Việt Nam và Nhật Bản là hai nước ở khu vực Đông Á nên từ lâu đã có sự tương tác, giao thoa văn hóa với nhau. Ở thời kỳ phong kiến, hai nước cùng chia sẻ những giá trị chung của hệ tư tưởng Nho giáo, Phật giáo, Đạo giáo và cùng chịu ảnh hưởng của nền văn minh Trung Hoa. Cư dân hai nước, từ tầng lớp thương nhân đến trí thức quan lại, tăng sư, đạo sĩ đã ít nhiều có sự tiếp xúc với nhau. Sử sách ghi lại ở thế kỷ thứ VIII, một nhà sư Lâm Ấp (thuộc miền Trung Việt Nam hiện nay) đã đến Nhật Bản truyền bá âm nhạc, có vai trò khai thông những bước đầu của nhã nhạc Nhật Bản (1). Sự giao lưu, tiếp xúc văn hóa còn diễn ra tại Trung Quốc qua hoạt động của sứ thần hai nước khi đến đây. Đến thế kỷ XVI - XVII, nền thương mại châu Á bước vào thời kỳ hoàng kim, Nhật Bản thực hiện chính sách “châu Ấn thuyền” thì sự trao đổi kinh tế, giao lưu văn hóa giữa hai nước được tăng cường. Ở giai đoạn này, có nhiều nhóm cộng đồng người Nhật định cư trên lãnh thổ Việt Nam, đông đảo và lâu dài nhất là ở thương cảng Hội An (Quảng Nam). Tại đây, văn hóa hai nước đã giao thoa mạnh mẽ, góp phần quan trọng để tạo nên một Di sản văn hóa cho nhân loại - Di sản Hội An.

           Giao lưu văn hóa Việt Nam - Nhật Bản. Nguồn: Báo Điện tử Chính phủ

      Tuy nhiên, do tác động của bối cảnh lịch sử, trong nước, khu vực và thế giới, giao lưu, tiếp xúc văn hóa Việt Nam - Nhật Bản có những bước thăng trầm khác nhau. Thế kỷ XVIII - XIX, do hệ quả của chính sách “bế quan tỏa cảng”, nên quan hệ hai nước rất hạn chế, chỉ duy trì ở mức độ thấp qua vai trò trung gian của thương nhân người Hoa. Đến đầu thế kỷ XX, trong bối cảnh Nhật Bản duy tân trở thành nước hùng cường ở châu Á và trên thế giới, các tầng lớp chí sĩ Việt Nam (tiêu biểu là Phan Bội Châu) muốn noi theo tấm gương Nhật Bản, đã khởi tạo nên phong trào “Đông Du” sôi nổi thì sự tiếp xúc, giao lưu về văn hóa giữa hai nước hồi sinh trở lại. Lúc bấy giờ, một làn sóng văn hóa mới từ Nhật Bản du nhập vào Việt Nam qua con đường “Tân văn”, “Tân thư”. Sau một giai đoạn sôi động, quan hệ văn hóa giữa hai nước lại bước vào thời kỳ trầm lắng kéo dài. Cho đến năm 1973, khi hai nước Việt Nam và Nhật Bản thiết lập quan hệ ngoại giao thì cùng với việc tăng cường quan hệ chính trị, kinh tế, thương mại, ngoại giao,… hợp tác văn hóa giữa hai nước đã bước vào giai đoạn phát triển mới với nhiều kết quả đáng ghi nhận.                                                                                                                                                                                                                                                                   1. Đường hướng thúc đẩy hợp tác văn hóa giữa hai nước Việt Nam và Nhật Bản

       Văn hóa là lĩnh vực ngày càng có vai trò quan trọng đối với sự phát triển của mỗi quốc gia, dân tộc. Hợp tác quốc tế về văn hóa góp phần gia tăng “sức mạnh mềm” của quốc gia, đồng thời thúc đẩy phát triển kinh tế, thương mại, du lịch mỗi nước. Hiện nay, văn hóa cũng không còn đơn thuần là một lĩnh vực phục vụ nhu cầu giải trí, tinh thần của con người mà còn là một hoạt động đem lại giá trị kinh tế to lớn.

