1. Thắng lợi của nhân dân ta trong sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước 50 năm qua (30/4/1975), mãi mãi sẽ được ghi vào lịch sử dân tộc ta như một trong những trang chói lọi nhất về chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa anh hùng cách mạng; đi vào lịch sử thế giới như một chiến công vĩ đại nhất của thế kỷ XX, một sự kiện có tầm quan trọng quốc tế to lớn và có tính thời đại sâu sắc. Đóng góp chung vào sự toàn thắng của cách mạng Việt Nam, có đóng góp của nền văn học, nghệ thuật xã hội chủ nghĩa. Văn kiện Đại hội lần thứ IV của Đảng (1976) đánh giá: “Mấy chục năm qua, về cơ bản chúng ta đã xây dựng được một nền văn học, nghệ thuật xã hội chủ nghĩa bao gồm các ngành: văn học, sân khấu, điện ảnh, mỹ thuật, âm nhạc, múa, xiếc, kiến trúc... mang bản sắc dân tộc khá phong phú, tác động khá sâu sắc vào đời sống tinh thần và tình cảm của nhân dân. Với những thành tựu đã đạt được chủ yếu trong việc phản ánh hai cuộc kháng chiến vĩ đại của dân tộc, văn học, nghệ thuật nước ta xứng đáng đứng vào hàng ngũ tiên phong của những nền văn học, nghệ thuật chống đế quốc trong thời đại ngày nay”(1). Văn kiện cũng chỉ rõ: “Cách mạng cả nước đang đặt ra những vấn đề mới, cuộc sống đang có những đòi hỏi mới đối với văn học, nghệ thuật. Nền văn học, nghệ thuật xã hội chủ nghĩa của ta cần ra sức phấn đấu nhằm sáng tạo những hình tượng nghệ thuật cao đẹp và phong phú về xã hội mới và con người mới (…). Phản ánh trong văn học, nghệ thuật cuộc đấu tranh vì thắng lợi hoàn toàn của chủ nghĩa xã hội, đó là nhiệm vụ vẻ vang của nền văn nghệ xã hội chủ nghĩa, là trách nhiệm cao quý của văn nghệ sĩ xã hội chủ nghĩa nước ta. Văn nghệ của ta không chỉ ca ngợi những con người mới, những việc làm tốt đẹp trong xã hội, mà còn phê phán nghiêm khắc và có hệ thống những hiện tượng tiêu cực trong đời sống, những tàn dư của xã hội cũ, những di hại của “văn hoá” thực dân cũ và mới. Cần đứng trên lập trường cách mạng và dùng phương pháp hiện thực xã hội chủ nghĩa để vạch đúng nguồn gốc của cái xấu, đề ra cách giải quyết, cuối cùng đạt mục đích khẳng định cái tốt, bồi đắp thêm lòng tin tuyệt đối vào chủ nghĩa xã hội (…). Đảng ta khuyến khích văn nghệ sĩ tìm tòi và khám phá cái mới, đồng thời cũng đòi hỏi anh chị em có ý thức đầy đủ về sứ mạng cao cả của mình, kiên định lập trường xã hội chủ nghĩa trong sáng tạo nghệ thuật, trong cuộc đấu tranh bảo vệ đường lối văn nghệ cách mạng, chống mọi khuynh hướng tư sản và cơ hội chủ nghĩa trong văn nghệ, chống ảnh hưởng tai hại của văn nghệ hiện đại chủ nghĩa, chống các bệnh công thức, sơ lược, tự nhiên chủ nghĩa, góp phần xứng đáng vào thắng lợi chung của sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa ở nước ta”(2).
Văn kiện Đại hội lần thứ V của Đảng (1982) xác định “Văn nghệ là một lĩnh vực rất quan trọng và rất phức tạp của văn hoá và của đời sống xã hội. Đảng phải tăng cường sự lãnh đạo đối với lĩnh vực này, đồng thời cải tiến sự lãnh đạo cho phù hợp với tính đặc thù của nó. Đảng tin tưởng và đánh giá cao sự cống hiến của anh chị em văn nghệ sĩ, luôn luôn mong mỏi trên đất nước ta xuất hiện nhiều tài năng sáng tạo, nhiều sản phẩm văn nghệ có giá trị cao về tính tư tưởng và trình độ nghệ thuật, xứng đáng với đất nước nghìn năm văn hiến và dân tộc anh hùng. Đảng khuyến khích mọi tìm tòi, sáng tạo, khuyến khích sự phát triển của phong cách và tài năng nghệ thuật. Đồng thời Đảng yêu cầu văn nghệ sĩ nắm vững phương pháp hiện thực xã hội chủ nghĩa, nêu cao tính đảng và trách nhiệm của người chiến sĩ trên mặt trận văn hoá, tư tưởng trong giai đoạn mới của cách mạng, phục vụ đắc lực hơn nữa lợi ích của nhân dân, góp phần xứng đáng vào sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc”(3). Các Văn kiện Đại hội IV, Đại hội V của Đảng đã khẳng định nền văn học, nghệ thuật xã hội chủ nghĩa mà chúng ta xây dựng cần “kiên định lập trường xã hội chủ nghĩa trong sáng tạo nghệ thuật”, đề cao nguyên tắc tính đảng và phương pháp sáng tác hiện thực xã hội chủ nghĩa; coi trọng phản ánh xã hội mới, cuộc sống mới, con người mới, tinh thần “làm chủ tập thể”, kiên quyết đấu tranh “chống mọi khuynh hướng tư sản và cơ hội chủ nghĩa trong văn nghệ, chống ảnh hưởng tai hại của văn nghệ hiện đại chủ nghĩa, chống các bệnh công thức, sơ lược, tự nhiên chủ nghĩa” trong văn nghệ....
