, 3 thứ tiếng khá phổ biến, trong đó tiếng Thái được xem là “tiếng phổ thông” đối với các dân tộc thiểu số nơi đây. Quan hệ giữa các dân tộc hình thành tự nhiên và bền vững, tạo ra sự gắn bó, đoàn kết chặt chẽ giữa cộng đồng dân cư ở địa phương miền núi.

     Trình độ phát triển, nhận thức giữa các dân tộc còn có sự chênh lệch do điều kiện tự nhiên và xã hội, nhất là các yếu tố tác động đến sản xuất và đời sống. Vì vậy, trình độ phát triển và nhận thức giữa các dân tộc, giữa các nhóm trong một dân tộc và giữa các vùng miền còn có khoảng cách chênh lệch thể hiện ở trình độ sản xuất, nhận thức tự nhiên và xã hội, phong tục tập quán, các nghi lễ cưới hỏi, ma chay, làm nhà mới...

     Các dân tộc thiểu số ở Nghệ An có mối quan hệ gắn bó mật thiết với các dân tộc thiểu số tại vùng biên giới nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào do quá trình hình thành tộc người và đấu tranh chống kẻ thù chung của hai dân tộc Việt Nam - Lào được hình thành qua biên giới. Hầu hết các dân tộc (Thái, Mông, Khơ Mú, Ơ Đu) sống khu vực phía Tây tỉnh Nghệ An đều có quan hệ anh em, dòng tộc với một số đồng tộc ở bên kia biên giới của nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào. Trên tuyến biên giới 27 xã, có hơn 9.000 hộ và hơn 6 vạn dân là đồng bào dân tộc thiểu số đã từng là hậu cứ của các lực lượng cách mạng Lào và hiện nay họ lại đang trực tiếp giúp đỡ nhau trong sản xuất, đời sống. Từ đó, quan hệ họ tộc qua lại thăm thân nhân, dựng vợ gả chồng cho nhau, góp phần xây dựng, bảo vệ để đường biên giới Việt - Lào trên địa bàn Nghệ An đã giúp nơi đây trở thành đường biên hữu nghị đặc biệt.

     3. Thực trạng công tác bảo tồn giá trị văn hóa gắn với phát triển sinh kế của các dân tộc vùng biên giới ở phía Tây tỉnh Nghệ An

     Thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa các dân tộc theo Nghị quyết số 24 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng(4), công tác bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa các dân tộc gắn với phát triển sinh kế đã có những kết quả tích cực. Đồng bào các dân tộc vùng biên giới tỉnh Nghệ An hiện lưu giữ nhiều giá trị văn hoá truyền thống có thể phát huy trong quá trình phát triển kinh tế, xã hội. Việc tiếp cận đưa các giá trị văn hoá truyền thống vào phát triển sinh kế giúp đồng bào các dân tộc vùng biên giới tỉnh Nghệ An có sự thay đổi phù hợp với bối cảnh và nguồn lực văn hoá của các cộng đồng nơi đây.

     Tri thức của các dân tộc vùng biên giới tỉnh Nghệ An đã phát huy giá trị trong thực tiễn cuộc sống. Quá trình sinh tồn đã giúp các cộng đồng các dân tộc vùng biên giới Việt - Lào tích lũy và học hỏi được nhiều kiến thức, kinh nghiệm quý báu trong hoạt động sinh kế, làm phong phú thêm bản sắc văn hóa cộng đồng dân tộc. Nhiều tri thức bản địa có ảnh hưởng tích cực và đang được vận dụng vào hoạt động sinh kế của đồng bào các dân tộc thiểu số như: Vốn tri thức bản địa được đồng bào dân tộc Thái, Thổ, Mông, Khơ Mú, tích lũy, học hỏi qua thời gian hình thành nên vốn văn hoá góp phần cho hoạt động mưu sinh. Nhiều tri thức bản địa có ảnh hưởng tích cực và đang được sử dụng trong hoạt động sinh kế của các dân tộc vùng biên giới tỉnh Nghệ An như: Tri thức trong nghề thủ công (sử dụng kỹ thuật đan cài, hoa văn, kỹ thuật nhuộm, chế biến sợi để tạo nên sản phẩm đan lát, dệt), tri thức trong nông nghiệp, lâm nghiệp (sử dụng kiến thức nông lịch, ý thức bảo vệ rừng đầu nguồn, bảo vệ nguồn nước, kỹ thuật đa canh, xen canh, đa dạng sinh học…), tri thức ẩm thực (sử dụng nguyên liệu, kỹ thuật chế biến, câu chuyện về văn hoá để chế biến các món ăn đặc trưng của dân tộc mình), tri thức dân ca, dân vũ (làn điệu múa, hát trong sinh hoạt cộng đồng, trong hoạt động quảng bá, trong mô hình du lịch)….