Trong thời đại toàn cầu hóa toàn diện, cùng với ngoại giao chính trị và ngoại giao kinh tế, hai nước Việt Nam và Nhật Bản đều rất coi trọng ngoại giao văn hóa vì văn hóa vừa có khả năng lan tỏa rộng lớn, vừa có tác dụng thẩm thấu lâu dài. Việt Nam xác định, ngoại giao văn hóa là một bộ phận cấu thành quan trọng của nền ngoại giao Việt Nam toàn diện, hiện đại; ngoại giao văn hóa là nền tảng tinh thần tạo nên bản sắc của ngoại giao Việt Nam (2). Nhật Bản cũng xác định ngoại giao văn hóa là một trong ba trụ cột của chính sách đối ngoại của quốc gia. Chiến lược ngoại giao văn hóa thế kỷ XXI của Nhật Bản (năm 2005) hướng đến ba mục tiêu là: i- Tăng cường hiểu biết thế giới về Nhật Bản; ii- Tăng cường hiểu biết lẫn nhau giữa các nền văn minh, văn hóa, tránh khỏi mọi cuộc xung đột; iii- Nuôi dưỡng những giá trị văn hóa chung của toàn nhân loại (3). Như vậy, cả Việt Nam và Nhật Bản đều có chiến lược ngoại giao văn hóa nhằm phát huy giá trị văn hóa dân tộc để từ đó nâng cao ảnh hưởng, vị thế quốc gia trên trường quốc tế.

       Định hướng về việc thúc đẩy hợp tác văn hóa giữa hai nước được thể hiện qua nhiều chương trình hợp tác giữa Việt Nam và Nhật Bản và được phản ánh ở mức cao nhất trong các Tuyên bố chung giữa hai nước thời gian gần đây. Năm 2014, Tuyên bố chung Việt Nam - Nhật Bản về việc thiết lập Quan hệ Đối tác Chiến lược Sâu rộng vì hòa bình và phồn vinh ở châu Á đưa ra định hướng hợp tác văn hóa; năm 2023, Tuyên bố chung Việt Nam - Nhật Bản về nâng cấp lên “Đối tác Chiến lược Toàn diện vì Hòa bình và Thịnh vượng ở châu Á và trên thế giới” khẳng định: hai nước sẽ đẩy mạnh hợp tác trong lĩnh vực văn hóa, nghệ thuật và đẩy mạnh hợp tác trong lĩnh vực bảo tồn các di sản văn hóa dựa trên chuyên môn, công nghệ và kinh nghiệm của Nhật Bản (4).

         2. Một số kết quả nổi bật về giao lưu văn hóa Việt Nam- Nhật Bản

        Giao lưu văn hóa, nghệ thuật là hoạt động nổi bật nhất trong quan hệ văn hóa giữa hai nước. Sau khi Chiến tranh lạnh kết thúc (1989), cùng với sự phát triển của quan hệ chính trị - ngoại giao, kinh tế thì hoạt động giao lưu văn hóa, nghệ thuật giữa hai nước được đẩy mạnh. Các hoạt động giao lưu văn hóa diễn ra thường xuyên hằng năm, với nhiều sự kiện lớn nhỏ khác nhau, ở nhiều địa điểm trên lãnh thổ hai nước, đặc biệt trong những dịp hai nước kỷ niệm 40 năm (2013), 45 năm (2018), 50 năm (2023) thiết lập quan hệ ngoại giao. Năm 2018, có 243 sự kiện được tổ chức nhân dịp kỷ niệm 45 năm thiết lập quan hệ ngoại giao Việt Nam - Nhật Bản (5). Năm 2023, nhân dịp kỷ niệm 50 năm thiết lập quan hệ ngoại giao Việt Nam - Nhật Bản, mặc dù hiện chưa có thống kê về số lượng các sự kiện giao lưu văn hóa, nghệ thuật giữa hai nước nhưng có thể khẳng định đã có một “chuỗi” sự kiện được tổ chức ở thủ đô hai nước nói riêng cũng như ở nhiều địa phương hai nước nói chung.