2. Đại hội lần thứ VI của Đảng (12/1986) đã mở ra công cuộc Đổi mới làm thay đổi các mặt của đời sống xã hội, trong đó có đời sống văn học, nghệ thuật nước ta. Đảng ta đã có sự đổi mới sâu sắc và toàn diện tư duy kinh tế và tư duy lý luận về văn hóa, văn học nghệ thuật, về lãnh đạo và quản lý văn hóa, văn học nghệ thuật. Về vị trí vai trò của văn học, nghệ thuật, Văn kiện Đại hội VI khẳng định: “Không hình thái tư tưởng nào có thể thay thế được văn học và nghệ thuật trong việc xây dựng tình cảm lành mạnh, tác động sâu sắc vào việc đổi mới nếp nghĩ, nếp sống của con người (...). Đảng yêu cầu các văn nghệ sĩ thường xuyên trau dồi ý thức trách nhiệm của công dân, chiến sĩ, thực hiện chức trách cao quý: tạo nên những giá trị tinh thần, bồi dưỡng tâm hồn và tình cảm, xây dựng nhân cách và bản lĩnh của các thế hệ công dân, xây dựng môi trường đạo đức trong xã hội”(4). Với nhận thức và quan niệm như vậy, hoạt động văn học, nghệ thuật không thể lẫn lộn, càng không thể đồng nhất với bất cứ hoạt động xã hội hoặc hình thái ý thức nào. Tính độc lập tương đối, vị trí không thể thay thế được của văn học và nghệ thuật được xác định rõ. Phát triển tư tưởng của V.I.Lênin về chính sách đối với đội ngũ trí thức và các tài năng, Văn kiện Đại hội lần thứ VI của Đảng nhấn mạnh: “Đối với trí thức, điều quan trọng nhất là bảo đảm quyền tự do sáng tạo, đánh giá đúng năng lực và tạo điều kiện cho năng lực được sử dụng đúng và phát triển”(5).
Như vậy, với Đại hội VI, công cuộc đổi mới tư duy nói chung và đổi mới tư duy trên lĩnh vực văn hóa, văn nghệ nói riêng của Đảng ta đã được bắt đầu. Nhưng trong khuôn khổ của một Đại hội Đảng, lĩnh vực văn hóa, văn nghệ cũng chỉ mới được đề cập ở khía cạnh những quan điểm và phương hướng cơ bản. Những quan điểm và phương hướng đó là nền tảng cho nội dung toàn diện về văn hóa, văn nghệ sau này, được thể hiện rõ trong Nghị quyết số 05 của Bộ Chính trị khóa VI (NQ05) được ban hành năm 1987. NQ05 thực sự là một cột mốc lớn trong đổi mới tư duy lý luận về văn hóa, văn nghệ, đổi mới sự lãnh đạo và quản lý hoạt động văn hóa, văn nghệ của Đảng ta.
Điểm mới đầu tiên của NQ05 là cách tiếp cận mới, đúng đắn và sâu sắc về văn hóa, văn nghệ: “Văn hóa là nhu cầu thiết yếu trong đời sống tinh thần của xã hội, thể hiện trình độ phát triển chung của một đất nước, một thời đại, là lĩnh vực sản xuất tinh thần tạo ra những giá trị văn hóa, những công trình nghệ thuật được lưu truyền từ đời này sang đời khác, làm giàu đẹp thêm cuộc sống con người (...). Văn học, nghệ thuật là bộ phận đặc biệt nhạy cảm của văn hóa, thể hiện khát vọng của con người về chân thiện mĩ, có tác dụng bồi dưỡng tình cảm tâm hồn nhân cách, bản lĩnh của các thế hệ công dân xây dựng môi trường đạo đức trong xã hội, xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa”(6). Với quan niệm đó, văn hóa, văn nghệ không còn được coi là hoạt động phi sản xuất, có tính tiêu dùng hoặc chỉ là phương tiện giải trí đơn thuần, “minh họa” giản đơn cho chính trị. Văn hóa, văn nghệ là hoạt động sản xuất tinh thần tạo ra những giá trị văn hóa, công trình nghệ thuật và không hình thái ý thức tư tưởng nào có thể thay thế được vị trí và vai trò của nó. NQ05 cũng đi sâu vào khía cạnh đặc trưng sáng tạo của hoạt động văn nghệ: “Văn học, nghệ thuật là bộ phận đặc biệt nhạy cảm của văn hóa, thể hiện khát vọng của con người về chân thiện mĩ (…). Là tiếng nói đầy trách nhiệm, trung thực, tự do, tiếng nói của sự thật, của lương tri, của tinh thần nhân đạo cộng sản chủ nghĩa, phản ánh được nguyện vọng sâu xa của nhân dân và quyết tâm của Đảng đưa công cuộc đổi mới đến thắng lợi”(7).