     Ngoài ra, vốn tri thức của các dân tộc vùng biên giới tỉnh Nghệ An có vai trò trong việc duy trì sự đa dạng sinh học thể hiện qua những tín ngưỡng của cộng đồng các dân tộc nơi đây để bảo vệ rừng, duy trì đa dạng sinh học. Ngoài ra, sự hợp tác của các nhà khoa học cộng đồng với các dân tộc vùng biên giới tỉnh Nghệ An đã tạo ra những giống cây con mới. Ngược lại, các dân tộc vùng biên giới tỉnh Nghệ An cũng đã biết sử dụng vốn văn hoá tri thức bản địa từ nông nghiệp truyền thống như sử dụng kỹ thuật chọn giống, cách chăm sóc các giống cây bản địa, phương pháp thu hoạch để tạo nên những sản phẩm đặc trưng của cộng đồng các dân tộc nơi đây, ví dụ như sản phẩm gừng, gà, dưa leo… (dân tộc Mông, Kỳ Sơn), nếp nương, xoài bản địa, rau củ quả của người Thái… Ngoài ra các dân tộc vùng biên giới tỉnh Nghệ An còn sử dụng vốn văn hoá truyền thống để bảo vệ bền vững tài nguyên thiên nhiên, nông nghiệp sinh thái, nông lâm kết hợp, luân canh cây trồng, quản lý sâu hại, đất đai và nhiều kiến thức khác về khoa học nông nghiệp.

     Trên cơ sở vốn văn hóa truyền thống các dân tộc vùng biên giới tỉnh Nghệ An đã hình thành mô hình phát triển sinh kế gắn với bảo tồn văn hóa và mang lại hiệu quả kinh tế cao là mô hình phát triển du lịch cộng đồng. Các dân tộc vùng biên giới tỉnh Nghệ An đã lấy văn hóa dân tộc làm nền tảng, kim chỉ nam để tạo thế mạnh, sản phẩm du lịch, gắn kết khai thác du lịch với bảo tồn văn hóa để thu hút khách du lịch. Mô hình du lịch cộng đồng, du lịch homestay đã hình thành và phát triển ở nhiều địa phương các dân tộc vùng biên giới tỉnh Nghệ An. Các địa phương như Con Cuông, Tương Dương, Kỳ Sơn, Quế Phong đã đem yếu tố văn hoá bản địa của dân tộc Thái, dân tộc Mông vào mô hình phát triển du lịch cộng đồng. Thông qua mô hình du lịch để bảo tồn phát huy giá trị văn hoá của cộng đồng dân tộc mình. Đồng bào dân tộc Thái (Con Cuông, Tương Dương, Quế Phong), đồng bào dân tộc Mông (Kỳ Sơn) đã đưa văn hoá bản địa để tạo đặc trưng riêng trong xây dựng các sản phẩm du lịch thu hút khách du lịch. Ngoài ra mô hình du lịch cộng đồng giúp nâng cao thu nhập, tạo công ăn việc làm giải quyết nguồn lao động dư thừa. Từ việc giải quyết nguồn lao động dư thừa còn góp phần nâng cao thu nhập làm thay đổi cơ cấu, nâng cao trình độ lao động, góp phần hạn chế dòng di cư của các dân tộc vùng biên giới tỉnh Nghệ An từ khu vực nông thôn miền núi ra khu vực thành thị, đảm bảo cho phát triển bền vững tỉnh Nghệ An. Mặt khác thông qua hoạt động du lịch trải nghiệm, du lịch cộng đồng du khách tham gia vào hoạt động lễ hội, văn hóa dân gian, cùng người dân sản xuất các sản phẩm thủ công truyền thống, tìm hiểu kiến trúc nghệ thuật, di sản của đồng bào mình và thưởng thức các đặc sản ẩm thực truyền thống.