     Giao lưu văn hóa, nghệ thuật giữa hai nước được thể hiện rất đa dạng, với nhiều nội dung và hình thức khác nhau như: “Giao lưu nghệ thuật sắc màu văn hóa Việt Nam - Nhật Bản”, “Giao lưu nghệ thuật truyền thống Việt Nam - Nhật Bản”, “Giao lưu những nét văn hóa Việt Nam - Nhật Bản”, Giao lưu hòa nhạc, võ thuật,… Trong văn hóa nghệ thuật, không chỉ là nghệ thuật biểu diễn như ca múa nhạc, trang phục truyền thống,… mà còn có nhiều loại hình nghệ thuật thể hiện những triết lý như Hoa đạo (Ikebana), Trà đạo (Chandou), Thư đạo (Shodou), Kiếm đạo (Kendo), Hương đạo (Kodo). Giao lưu văn hóa được thực hiện dưới nhiều hình thức như: tổ chức các buổi biểu diễn nghệ thuật, các “Ngày Việt Nam tại Nhật Bản”, “Ngày Nhật Bản tại Việt Nam”, “Tuần lễ văn hóa Việt Nam – Nhật Bản”, các “Lễ hội văn hóa Việt Nam tại Nhật Bản”, “Lễ hội văn hóa Nhật Bản tại Việt Nam”,...

     Lễ hội Việt Nam - Nhật Bản là sự kiện giao lưu văn hóa quan trọng nhất được tổ chức hằng năm tại hai nước, thu hút sự tham gia đông đảo của người dân hai nước và du khách quốc tế. Mỗi lễ hội thường có một chuỗi các sự kiện giao lưu văn hóa, nghệ thuật được tổ chức, đi liền với đó thường có các hoạt động khác như giới thiệu các sản phẩm văn hóa, đồ thủ công, mỹ nghệ, ẩm thực,… Lễ hội Việt Nam tại Nhật Bản lần đầu được tổ chức vào năm 2008 để chào mừng 35 năm hai nước thiết lập quan hệ ngoại giao, thu hút khoảng 150.000 người tham gia, đặc biệt Thái tử Nhật Bản cũng đã tới tham dự Lễ hội này (6). Trong năm 2023, hai nước phối hợp với nhau tổ chức nhiều lễ hội tại Nhật Bản như: Tổ chức Lễ hội Việt Nam tại công viên Yoyogi - Tokyo, Lễ hội Việt Nam thường niên tại Kanagawa và tại nhiều tỉnh thành khác như Osaka, Hokkaido, Fukuoka, Nigata. Ngược lại, cũng có nhiều lễ hội Nhật Bản được tổ chức tại Việt Nam như: Lễ hội Hoa Anh đào, Lễ hội Kanagawa, Lễ hội Hokkaido, Lễ hội Chuông gió,… Lễ hội Hoa Anh đào được tổ chức lần đầu tiên tại Hà Nội vào năm 2007 đã tạo nên càm xúc thú vị cho nhiều người xem. Từ đó đến nay, Lễ hội Hoa Anh đào được tổ chức khá thường xuyên tại Việt Nam, thể hiện tình hữu nghị sâu sắc giữa hai quốc gia - dân tộc. Các lễ hội văn hóa được tổ chức đã góp phần quan trọng vào việc tuyên truyền, giới thiệu, quảng bá hình ảnh, nét đẹp văn hóa, đất nước, con người Việt Nam và Nhật Bản với người dân hai nước, qua đó thúc đẩy hoạt động du lịch, kinh tế, thương mại của hai quốc gia.

     Thực tiễn thời gian qua cho thấy, giao lưu văn hóa Việt Nam - Nhật Bản đã tạo ra dấu ấn sâu đậm trong lòng người dân hai nước. Hiện nay, nhiều người Việt Nam quan tâm, hiểu biết và yêu mến văn hóa, con người Nhật Bản; người Việt Nam học tiếng Nhật Bản, du học và sinh sống, làm việc tại Nhật Bản ngày càng nhiều. Người Việt Nam hứng thú đối với du lịch, ẩm thực Nhật Bản cũng giống như với hàng hóa công nghệ, kinh tế, khoa học - kỹ thuật của bạn,… Ngược lại, giá trị văn hóa và con người Việt Nam cũng đang được lan tỏa sâu rộng trong sự hiểu biết của người dân Nhật Bản.