NQ05 đã thẳng thắn nhìn nhận những hạn chế, khuyết điểm trong nhận thức và phương thức lãnh đạo, quản lý văn học, nghệ thuật: “Nhiều cấp ủy đảng chưa quan tâm đúng mức lãnh đạo và ít được bồi dưỡng kiến thức về lĩnh vực quan trọng nhưng phức tạp này. Công tác lãnh đạo và quản lý văn hóa, văn nghệ có nhiều biểu hiện giản đơn, thô thiển, thiếu dân chủ. Cơ chế và chính sách quản lý, việc đào tạo và bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo và quản lý sự nghiệp văn hóa, văn nghệ (...) chưa được coi trọng...”(8). Từ đánh giá đó, NQ05 đã đề ra một số biện pháp quan trọng về đổi mới và nâng cao trình độ lãnh đạo và quản lý văn hóa, văn nghệ, khai thác mạnh mẽ tiềm năng sáng tạo, phát triển văn hóa, văn nghệ. Tinh thần chung của các chính sách, biện pháp là bảo đảm những điều kiện để văn hóa, văn nghệ làm tốt vai trò, chức năng xã hội cao cả của mình. Thực hiện đầy đủ quyền tác giả, khẩn trương ban hành các chế độ thù lao nghệ thuật, bảo đảm cho nghệ sĩ chuyên nghiệp có điều kiện vật chất và tinh thần thuận lợi để sáng tạo. NQ05 nhấn mạnh: “Tự do sáng tác là điều kiện sống còn để tạo nên giá trị đích thực trong văn hóa, văn nghệ, phát triển tài năng (…) Đảng khuyến khích văn nghệ sĩ tìm tòi sáng tạo, khuyến khích và yêu cầu có những thể nghiệm mạnh bạo và rộng rãi trong sáng tạo nghệ thuật, trong việc phát triển sáng tạo các loại hình và thể loại nghệ thuật, các hình thức biểu hiện”(9) và yêu cầu: Tổ chức các hội đồng nghệ thuật qua đó giúp các cấp ủy có thêm năng lực lãnh đạo đối với các hoạt động văn hóa, nghệ thuật. Khắc phục, ngăn ngừa những hiện tượng cấp ủy đảng, chính quyền can thiệp thô bạo vào các vấn đề văn hóa, nghệ thuật và từng cá nhân tùy tiện quyết định số phận một tác phẩm hoặc một tiết mục, trừ trường hợp những vấn đề nghệ thuật trở thành vấn đề chính trị có phương hại chung đến quyền lợi của Tổ quốc, của nhân dân. Trân trọng nhân cách, tài năng và sự độc đáo của văn nghệ sĩ; chu đáo, tế nhị, chân tình trong quan hệ đối xử; có cách làm việc thích hợp với từng cá tính sáng tạo…
Như vậy, so với các Nghị quyết trước đây, NQ05 là một bước phát triển mới về quan điểm, nhận thức, tư duy lý luận về văn hóa, văn nghệ nói chung và sự lãnh đạo, quản lý văn hóa, văn nghệ nói riêng. Những quan điểm và nhận thức đó phù hợp với tinh thần đổi mới, đáp ứng được yêu cầu phát triển của văn hóa, văn nghệ trong tình hình mới.
Đại hội lần thứ VII của Đảng đã tiếp tục và phát triển những luận điểm cơ bản của Đại hội VI, của NQ05 về văn hóa, văn nghệ. Văn kiện Đại hội VII nêu rõ: “Văn học, nghệ thuật là một bộ phận quan trọng trong nền văn hóa, gắn bó với đời sống nhân dân và sự nghiệp cách mạng do Đảng lãnh đạo. Khuyến khích tự do sáng tạo văn học, nghệ thuật vì sự hoàn thiện con người, bồi dưỡng tâm hồn, tình cảm cao đẹp, đề cao tinh thần tự hào dân tộc, ý chí tự lực, tự cường, phấn đấu làm cho dân giàu, nước mạnh, phê phán những thói hư tật xấu, cái độc ác, thấp hèn...”(10).
Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ VIII, IX, X, XI, XII, XIII, đặc biệt là các Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII (1998) về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; Nghị quyết số 23-NQ/TW ngày 16/06/2008 của Bộ Chính trị (khóa IX) về tiếp tục xây dựng và phát triển văn học, nghệ thuật trong thời kỳ mới; Nghị quyết số 33-NQ/TW, ngày 9/6/2014, Hội nghị lần thứ 9 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI) về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước… đã đánh giá khách quan về thực trạng và đưa ra hệ thống các quan điểm toàn diện và sâu sắc làm đường hướng phát triển và thành tựu của văn học nghệ thuật nước ta trong thời kỳ mới.