     Bên cạnh đó thì công tác bảo tồn giá trị văn hóa còn gắn với hoạt động sinh kế của các làng nghề truyền thống. Đồng bào dân tộc Thái đã khai thác hiệu quả nắm bắt được xu thế và nhu cầu thị trường khi hướng đến các sản phẩm bản địa để sử dụng hoa văn, nguyên liệu từ sợi tơ tằm, sợi bông, áp dụng kỹ thuật nhuộm truyền thống bằng các nguyên liệu tự nhiên. Đặc biệt để tăng giá thành sản phẩm đồng bào Thái ở Quỳ Châu đã biết đa dạng hoá sản phẩm từ chiếc áo, khăn truyền thống thành sản phẩm thời trang hiện đại, đa dạng hoá chăn, ga, gối đệm, trên ghế sofa. Sản phẩm dệt của hợp tác xã thổ cẩm Châu Tiến đã được đưa ra thị trường quốc tế ở các nước Châu Âu, đặc biệt tham gia triển lãm Quốc tế Maison và Objet 2023, đây là một sự kiện thường niên nổi tiếng hàng đầu trên thế giới về phong cách sống, thiết kế nội thất và các vật dụng trang trí nhà ở diễn ra từ ngày 7 đến 11 tháng 9 năm 2023 tại Trung tâm Triển lãm Paris Villepinte Pháp. Ngoài ra, đồng bào dân tộc Mông (Kỳ Sơn) đã sử dụng hoạ tiết hoa văn bản địa, dệt nguyên liệu tự nhiên, sử dụng kỹ thuật sáp ong tạo sản phẩm độc đáo mang đậm nét văn hoá của người Mông Kỳ Sơn Nghệ An tạo thành sản phẩm hàng hoá, đáp ứng nhu cầu thị trường trong và ngoài nước…. Dân tộc Thái và dân tộc Mông, dân tộc Thổ, dân tộc Khơ Mú đã sử dụng tri thức truyền thống trong đan lát của dân tộc mình để tạo ra các sản phẩm đan lát phục vụ cho nhu cầu cuộc sống và một số sản phẩm đã được đưa vào làm hàng hoá phục vụ du khách và thị trường trong nước. Ngoài ra các dân tộc vùng biên giới tỉnh Nghệ An đã thông qua nghề truyền thống của cộng đồng dân tộc mình để phục vụ khách tham quan du lịch như: Nghề rèn, kỹ thuật vẽ sáp ong (dân tộc Mông) nghề dệt dệt thổ cẩm của dân tộc (dân tộc Mông, Thái) nhằm thu hút khách đến các làng bản để có cơ hội tìm hiểu giá trị văn hóa bản địa.

     Tóm lại, nhiều giá trị văn hóa của các dân tộc vùng biên giới tỉnh Nghệ An đã trở thành nhân tố quan trọng trong phát triển kinh tế, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho người dân. Đặc biệt, gắn kết các mô hình phát triển sinh kế với bảo tồn văn hóa đã góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế, xã hội của địa phương theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, nâng cao mức sống, thu nhập cho cộng đồng và thúc đẩy các ngành nghề, dịch vụ khác của địa phương phát triển.

     Tuy nhiên, bên cạnh mặt tích cực thì trong quá trình phát triển sinh kế của các dân tộc vùng biên giới ở tỉnh Nghệ An cũng đang gây ra những tác động tiêu cực đến phát triển bền vững văn hóa.

     Vấn đề bảo tồn và phát huy các giá trị văn hoá truyền thống của các dân tộc vùng biên giới tỉnh Nghệ An theo hướng sinh kế bền vững mang tính nhỏ lẻ còn là những mảnh ghép thiếu tính chuyên nghiệp và tính đồng bộ. Việc lựa chọn và xác định yếu tố then chốt trong văn hoá cho từng lĩnh vực để đảm bảo hiệu quả và phát huy bền vững để vừa tạo sinh kế bền vững vừa bảo tồn văn hoá và quảng bá các giá trị đặc trưng văn hoá đồng bào các dân tộc vùng biên giới tỉnh Nghệ An đến với bạn bè quốc tế còn nhiều hạn chế.

     Ngoài ra, mặc dù các nhà quản lý tại các địa phương đã nhìn thấy rõ vai trò của vấn đề văn hoá trong sinh kế bền vững, nhưng còn nhiều lúng túng khi thực hiện. Quy trình và cách làm thiếu kiểm chứng, thiếu nghiên cứu đặc thù và tham vấn các nhà khoa học và chuyên gia. Có thể nói hiện nay chưa có chiến lược riêng và cụ thể cho lĩnh vực bảo tồn và phát huy văn hoá theo hướng sinh kế bền vững cho các dân tộc vùng biên giới tỉnh Nghệ An. Đặc biệt là thiếu nguồn nhân lực chất lượng cao về văn hoá ứng dụng. Quy trình thực hiện đối với mô hình, sản phẩm khai thác giá trị văn hoá chưa khoa học, thiếu tính chuyên nghiệp và chưa phù hợp với thực tiễn địa phương và nhu cầu thị trường.