     Trên lĩnh vực bảo tồn di sản văn hóa, hai nước đã có sự hợp tác chặt chẽ trong lĩnh vực bảo tồn, trùng tu di sản văn hóa vật thể và văn hóa phi vật thể tại Việt Nam qua các dự án lớn, có tính lâu dài như Trùng tu Cung điện Huế (Ngọ Môn), Hỗ trợ bảo tồn Nhã nhạc Việt Nam (Đại học Nghệ thuật Huế), Hỗ trợ trùng tu Chùa Cầu (cầu Nhật Bản) tại Hội An, Hỗ trợ Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam,…Cử chuyên gia bảo tồn thư tịch cổ, Hoàn thiện môi trường bảo tồn Di tích Mỹ Sơn, Hỗ trợ thiết bị bảo tồn Di tích Hoàng thành Thăng Long (7) … Ngoài ra, Nhật Bản còn giúp đỡ về mặt tài chính, chuyên môn để trùng tu nhiều di tích, công trình lịch sử, kiến trúc truyền thống khác. Hợp tác trong lĩnh vực bảo bảo tồn di sản văn hóa diễn ra thông qua cả kênh song phương và đa phương. Kênh song phương diễn ra rất sinh động, thường xuyên; còn trên kênh đa phương, hợp tác giữa hai nước chủ yếu diễn ra thông qua tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên hợp quốc (UNESCO). Điều đó được thể hiện qua những dự án tiêu biểu như: (i) Bảo tồn các di tích tại Cố đô Huế: Quần thể di tích Cố đô Huế là trung tâm chính trị, văn hoá, kinh tế của Việt Nam dưới triều nhà Nguyễn (từ 1802 đến 1945), được UNESCO công nhận là Di sản Văn hóa thế giới vào năm 1993. Người Nhật quan tâm tới việc bảo tồn các di sản văn hóa Huế, đặc biệt là di sản kiến trúc từ rất sớm. Năm 1992, Chính phủ Nhật Bản, thông qua quỹ ủy thác UNESCO, đã tài trợ 100.000 USD để trùng tu công trình Ngọ Môn, cổng chính của Hoàng Thành Huế (8). (ii) Tôn vinh nhã nhạc cung đình Huế: Năm 2002, thông qua UNESCO, Chính phủ Nhật Bản đã tài trợ 15.000 USD cho Trung tâm Bảo tồn di tích cố đô Huế để thực hiện Hồ sơ quốc gia ứng cử Nhã Nhạc là Kiệt tác Di sản Truyền khẩu và Phi vật thể của nhân loại (9). Kết quả là, ngày 07/11/2003, UNESCO đã chính thức ghi danh Nhã nhạc Huế là một trong 28 kiệt tác di sản văn hóa truyền khẩu và phi vật thể của nhân loại. Dự án “Bảo tồn và phát huy Nhã nhạc - Âm nhạc cung đình Việt Nam” giai đoạn 2005-2008, có tổng kinh phí 354.900 USD (154.900 USD do Quỹ ủy thác Nhật Bản tài trợ thông qua Tổ chức UNESCO, phần còn lại là vốn đối ứng của Việt Nam đã phục dựng, phục chế nhiều bản nhạc cổ, trang phục, vũ phục, nhạc cụ cơ bản của Nhã nhạc, tư liệu hóa và truyền dạy, quảng bá Nhã nhạc trong công chúng (10). Đây là được coi là một dự án kiểu mẫu về nghiên cứu bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa phi vật thể tại Việt Nam. (iii) Bảo tồn phố cổ Hội An: Tổ chức JICA của Nhật Bản đã tích cực hỗ trợ Việt Nam trùng tu và bảo tồn phố cổ Hội An, trong đó có khu vực Chùa Cầu – một biểu tượng minh chứng tuyệt vời về tình hữu nghị giữa người dân hai nước, đã hình thành từ nhiều thế kỷ trước và sẽ tiếp tục là minh chứng vật chất nhắc nhở các thế hệ mai sau. (iiii) Bảo tồn di tích Hoàng Thành Thăng Long, Hà Nội: Khu di tích khảo cổ học Hoàng thành Thăng Long được UNESCO công nhận là Di sản Văn hóa thế giới vào mùa Thu năm 2010, nhân dịp kỷ niệm Kinh đô Thăng Long tròn 1.000 năm tuổi. Chính phủ Nhật Bản thông qua UNESCO đã hỗ trợ hơn một triệu USD để giúp Việt Nam nghiên cứu, bảo tồn di sản Khu di tích Hoàng thành Thăng Long.