Nghị quyết số 23-NQ/TW đánh giá những thành tựu về phát triển văn học, nghệ thuật trong thời kỳ đổi mới: Nhìn tổng thể, văn học, nghệ thuật đã nắm bắt được dòng mạch chính là chủ nghĩa yêu nước và nhân văn, gắn bó với dân tộc, nỗ lực phản ánh chân thật cuộc sống đấu tranh cách mạng và lao động sáng tạo của nhân dân, có nhiều tác phẩm tốt trong tất cả các loại hình nghệ thuật từ văn học, sân khấu, điện ảnh, âm nhạc, mỹ thuật đến nhiếp ảnh, múa, kiến trúc... thể hiện qua những đề tài lịch sử, chiến tranh cách mạng và những vấn đề thời sự của đất nước. Chủ nghĩa nhân văn, phẩm chất nhân đạo được phát huy và đề cao. Văn học, nghệ thuật đã cố gắng phát hiện, khẳng định các nhân tố mới, tham gia cuộc đấu tranh lên án cái xấu, cái ác, sự biến chất, thoái hoá về nhân cách, đời sống và đạo đức trong một bộ phận xã hội. Tự do trong sáng tạo nghệ thuật và sự đa dạng về nội dung, phong cách sáng tác, phương thức biểu hiện được tôn trọng; dấu ấn cá nhân, cá tính sáng tạo được khẳng định. Tư duy lý luận và quan điểm của Đảng về văn học, nghệ thuật tiếp tục đổi mới, bổ sung, phát triển, góp phần cổ vũ, khích lệ, tạo niềm tin cho văn nghệ sĩ. Các cấp uỷ đảng có nhiều cố gắng theo sát thực tiễn văn nghệ, nâng cao năng lực lãnh đạo và tìm tòi các phương thức chỉ đạo phù hợp, thiết thực. Nghị quyết số 23-NQ/TW cũng chỉ rõ một số hạn chế, khuyết điểm trong sáng tác, biểu diễn, truyền bá các tác phẩm văn học, nghệ thuật còn không ít tác phẩm và hoạt động chưa thể hiện được tính chất tiên tiến và bản sắc dân tộc. Số lượng tác phẩm ngày càng nhiều song còn ít tác phẩm có giá trị cao về tư tưởng và nghệ thuật. Trong một số tác phẩm, lý tưởng xã hội – thẩm mỹ không rõ nét, ý nghĩa xã hội còn hạn hẹp. Một số văn nghệ sĩ còn hạn chế trong tiếp cận và nhận thức những vấn đề mới của cuộc sống, chưa cảm nhận đầy đủ ý nghĩa, chiều sâu và tính phức tạp của quá trình chuyển biến mang tính lịch sử trong thời kỳ mới của đất nước. Có biểu hiện xa lánh những vấn đề lớn của đất nước, chạy theo các đề tài nhỏ nhặt, tầm thường, chiều theo thị hiếu thấp kém của một bộ phận công chúng, hạ thấp chức năng giáo dục, nhấn mạnh một chiều chức năng giải trí. Trong một số trường hợp, có biểu hiện cực đoan, chỉ tập trung tô đậm mặt đen tối, tiêu cực của cuộc sống hiện tại, thậm chí xuyên tạc, bóp méo lịch sử hoặc bị các thế lực thù địch lôi kéo, đã sáng tác và truyền bá các tác phẩm độc hại, đi ngược lại với lợi ích của nhân dân và đất nước... Tình trạng nghiệp dư hoá các hoạt động văn học, nghệ thuật chuyên nghiệp có chiều hướng tăng lên. Năng lực lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý của các cấp uỷ đảng, cơ quan nhà nước bộc lộ nhiều bất cập, hạn chế; nội dung và phương thức lãnh đạo chậm đổi mới; chưa lường hết được tác động phức tạp, tiêu cực của mặt trái kinh tế thị trường, dẫn tới sự lúng túng, thụ động khi định hướng và xử lý những vấn đề mới phát sinh. Việc thể chế hoá các nghị quyết, quan điểm của Đảng còn chậm. Thiếu định hướng và tiêu chí cụ thể cho việc chọn lọc, kế thừa và phát huy các giá trị văn hoá truyền thống cũng như chọn lọc, tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại trong thời gian qua. Chưa xây dựng được những công trình, trung tâm lớn cho hoạt động văn hoá, nghệ thuật, tương xứng với vị thế của đất nước thời kỳ mới. Một bộ phận cán bộ lãnh đạo, tham mưu, quản lý văn nghệ thiếu hiểu biết về văn học, nghệ thuật, ít học tập, ngại tiếp xúc nên hiệu quả lãnh đạo, quản lý còn thấp, có sự hẫng hụt đội ngũ này ở cả tầm vĩ mô và ở các đơn vị cơ sở. Một số hội văn học, nghệ thuật chậm đổi mới nội dung và phương thức hoạt động, lúng túng trong việc tập hợp và phát huy tiềm năng của đội ngũ, xác lập các chuẩn mực đánh giá, thẩm định tác phẩm. Đáng chú ý là thiếu sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan chỉ đạo, quản lý văn học, nghệ thuật của Đảng, Nhà nước với các hội văn học, nghệ thuật trong việc thực hiện đường lối, chính sách phát triển văn học, nghệ thuật của Đảng và Nhà nước. Sự quan tâm lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước về quan điểm, chủ trương, chính sách, về đầu tư kinh phí, ngân sách cho lĩnh vực văn học, nghệ thuật chưa đúng tầm và đúng mức. Một số vấn đề cốt lõi và mới đặt ra trong lĩnh vực này chưa được lý giải thấu đáo, thiếu thống nhất. Công tác tổng kết thực tiễn chưa theo kịp sự phát triển, vì thế có lúc lúng túng, thiếu những quyết sách cơ bản, chủ động; có biểu hiện vừa buông lỏng, hữu khuynh, vừa áp đặt, chủ quan, thiếu tầm nhìn xa. Một số cấp uỷ, chính quyền chưa coi trọng và thiếu hiểu biết đầy đủ về vai trò, tính đặc thù của văn học, nghệ thuật, chậm thể chế hoá quan điểm, đường lối của Đảng. Đầu tư cho văn hoá, văn nghệ chưa tương xứng với yêu cầu mới, chưa hợp lý và kém hiệu quả…
Trong bối cảnh mới, Đảng đề ra mục tiêu: “Phấn đấu có nhiều tác phẩm có giá trị tư tưởng và nghệ thuật cao thấm nhuần tinh thân nhân văn dân chủ có tác dụng sâu sắc xây dựng con người”(11). Đây là định hướng chung cho các hoạt động văn học, nghệ thuật trong đời sống. Những tác phẩm văn nghệ thấm nhuần tinh thần nhân văn, dân chủ, có tác dụng giáo dục xây dựng con người đều được khuyến khích sáng tạo, đều có quyền được lưu hành, phổ biến, tiếp nhận và đặt dưới sự đánh giá, phê bình của công chúng và công luận. Tinh thần nhân văn, dân chủ, có tác dụng sâu sắc xây dựng con người chi phối quá trình sáng tạo, thưởng thức và lãnh đạo, quản lý văn học, nghệ thuật. Đảng xác định và cổ vũ: “Khuyến khích tìm tòi, thể nghiệm mọi phương pháp, mọi phong cách sáng tác vì mục đích đáp ứng đời sống tinh thần lành mạnh bổ ích cho công chúng. Bài trừ các khuynh hướng sáng tác suy đồi, phi nhân tính”(12). Đây là những quan điểm cơ bản hàm chứa rất rõ sự tiếp tục đổi mới của Đảng ta trong quan niệm về văn nghệ và là cơ sở lý luận chính trị quan trọng cần quán triệt, vận dụng trong hoạt động sáng tác và lý luận phê bình văn học, nghệ thuật nước ta.