     Các mô hình du lịch khi xây dựng chưa nghiên cứu sâu yếu tố đặc trưng trong văn hoá của đồng bào các dân tộc vùng biên giới tỉnh Nghệ An cũng như nhu cầu của du khách quốc tế, đồng thời chưa có phương pháp marketting phù hợp nên chưa thu hút nhiều khách du lịch đến với khu vực biên giới tỉnh Nghệ An.

     Các sản phẩm thủ công truyền thống dệt, đan lát có nhiều tiềm năng để khai thác theo hướng đa dạng hoá sản phẩm phù hợp với nhu cầu thị trường trong nước và quốc tế chưa được quan tâm nhiều, hiện đang dừng lại ở mô hình gia đình, chưa được lan toả nhiều trong cộng đồng. Các sản phẩm nông nghiệp hiện chưa quảng bá được yếu tố đặc trưng văn hoá bản địa trong sản phẩm truyền thống.

     Khi phát triển hoạt động sinh kế gắn với du lịch sẽ có những tác động trực tiếp tới đời sống cộng đồng tại điểm đến. Sự xuất hiện của khách du lịch trong nước đến từ những địa phương khác hay khách du lịch nước ngoài sẽ dẫn tới sự giao thoa trong văn hóa. Các dân tộc vùng biên giới tỉnh Nghệ An đã tiếp thu một cách chọn lọc các thực hành văn hóa từ bên ngoài, góp phần làm cho văn hóa của cộng đồng các dân tộc khu vực này thêm phong phú và đa dạng. Tuy nhiên, sự giao thoa văn hóa đã khiến một số giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc bị lấn át, mai một hay mất đi những giá trị truyền thống của dân tộc mình.

     4. Quan điểm và giải pháp để bảo tồn giá trị văn hóa gắn với phát triển sinh kế bền vững

     4.1. Quan điểm

     Thứ nhất, chính sách văn hóa về bảo tồn văn hóa các dân tộc thiểu số phải được đặt trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, trong hệ thống chính sách chung đối với các dân tộc thiểu số, vùng dân tộc thiểu số và miền núi, trong bối cảnh cách mạng Công nghiệp 4.0 và hội nhập quốc tế.

     Thứ hai, văn hóa dân tộc là bộ phận quan trọng, đặc trưng của văn hóa Việt Nam nên cần được bảo tồn và phát triển bằng hệ thống chính sách phù hợp, dựa trên đặc điểm kinh tế - xã hội vùng miền và đặc điểm tâm lý của từng cộng đồng cụ thể.

     Thứ ba, mối quan hệ giữa kinh tế và văn hóa trong phát triển là mối quan hệ biện chứng sâu sắc, do đó phải có sự định hướng toàn diện trong các văn bản pháp luật để bảo tồn và phát triển văn hóa, du lịch, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực vùng dân tộc thiểu số và miền núi trong quá trình phát triển và hội nhập chung của đất nước.

     4.2. Một số giải pháp

     Nhận thức rõ mối quan hệ giữa kinh tế và văn hóa trong phát triển để có định hướng toàn diện giữa cấp ngành, địa phương về vấn đề bảo tồn văn hóa các dân tộc vùng biên giới tỉnh Nghệ An trong phát triển sinh kế bền vững. Từ đó để xây dựng cho khu vực này một chiến lược riêng và cụ thể về bảo tồn và phát huy các giá trị văn hoá theo hướng sinh kế bền vững.

     Thứ nhất, trước khi xây dựng khai thác các yếu tố văn hoá vào phát triển sinh kế cần nghiên cứu các yếu tố nhu cầu thị trường, khả năng phát huy trong nội lực cộng đồng phù hợp với thực tiễn địa phương và nhu cầu thị trường cụ thể như sau:

     - Đối với sản phẩm thủ công truyền thống trước khi đa dạng cần có khảo sát chuyên sâu, lựa chọn yếu tố văn hoá bản địa trên sản phẩm truyền thống và tham vấn ý kiến cộng đồng; sau đó thiết kế sản phẩm tiến hành tham vấn nhu cầu thị trường trong nước và thị trường quốc tế, phân loại nhu cầu khách hàng, thị trường nhà đầu tư hướng tới, cuối cùng tập huấn cho đồng bào để sản xuất sản phẩm.