     Sự tiếp xúc, giao lưu văn hóa Việt Nam và Nhật Bản còn thể hiện trên một số hoạt động khác khá đa dạng. Năm 1992, với sự giúp đỡ của Đại sứ quán Nhật Bản tại Việt Nam, Nhà hữu nghị Nhật - Việt được xây dựng và chính thức đưa vào sử dụng tại Hà Nội. Năm 2008, Trung tâm giao lưu văn hóa Nhật Bản tại Việt Nam được thành lập tại Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh. Đây là hoạt động quan trọng để thúc đẩy việc quảng bá văn hóa, nghệ thuật Nhật Bản đến công chúng Việt Nam. Hiện nay, Việt Nam cũng đang nghiên cứu để sớm thành lập Trung tâm Văn hóa Việt Nam tại Nhật Bản. Ngoài ra, Nhật Bản còn viện trợ nhiều trang thiết bị dạy học tiếng Nhật, giảng dạy âm nhạc truyền thống cho các cơ sở đào tạo đại học của Việt Nam, qua đó không chỉ góp phần truyền bá văn hóa của Xứ sở Hoa Anh đào mà còn giúp Việt Nam nâng cao trình độ nguồn nhân lực, phục vụ quá trình hội nhập quốc tế.

Bên cạnh các chương trình viện trợ quy mô lớn, Nhật Bản còn tiến hành các chương trình viện trợ văn hóa không hoàn lại quy mô nhỏ cho Việt Nam do Đại sứ quán Nhật Bản tại Việt Nam trực tiếp tiến hành, trải rộng trên nhiều lĩnh vực như trang cấp nhạc cụ, thiết bị âm thanh, ánh sáng, thiết bị nghe nhìn, thiết bị làm phim hoạt hình, thiết bị liên quan đến bảo tồn di sản văn hóa vật thể và phi vật thể.

          3. Một vài nhận xét và triển vọng hợp tác văn hóa Việt Nam - Nhật Bản trong thời gian tới

        Một là, hợp tác văn hóa Việt Nam - Nhật Bản diễn ra rất phong phú, sinh động, với nhiều nội dung và hình thức khác nhau. Việc giao lưu văn hóa, nghệ thuật được tổ chức khá thường xuyên, hằng năm, đặc biệt là trong những năm hai nước kỷ niệm những dấu mốc trong quan hệ ngoại giao. Hoạt động giao lưu văn hóa, nghệ thuật diễn ra ở nhiều địa phương, đặc biệt là ở những thành phố lớn của hai nước.

        Hai là, hợp tác văn hóa Việt Nam - Nhật Bản diễn ra ở cả bề nổi và chiều sâu. Nếu như giao lưu văn hóa, nghệ thuật là hoạt động bề nổi thì sự hợp tác giữa hai nước trong lĩnh vực bảo tồn di sản văn hóa lại mang tính chiều sâu điển hình. Giao lưu văn hóa, nghệ thuật thể hiện sự phối hợp chặt chẽ giữa hai nước, hai bên đều chủ động phát huy những bản sắc văn hóa của đất nước mình. Còn trong lĩnh vực hợp tác bảo tồn di sản, sự hỗ trợ kinh nghiệm, kỹ thuật bảo tồn di sản và nguồn lực tài chính cho việc bảo tồn di sản của Nhật Bản dành cho Việt Nam là rất hiệu quả.

        Ba là, hợp tác văn hóa giữa hai nước đã góp phần tăng cường sự hiểu biết lẫn nhau giữa nhân dân hai nước. Giá trị văn hóa của mỗi nước được lan tỏa mạnh mẽ, góp phần bảo tồn và phát huy những giá trị tốt đẹp của mỗi dân tộc. Nhiều lễ hội đã trở thành những món ăn tinh thần không thể thiếu đối với người dân hai nước. Đây là nền tảng quan trọng thúc đẩy mối quan hệ hai nước ngày càng gắn bó và tin cậy lẫn nhau.