Để nâng cao hiệu quả lãnh đạo của Đảng trên lĩnh vực văn hóa, văn nghệ, Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII xác định “Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng theo hướng vừa bảo đảm cho văn hóa, văn học nghệ thuật... phát triển đúng định hướng chính trị, tư tưởng của Đảng, vừa bảo đảm thực hiện quyền tự do dân chủ cá nhân trong sáng tạo văn hóa, văn học nghệ thuật (...) trên cơ sở phát huy tính tự giác cao với mục đích đúng đắn”(13). Kết luận Hội nghị lần thứ 10 Ban Chấp hành Trung ương khóa IX nhấn mạnh “Bảo đảm định hướng chính trị đi đôi với vận dụng đúng đắn những đặc trưng của công tác văn hóa (...), tôn trọng tự do sáng tác, xây dựng quan hệ chân thành cởi mở đối với đội ngũ những người hoạt động văn hóa, có chính sách trọng dụng người tài đồng thời chăm lo định hướng chính trị và có ý thức trách nhiệm công dân nhằm phát huy cao nhất đóng góp của đội ngũ trí thức, văn nghệ sĩ (...) cho sự nghiệp phát triển văn hóa”(14).
Nghị quyết số 23-NQ/TW nêu rõ quan điểm, chủ trương và nhiệm vụ phát triển văn học, nghệ thuật trong giai đoạn mới, trong đó khẳng định: Văn học, nghệ thuật là lĩnh vực rất quan trọng, đặc biệt tinh tế của văn hoá; là nhu cầu thiết yếu, thể hiện khát vọng chân, thiện, mỹ của con người; là một trong những động lực to lớn trực tiếp góp phần xây dựng nền tảng tinh thần của xã hội và sự phát triển toàn diện của con người Việt Nam. Văn học, nghệ thuật Việt Nam thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và hội nhập quốc tế phải phát triển toàn diện và mạnh mẽ, thấm nhuần sâu sắc tinh thần nhân văn, dân chủ. Phấn đấu sáng tác nhiều tác phẩm văn học, nghệ thuật có giá trị tư tưởng và nghệ thuật cao, có tác dụng to lớn xây dựng con người; vừa có tác dụng định hướng, vừa đáp ứng nhu cầu văn hoá - tinh thần ngày càng cao của nhân dân. Phát triển sâu rộng văn nghệ quần chúng, đồng thời với tập trung xây dựng, phát triển văn học, nghệ thuật chuyên nghiệp. Trên cơ sở giữ gìn, phát triển, phát huy những giá trị của văn học, nghệ thuật dân tộc, tiếp tục mở rộng hợp tác quốc tế, tiếp thu có chọn lọc các giá trị nhân văn, khoa học, tiến bộ của nước ngoài, đồng thời kiên quyết ngăn chặn, làm thất bại âm mưu, thủ đoạn áp đặt, xâm lăng văn hóa của các thế lực thù địch. Tài năng văn học, nghệ thuật và vốn quý của dân tộc. Chăm lo phát hiện, bồi dưỡng, quý trọng và phát huy các tài năng văn học, nghệ thuật là trách nhiệm của toàn xã hội, trước hết là của Đảng, Nhà nước và của các tổ chức trong hệ thống chính trị các cấp. Tôn trọng, bảo đảm quyền tự do sáng tạo, tạo điều kiện thuận lợi phát huy tính độc lập, khơi dậy mọi nguồn lực sáng tạo của văn nghệ sĩ. Văn nghệ sĩ, người chiến sĩ xây dựng và phát triển nền văn nghệ tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, cần phát huy lòng yêu nước nồng nàn, gắn bó máu thịt với nhân dân, nêu cao trách nhiệm công dân, sáng tạo nên nhiều tác phẩm có giá trị phụng sự đất nước và dân tộc. Tiếp tục đổi mới, tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển mạnh mẽ, đa dạng của văn học, nghệ thuật về đề tài, nội dung, loại hình, phương pháp sáng tác, sự tìm tòi, thể nghiệm, nâng cao chất lượng toàn diện nền văn học, nghệ thuật nước nhà. Trên nền tảng mỹ học mác-xít, tư tưởng Hồ Chí Minh, khuyến khích văn nghệ sĩ bám sát thực tiễn của đất nước, gắn bó với cuộc sống của nhân dân, bảo vệ, phát huy những giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc và tiếp thu tinh hoa văn hoá của nhân loại; lên án, phê phán không khoan nhượng những tiêu cực, xấu xa đang cản trở sự phát triển của đất nước và con người Việt Nam. Tiếp tục đổi mới và nâng cao năng lực, trình độ lãnh đạo của Đảng đối với văn học, nghệ thuật; bồi dưỡng nâng cao nhận thức về vai trò, vị trí, đặc trưng của văn học, nghệ thuật cho cán bộ, đảng viên, đặc biệt là cán bộ lãnh đạo, quản lý trong hệ thống chính trị, cán bộ trực tiếp chỉ đạo, quản lý lĩnh vực này; xây dựng và đưa vào chương trình đào tạo cán bộ thuộc các trường đảng nội dung về văn học, nghệ thuật. Cấp uỷ đảng và chính quyền các cấp phải đưa nhiệm vụ xây dựng và phát triển văn hoá, văn học, nghệ thuật vào quy hoạch, kế hoạch phát triển của từng địa phương, từng ngành. Xây dựng cơ chế lãnh đạo, quản lý khoa học, bảo đảm được định hướng chính trị; khắc phục những hiện tượng mất dân chủ hoặc can thiệp thô bạo đối với hoạt động văn học, nghệ thuật, cũng như xu hướng thả nổi, không phê phán những tác giả, tác phẩm đi ngược lại các giá trị chân, thiện, mỹ, những giá trị tốt đẹp của dân tộc và cách mạng. Cấp uỷ đảng các cấp có kế hoạch định kỳ làm việc với lực lượng sáng tạo và hoạt động văn học, nghệ thuật...