     - Đối với các mô hình du lịch: Khai thác tri thức tại chỗ vào xây dựng mô hình cần lựa chọn các yếu tố văn hoá đặc trưng trong ẩm thực, dân ca, dân vũ, sản phẩm đặc thù địa phương để đưa vào mô hình du lịch. Xây dựng các câu chuyện về văn hoá của đồng bào để giới thiệu cho du khách. Hướng ứng dụng khoa học công nghệ vào phát triển du lịch cộng đồng gắn với nông nghiệp, nông thôn, với mô hình văn hoá du lịch “Phát triển du lịch cộng đồng gắn với Metaverse”. Metaverse là công nghệ trải nghiệm du lịch ảo một cách chân thực trong không gian 3D mà không cần phải trực tiếp có mặt tại điểm du lịch, bằng cách cách sử dụng cộng nghệ số xây dựng không gian du lịch ảo tại các điểm du lịch giúp người dùng trải nghiệm điểm du lịch trước khi đến điểm du lịch thật.

     - Đẩy mạnh khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo trong lĩnh vực bảo tồn phát huy văn hoá theo hướng sinh kế bền vững. Mặt khác, phối hợp nghiên cứu, tư vấn, đào tạo cho địa phương về ứng dụng các giá trị văn hoá vào phát triển sinh kế bền vững gắn với chuyển đổi số quốc gia và ứng dụng các giải pháp công nghệ 4.0. Triển khai các hoạt động hỗ trợ hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo phù hợp với điều kiện và tình hình thực tiễn khu vực biên giới tỉnh Nghệ An. Ứng dụng các nền tảng công nghệ kết hợp với việc thực hiện các đề án, dự án, kế hoạch... phát triển mô hình du lịch văn hoá, sản phẩm văn hoá cộng đồng xanh, bền vững, hiệu quả.

     Thứ hai, văn hóa là lĩnh vực rất rộng nên việc bảo tồn và phát huy cần tập trung vào những giá trị độc đáo của tộc người để tránh đầu tư dàn trải, không đúng trọng tâm. Nếu không có những khuyến nghị giải pháp cụ thể nhằm bảo tồn văn hóa của các dân tộc vùng biên giới tỉnh Nghệ An sẽ dẫn đến nguy cơ tổn thất về sự đa dạng văn hóa tộc người. Do đó, giải pháp quan trọng là cần chỉ rõ làm thế nào để người dân có thể tiếp cận các nguồn lực từ những chương trình văn hóa.

     Các dân tộc vùng biên giới tỉnh Nghệ An là địa bàn gặp nhiều khó khăn về điều kiện, khả năng phát triển kinh tế, xã hội, nhưng lại là tuyến đầu trọng yếu bảo vệ quốc gia, giữ vừng chú quyền thiêng liêng của tố quốc. Do vậy, cần xác định mức độ ưu tiên hỗ trợ cao nhất về mọi mặt để tạo điều kiện thuận lợi nhất cho những địa phương này phát triển nhanh, bền vững cùng đất nước.

     Chú trọng khôi phục phát triển các nghề thủ công truyền thống để có sản phẩm phục vụ nhu cầu tiêu dùng của người dân địa phương, đồng thời đáp ứng mục tiêu tạo ra sản phẩm hàng hóa giới thiệu và bán cho du khách. Đầu tư cho một số hộ gia đình có truyền thống làm nghề thủ công và ở những địa phương có tiềm năng, cần thành lập Hợp tác xã thủ công như: trồng nguyên vật liệu và dệt vải, thêu hoa văn; đan lát; làm ngói máng và đồ gốm mỹ nghệ…

     Cần nhân rộng mô hình du lịch cộng đồng nhằm xây dựng các sản phẩm văn hóa hấp dẫn, đáp ứng thị hiếu của du khách. Xét về phát triển kinh tế, việc tổ chức du lịch cộng đồng bước đầu đã làm thay đổi diện mạo của thôn bản các dân tộc vùng biên giới tỉnh Nghệ An. Tại đây, các sản phẩm của nghề thủ công, ẩm thực, âm nhạc dân vũ truyền thống đều có thể trở thành những sản phẩm kinh tế, tạo thêm công ăn việc làm và thu nhập cho người dân, làm thay đổi nhận thức về việc giữ gìn các giá trị văn hóa truyền thống.