       Bốn là, sự hợp tác văn hóa giữa hai nước trong thời gian qua được đẩy mạnh dựa vào nhiều yếu tố như cả hai nước đều coi trọng văn hóa, thúc đẩy hợp tác văn hóa; sự gắn kết giữa hai nước về kinh tế, lao động, du lịch; sự tương đồng, gần gũi về mặt lịch sử, văn hóa, con người, đúng như phát biểu của Đại sứ Nhật Bản tại Việt Nam Yamada Takio tại sự kiện “Giao lưu văn hóa Hội An - Nhật Bản” lần thứ 19 diễn ra tại thành phố Hội An năm 2023: “Quan hệ giữa Nhật Bản và Việt Nam phát triển mạnh mẽ và gắn kết chặt chẽ như ngày nay là bởi đằng sau đó có sự “thấu hiểu và đồng cảm giữa con người với con người” được tạo nên nhờ mối liên hệ mang tính lịch sử, văn hóa lâu đời giữa hai nước” (11).

       Năm là, hợp tác văn hóa giữa hai nước còn nhiều tiềm năng phát triển. Và để phát huy, khai thác các tiềm năng sẵn có, hai nước cần tăng cường sự hợp tác theo hướng mở rộng giao lưu ở tất cả các cấp độ từ trung ương đến địa phương, ở các cấp các ngành có liên quan; đồng thời phát huy vai trò của cộng đồng người Việt Nam ở Nhật Bản cũng như cộng đồng người Nhật Bản ở Việt Nam.

       Có thể khẳng định rằng, hợp tác văn hóa Việt Nam - Nhật Bản thời gian qua đã phát triển mạnh mẽ, góp phần củng cố mối quan hệ gắn bó bền chặt giữa hai nước. Đây là nền tảng vững chắc để hai nước phát triển hơn nữa mối quan hệ “Đối tác Chiến lược Toàn diện vì Hòa bình và Thịnh vượng ở châu Á và trên thế giới” trong thời gian tới.

                                                                                                                        PGS, TS Nguyễn Duy Bắc                                                                                                                                                                           Phó Giám đốc Thường trực Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

----------------------

1. Vĩnh Sính, Giao điểm giữa hai nền văn hóa Việt Nam – Nhật Bản, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 2018, tr.73.

2. Xem: Quyết định số 2013/ QĐ-TTg ngày 30/11/2021 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược Ngoại giao văn hóa đến năm 2030.

3. Phạm Thị Thu Hà, Chính sách ngoại giao văn hóa của Nhật Bản và một số bài học kinh nghiệm cho Việt Nam, https://tapchicongthuong.vn/bai-viet/chinh-sach-ngoai-giao-van-hoa-cua-nhat-ban-va-mot-so-bai-hoc-kinh-nghiem-cho-viet-nam-79436.htm, đăng ngày 20/3/2021.

4. Tuổi trẻ online, Tuyên bố chung Việt Nam, Nhật Bản về nâng cấp lên Đối tác chiến lược toàn diện, https://tuoitre.vn/tuyen-bo-chung-viet-nam-nhat-ban-ve-nang-cap-len-doi-tac-chien-luoc-toan-dien-20231127223625395.htm, đăng ngày 27/11/2023.

5. Đại sứ quán Nhật Bản tại Việt Nam, “Chuỗi sự kiện kỷ niệm 45 năm thiết lập quan hệ ngoại giao Nhật Bản – Việt Nam năm 2018”, https://www.vn.emb-japan.go.jp/files/000431095.pdf, đăng ngày 18/12/2018

6. Giang Tú, “Hợp tác văn hóa, du lịch Việt Nam - Nhật Bản: Cầu nối hữu nghị hai dân tộc, https://vccinews.vn/news/47785/hop-tac-van-hoa-du-lich-viet-nam-nhat-ban-cau-noi-huu-nghi-hai-dan-toc.html, đăng ngày 18/10/2023.

7. Đại sứ quán Nhật Bản tại Việt Nam, https://www.vn.emb-japan.go.jp/itpr_ja/Vn_VientroBaoton.html, đăng ngày 9/1/2017

8, 9. Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế, Công cuộc bảo tồn Di sản thế giới ở Thừa Thiên Huế, 2013, tr.462, 464.

10. Báo điện tử Dân trí, “UNESCO tôn vinh Nhã nhạc Việt Nam”, https://dantri.com.vn/xa-hoi/unesco-ton-vinh-nha-nhac-viet-nam-1220308792.htm, đăng ngày 31/8/2018.

11. Tấn Nguyên, Giao lưu Văn hóa Hội An-Nhật Bản lần thứ 19, https://nhandan.vn/giao-luu-van-hoa-hoi-an-nhat-ban-lan-thu-19-post765965.html, đăng ngày 6/8/2023.