Văn kiện Đại hội lần thứ X của Đảng yêu cầu: “Bảo đảm tự do, dân chủ cho mọi hoạt động sáng tạo văn hoá, văn học, nghệ thuật đi đôi với phát huy trách nhiệm công dân của văn nghệ sĩ. Có chính sách trọng dụng các tài năng văn hoá, chăm lo đời sống vật chất và tinh thần của văn nghệ sĩ. Đẩy mạnh hoạt động lý luận - phê bình văn học, nghệ thuật. Đổi mới nội dung, phương thức hoạt động và cơ cấu tổ chức của các hội văn học, nghệ thuật từ trung ương đến địa phương”(15).
Văn kiện Đại hội lần thứ XI của Đảng nêu rõ: “Phát triển sự nghiệp văn học, nghệ thuật; bảo tồn, phát huy giá trị các di sản văn hoá truyền thống, cách mạng. Tiếp tục phát triển nền văn học, nghệ thuật Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, giàu chất nhân văn, dân chủ, vươn lên hiện đại, phản ánh chân thật, sâu sắc đời sống, lịch sử dân tộc và công cuộc đổi mới đất nước; cổ vũ, khẳng định cái đúng, cái đẹp, đồng thời lên án cái xấu, cái ác. Khuyến khích tìm tòi, thể nghiệm những phương thức thể hiện và phong cách nghệ thuật mới, đáp ứng nhu cầu tinh thần lành mạnh, đa dạng và bồi dưỡng lý tưởng, thị hiếu thẩm mỹ cho công chúng, đặc biệt là thế hệ trẻ (…). Xây dựng và thực hiện các chính sách, chế độ đào tạo, bồi dưỡng, chăm lo đời sống vật chất, tinh thần, tạo điều kiện để đội ngũ những người hoạt động văn hoá, văn học, nghệ thuật sáng tạo nhiều tác phẩm có giá trị cao về tư tưởng và nghệ thuật”(16).
Văn kiện Đại hội lần thứ XII của Đảng yêu cầu: “Tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với lĩnh vực văn hóa. Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng theo hướng vừa bảo đảm để văn hóa, văn học - nghệ thuật, báo chí phát triển đúng định hướng chính trị, tư tưởng của Đảng, vừa bảo đảm quyền tự do, dân chủ cá nhân trong sáng tạo trên cơ sở phát huy trách nhiệm xã hội, nghĩa vụ công dân với mục đích đúng đắn; khắc phục tình trạng buông lỏng sự lãnh đạo hoặc mất dân chủ, hạn chế tự do sáng tạo. Tập trung đổi mới, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về văn hóa đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững. Đẩy nhanh việc thể chế hóa, cụ thể hóa các quan điểm, đường lối của Đảng về văn hóa (…). Xây dựng chiến lược phát triển đội ngũ cán bộ văn hóa. Coi trọng quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, bố trí cán bộ lãnh đạo, quản lý văn hóa, cán bộ làm công tác khoa học, chuyên gia đầu ngành, cán bộ ở cơ sở. Mức đầu tư của Nhà nước cho văn hóa phải tương ứng với mức tăng trưởng kinh tế. Đẩy mạnh xã hội hóa nhằm huy động các nguồn đầu tư, tài trợ, hiến tặng cho phát triển văn hóa, xây dựng con người”(17).
Văn kiện Đại hội lần thứ XIII của Đảng đánh giá: “Văn hoá chưa được quan tâm tương xứng với kinh tế và chính trị, chưa thật sự trở thành nguồn lực, động lực nội sinh của sự phát triển bền vững đất nước. Vai trò của văn hoá trong xây dựng con người chưa được xác định đúng tầm, còn có chiều hướng coi trọng chức năng giải trí đơn thuần. Thiếu những tác phẩm văn hoá, văn học, nghệ thuật lớn phản ánh sinh động tầm vóc công cuộc đổi mới, có tác dụng tích cực đối với con người. Môi trường văn hoá, xã hội tiếp tục bị ô nhiễm bởi các tệ nạn xã hội, tham nhũng, tiêu cực. Chênh lệch về hưởng thụ văn hoá giữa các vùng, miền còn lớn; đời sống văn hoá ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa còn nhiều khó khăn. Công tác lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý văn hoá còn nhiều lúng túng, chậm trễ trong việc thể chế hoá quan điểm, chủ trương của Đảng về văn hoá. Đầu tư cho văn hoá chưa đúng mức, còn dàn trải, hiệu quả chưa cao. Chưa có giải pháp hữu hiệu để ngăn chặn, đẩy lùi sự xuống cấp nghiêm trọng về một số mặt văn hoá, đạo đức, lối sống, gây bức xúc xã hội. Hệ thống thông tin đại chúng còn nhiều hạn chế; một số cơ quan báo chí xa rời tôn chỉ và có biểu hiện thương mại hoá; quản lý mạng xã hội còn bất cập. Chất lượng và số lượng đội ngũ cán bộ văn hoá chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển văn hoá trong thời kỳ mới. Việc giới thiệu, quảng bá văn hoá Việt Nam ra nước ngoài chưa mạnh; tiếp nhận tinh hoa văn hoá nhân loại có mặt còn hạn chế”(18).