     Thứ ba, nâng cao vai trò quản lý của Nhà nước như: đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động người dân tham gia vào công tác bảo vệ di sản văn hóa gắn với xây dựng đời sống văn hóa, ngoài ra, cần có chính sách, chế độ thích đáng cho các nghệ nhân, các cá nhân và gia đình có công trong việc giữ gìn tài sản văn hóa của dân tộc. Để thực hiện các giải pháp này cần chú trọng nguyên tắc “bảo tồn sống” tức là bảo tồn các di sản văn hóa ngay chính trong đời sống của cộng đồng. Ngoài ra, cần có chính sách đào tạo nguồn nhân lực là các cán bộ người dân tộc để sau khi tốt nghiệp ra trường họ được về phục vụ chính đồng bào dân tộc mình. Việc tăng cường, đẩy mạnh việc ứng dụng các thành tựu khoa học kỹ thuật, giao lưu, họp tác với các địa phương trong và ngoài nước trong hoạt động bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa dân tộc cũng đặt được chú trọng.

     Kết luận

     Quá trình phát triển sinh kế của các dân tộc vùng biên giới tỉnh Nghệ An đã và sẽ dẫn đến các biến đổi về văn hóa. Trước đây, tính cộng đồng, sự sẻ chia luôn được coi là một văn hóa ứng xử đáng trân trọng, nhưng trong cơ chế thị trường hiện nay, tinh thần đó đã thay đổi, ít nhiều ảnh hưởng đến các nguồn lực cộng đồng trong hỗ trợ sinh kế. Mọi hoạt động văn hóa của các dân tộc vùng biên giới tỉnh Nghệ An đều gắn chặt với các nghi lễ nghiêm ngặt trong các hoạt động tôn giáo, lễ hội, nhưng hiện nay các nghi lễ nông nghiệp truyền thống đang dần mai một, không còn giữ được bản sắc ban đầu. Tương tự như vậy trong văn hóa vật chất, khi phương thức sinh kế thay đổi, thái độ với môi trường cũng thay đổi, kéo theo một loạt các thay đổi về ẩm thực, trang phục, nhà cửa…

     Đây là một trong nhiều vấn đề cần được quan tâm khi xem xét sự biến đổi văn hóa từ sự biến đổi sinh kế. Thực tế, nền kinh tế phải phát triển trên cơ sở tôn trọng các giá trị văn hóa vì văn hóa nếu được phát huy sẽ là nguồn phát triển sinh kế. Do đó, cần triển khai đồng thời nhiều chủ trương, giải pháp để tăng cường mối liên kết giữa bảo tồn văn hóa truyền thống với phát triển sinh kế, giảm nghèo đa chiều và bền vững cho các dân tộc vùng biên giới tỉnh Nghệ An hiện nay./.

Hoàng Thị Thu Hằng

Th.S, Viện Nghiên cứu Văn hóa, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam

Hoàng Văn Chung

TS, Viện Nghiên cứu Tôn giáo, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam

---------------------------------------------------------

* Bài viết là sản phẩm của Đề tài NCKH cấp bộ: “Phát triển bền vững vùng biên giới đất liền ở Việt Nam phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội và đảm bảo an ninh, chính trị”, thuộc Chương trình trọng điểm cấp bộ: “Nghiên cứu tổng thể vùng biên giới đất liền ở Việt Nam góp phần phát triển kinh tế - xã hội và đảm bảo an ninh, chính trị trong điều kiện hiện nay” do Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam chủ trì.

1. Dẫn theo Nguyễn Đăng Hiệp Phố, Tiếp cận lý thuyết khung sinh kế bền vững DFID trong nghiên cứu sinh kế của người Mạ ở vườn quốc gia Cát Tiên, Tạp chí Khoa học, Đại học Đồng Nai, số 02-2016, tr.101

2. Chambers, R., Conway, G., Sustainable Rural Livelihoods: Practical concepts for the 21st Century. IDS Discussion Paper 296, IDS, Brighton, UK, 1992, tr.5

3. Bùi Minh Thuận, Culture of Ethic Minorities in the West of Nghe An in the Current Context, Vinh University Journal of Science, Vol. 52, No. 3B/2023, tr.69

4. Nghị quyết số 24-NQ/TW ngày 12/3/2003, Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá IX) về công tác dân tộc.