Từ đó Đại hội XIII xác định yêu cầu: “Tập trung nâng cao chất lượng, hiệu quả của các loại hình văn hoá, văn nghệ. Có kế hoạch, cơ chế và giải pháp xử lý đúng đắn mối quan hệ giữa bảo tồn và phát huy các giá trị văn hoá, lịch sử truyền thống dân tộc trong xây dựng con người, phát triển kinh tế - xã hội. Chú trọng nâng cao giá trị tư tưởng, nghệ thuật, đồng thời bảo đảm tự do, dân chủ trong sáng tạo văn học, nghệ thuật; khuyến khích những tìm tòi mới làm phong phú thêm bản sắc văn hoá Việt Nam; hạn chế các lệch lạc, các biểu hiện chạy theo thị hiếu tầm thường. Quan tâm, tạo điều kiện phát triển văn hoá, văn nghệ của các dân tộc thiểu số. Tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của các hội văn học, nghệ thuật, tập hợp đông đảo văn nghệ sĩ tham gia; khuyến khích tự do sáng tạo, thực thi quyền tác giả. Khẩn trương triển khai phát triển có trọng tâm, trọng điểm ngành công nghiệp văn hoá và dịch vụ văn hoá trên cơ sở xác định và phát huy sức mạnh mềm của văn hoá Việt Nam, vận dụng có hiệu quả các giá trị, tinh hoa và thành tựu mới của văn hoá, khoa học, kỹ thuật, công nghệ của thế giới (…). Tiếp tục đổi mới toàn diện nội dung và phương thức lãnh đạo của Đảng, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước về văn hoá. Tăng cường đầu tư, khai thác và phát huy tối đa các nguồn lực văn hoá đi đôi với đổi mới nội dung, phương thức quản lý, khắc phục tình trạng đầu tư dàn trải, kém hiệu quả; tăng cường kiểm tra, giám sát, bảo đảm hiệu quả đầu tư cao trong lĩnh vực văn hoá. Đổi mới, hoàn thiện các thiết chế văn hoá từ Trung ương đến cơ sở, bảo đảm hiệu quả. Đào tạo và phát triển đội ngũ cán bộ lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý, tham mưu trong lĩnh vực văn hoá, văn nghệ, nhất là cán bộ chủ chốt thực sự am hiểu về văn hoá, có phẩm chất, bản lĩnh, năng lực chuyên môn, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ”(19).
Quá trình đổi mới tư duy lý luận và nhận thức, quan điểm của Đảng về văn học, nghệ thuật, về nội dung và phương thức lãnh đạo và quản lý văn học, nghệ thuật trong 50 năm qua (như Quyết định của Ban Bí thư Trung ương khóa IX về thành lập Hội đồng Lý luận phê bình văn học, nghệ thuật Trung ương, nay là Tiểu ban Lý luận phê bình văn học, nghệ thuật thuộc Hội đồng Lý luận Trung ương) đã tạo ra những tiền đề lý luận và tổ chức quan trọng làm cho hoạt động văn học, nghệ thuật nước ta đạt được những kết quả tích cực, to lớn. Đây không chỉ là vấn đề bó hẹp trong phạm vi lãnh đạo, quản lý văn học, nghệ thuật mà còn là vấn đề chung của lý luận nhận thức, của lý luận mĩ học và nguyên tắc của sáng tạo nghệ thuật. Những quan điểm trên là cơ sở phương pháp luận cho việc giải quyết nhiều vấn đề về thực tiễn sáng tác và lý luận, phê bình văn học, nghệ thuật: Về phương pháp sáng tác hiện thực xã hội chủ nghĩa và các phương pháp sáng tác khác; về nội dung và hình thức văn học nghệ thuật; về phong cách sáng tác và cá tính sáng tạo; về thể nghiệm, hư cấu nghệ thuật; về nhận thức và tư tưởng; về mối quan hệ giữa văn nghệ và chính trị, đạo đức, khoa học, tôn giáo...; về tính đa nghĩa, đa diện của văn nghệ; về tiếp nhận văn nghệ; về giá trị của văn học, nghệ thuật; về tính tư tưởng, tính dân tộc và tính nhân loại trong văn học, nghệ thuật; về chức năng của văn học, nghệ thuật; về giao lưu văn hóa, văn nghệ quốc tế; về phát triển công nghiệp văn hóa, nghệ thuật, thị trường văn hóa, nghệ thuật…
3. Trong giai đoạn mới, cần tiếp tục đổi mới nhận thức, tư duy về văn học, nghệ thuật trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, phát triển văn hóa số, tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển mạnh mẽ, đa dạng của văn học, nghệ thuật về đề tài, nội dung, loại hình, phương pháp sáng tác, sự tìm tòi, thể nghiệm… để có nhiều hơn các tác phẩm văn học, nghệ thuật có giá trị tư tưởng và nghệ thuật cao, thấm nhuần tinh thần dân tộc, nhân văn, dân chủ, khoa học, tiến bộ, gắn kết chặt chẽ truyền thống và hiện đại, dân tộc và cách mạng; bản sắc và hội nhập quốc tế; nâng cao chất lượng toàn diện nền văn học, nghệ thuật nước nhà trên nền tảng mỹ học mác-xít, tư tưởng Hồ Chí Minh. Không ngừng đổi mới nội dung và phương thức lãnh đạo, quản lý của Đảng, Nhà nước để vừa bảo đảm để vǎn hóa, vǎn học - nghệ thuật phát triển đúng định hướng chính trị, tư tưởng của Đảng, vừa bảo đảm quyền tự do, dân chủ cá nhân trong sáng tạo trên cơ sở phát huy tính tự giác cao với mục đích đúng đắn; khắc phục tình trạng buông lỏng sự lãnh đạo hoặc mất dân chủ, hạn chế tự do sáng tạo. Khuyến khích văn nghệ sĩ bám sát thực tiễn của đất nước, gắn bó với cuộc sống của nhân dân, bảo vệ, phát huy những giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc và cách mạng, tiếp thu tinh hoa văn hoá của nhân loại. Xây dựng cơ chế lãnh đạo, quản lý khoa học, bảo đảm được định hướng chính trị; khắc phục những hiện tượng mất dân chủ hoặc can thiệp thô bạo đối với hoạt động văn học, nghệ thuật, cũng như xu hướng buông lỏng, thả nổi, không phê phán những tác giả, tác phẩm đi ngược lại các giá trị chân, thiện, mỹ, những giá trị tốt đẹp của dân tộc và cách mạng. Thể chế hoá các quan điểm, đường lối, định hướng của Đảng về văn học, nghệ thuật và nâng cao hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về văn học, nghệ thuật. Tiếp tục nghiên cứu, đổi mới, phát triển lý luận văn học, nghệ thuật. Khắc phục những hạn chế, yếu kém của hoạt động phê bình văn học, nghệ thuật, nâng cao tính khoa học, tính thuyết phục, góp phần hướng dẫn, điều chỉnh sáng tác, phê bình văn nghệ. Tổ chức nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc thành quả lý luận văn học, nghệ thuật của ông cha ta và của thế giới, vận dụng sáng tạo, làm phong phú lý luận văn học, nghệ thuật Việt Nam hiện đại. Phối hợp tốt các lực lượng làm công tác văn hoá đối ngoại, coi trọng xây dựng, phát triển lực lượng dịch giả văn học, nghệ thuật để nâng cao chất lượng, hiệu quả của việc đưa các tác phẩm văn nghệ Việt Nam - thành tố quan trọng hàng đầu của sức mạnh mềm văn hóa Việt Nam ra nước ngoài. Xây dựng và phát triển đội ngũ văn nghệ sĩ đáp ứng yêu cầu tiếp tục phát triển mạnh mẽ nền văn học, nghệ thuật Việt Nam trong thời kỳ mới. Củng cố, đổi mới hoạt động của các hội văn học, nghệ thuật ở Trung ương và các địa phương. Tăng cường các biện pháp xây dựng, phát triển văn nghệ quần chúng, hướng dẫn, khuyến khích quần chúng tham gia sáng tạo, bảo tồn, truyền dạy và phát huy các giá trị văn hoá, văn nghệ truyền thống của dân tộc…
Đặc biệt chú trọng công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh; xây dựng văn hóa trong Đảng, trong bộ máy nhà nước, mà nội dung quan trọng là Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, đưa đất nước phát triển nhanh và bền vững; đưa sự nghiệp văn học, nghệ thuật nước nhà vươn đến đỉnh cao trong kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam, vì hòa bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội./.
PGS.TS,Nguyễn Duy Bắc
Phó Giám đốc, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
----------------------------------------------------------
1, 2. Báo cáo Chính trị của Ban Chấp hành Trung ương khóa III tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV của Đảng, https://tulieuvankien.dangcongsan.vn/ban-chap-hanh-trung-uong-dang/dai-hoi-dang/lan-thu-iv/bao-cao-chinh-tri-cua-ban-chap-hanh-trung-uong-khoa-iii-tai-dai-hoi-dai-bieu-toan-quoc-lan-thu-iv-cua-dang-1513, truy cập 17/3/2025
3. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2000, tập 43, tr.105-106
4, 5. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2006, tập 47, tr.464, tr.449
6, 8. Về lãnh đạo, quản lý văn học nghệ thuật trong công cuộc đổi mới, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2001, tr.15-17, tr.15.
7, 9. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb.Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2006, tập 48, tr.481-484, tr.485.
10, 12. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2007, tập 51, tr.110.
11. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2016, tập 60, tr.203.
12, 13. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2015, tập 57, tr.308, tr.322.
14. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2016, tập 63, tr392-393.
15. Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá IX tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng, https://tulieuvankien.dangcongsan.vn/ban-chap-hanh-trung-uong-dang/dai-hoi-dang/lan-thu-x/bao-cao-chinh-tri-cua-ban-chap-hanh-trung-uong-dang-khoa-ix-tai-dai-hoi-dai-bieu-toan-quoc-lan-thu-x-cua-dang-1537, truy cập 17/3/2025
16. Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá X tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng, https://tulieuvankien.dangcongsan.vn/ban-chap-hanh-trung-uong-dang/dai-hoi-dang/lan-thu-xi/bao-cao-chinh-tri-cua-ban-chap-hanh-trung-uong-dang-khoa-x-tai-dai-hoi-dai-bieu-toan-quoc-lan-thu-xi-cua-dang-1526, truy cập 17/3/2025
17. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Văn phòng Trung ương Đảng, Hà Nội, 2016, tr. 132
18, 19. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2021, tập 1, tr.84-85, tr.146-147.