1.Thành tựu trong phát triển văn hóa Việt Nam
1.1. Đời sống văn hóa của nhân dân không ngừng được cải thiện, nâng cao
Thực hiện đường lối đổi mới đã đưa đất nước ra khỏi khủng hoảng, cơ cấu kinh tế chuyển biến tích cực theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, gắn sản xuất với thị trường, kinh tế đạt tốc độ tăng trưởng nhanh, ổn định. Đời sống vật chất được cải thiện đã giúp người dân có điều kiện thuận lợi tham gia vào quá trình sáng tạo, thực hành, trao truyền và thụ hưởng văn hóa. Qua đó góp phần nâng cao đời sống tinh thần, xây dựng tư tưởng, tình cảm, đạo đức, lối sống tốt đẹp; củng cố khối đại đoàn kết toàn dân và thắt chặt niềm tin giữa nhân dân với Đảng, Nhà nước, chế độ và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta.rong lãnh đạo sự nghiệp phát triển văn hóa, Đảng yêu cầu các cấp, các ngành đã triển khai đồng bộ nhiều giải pháp, có nhiều cách làm hay, sáng tạo, phù hợp, tạo sự thống nhất, đồng thuận trong nhận thức, tư tưởng; phát huy những giá trị văn hóa truyền thống, giữ gìn chuẩn mực đạo đức tốt đẹp; hình thành lối sống mới với tinh thần “mình vì mọi người”, “mọi người vì mình”, phát huy tinh thần gương mẫu, tạo sự đồng thuận xã hội.
Gần 40 năm đổi mới, với việc không ngừng chăm lo, đầu tư cho lĩnh vực văn hóa, đời sống văn hóa của người dân từng bước được cải thiện, nâng cao. Những giá trị tốt đẹp của truyền thống văn hóa được gìn giữ, kế thừa, phát huy; những giá trị mới được kiến tạo, nảy nở, tạo ra môi trường văn hóa lành mạnh, đóng vai trò là nền tảng tinh thần, góp phần nuôi dưỡng và hình thành những con người mới, góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Năm 1998, Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm, Ban Chấp hành Trung ương khóa VIII về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc đã đề ra một trong những giải pháp lớn để xây dựng và phát triển văn hóa trong thời kỳ mới là: “Mở cuộc vận động giáo dục chủ nghĩa yêu nước gắn với thi đua yêu nước và Phong trào Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”. Thực hiện đường lối của Đảng, phong trào Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa đã được triển khai sâu rộng trên phạm vi cả nước. Bằng những cách làm hay, sáng tạo, thiết thực, phù hợp với điều kiện, tình hình thực tiễn tại mỗi địa phương, phong trào đã mang lại giá trị và ý nghĩa tốt đẹp trong đời sống cộng đồng. Phong trào đã thực sự trở thành cuộc vận động văn hóa lớn, thu hút sự tham gia đông đảo của các tầng lớp nhân dân. Qua phong trào đã có 19 triệu gia đình đạt danh hiệu gia đình văn hóa; trên 1,2 triệu tấm gương người tốt, việc tốt; đã công nhận hơn 69 nghìn làng, thôn, ấp, bản, buôn, tổ dân phố văn hóa(2). Thành công của phong trào chính là đã tập hợp, phát huy được sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc trong xây dựng và phát triển đất nước, phù hợp với xu thế phát triển của xã hội, phát huy hiệu quả việc thực hiện quy chế dân chủ cơ sở.
Phát huy những kết quả đã đạt được từ những phong trào đã triển khai thực hiện, trong giai đoạn 2021-2026, phong trào xây dựng đời sống văn hóa tiếp tục được triển khai sâu rộng trên quy mô toàn quốc gắn với các cuộc vận động, phong trào xã hội lớn như: “Cả nước chung sức xây dựng nông thôn mới”, “Cả nước chung tay vì người nghèo - Không để ai bị bỏ lại phía sau”, “Cán bộ công chức, viên chức thi đua thực hiện văn hóa công sở”, “Cán bộ công chức, viên chức nói không với tiêu cực”, “Ngày vì người nghèo”; thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang và lễ hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; xây dựng văn hóa giao thông... Các cấp, các ngành, các đoàn thể chính trị, xã hội tiếp tục có những sáng kiến tổ chức các cuộc vận động văn hóa gắn với chức năng, nhiệm vụ của mình như: “Dạy tốt - Học tốt”, “Mỗi thầy, cô giáo là một tấm gương đạo đức, tự học và sáng tạo”, “Xây dựng trường học xanh - sạch - đẹp”, “Tuổi cao - Gương sáng”, “Nông dân sản xuất, kinh doanh giỏi”, “Xây dựng người Phụ nữ Việt Nam thời đại mới”, “Xây dựng gia đình 5 không, 3 sạch, góp phần vun đắp giá trị gia đình Việt Nam”, “Toàn dân rèn luyện thân thể theo gương Bác Hồ vĩ đại”, “Cựu Chiến binh gương mẫu”, “Tuổi trẻ Việt Nam sống, chiến đấu, lao động và học tập theo gương Bác Hồ vĩ đại”, “Xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh trong các đơn vị lực lượng vũ trang”; “Xây dựng con người văn hóa, môi trường văn hóa thời kỳ mới trong Quân đội nhân dân Việt Nam”.
Cùng với các phong trào xây dựng đời sống văn hóa, các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể dục thể thao nâng cao sức khỏe, đáp ứng nhu cầu, thị hiếu thẩm mỹ của người dân cũng đã được các cấp, các ngành quan tâm, tổ chức thực hiện. Vào dịp kỷ niệm các ngày lễ lớn, nhân các sự kiện lịch sử, chính trị, ngoại giao; các dịp lễ tết cổ truyền trong năm. nhiều hoạt động văn hóa, văn nghệ đã được tổ chức ở nhiều địa phương với quy mô lớn, tạo ra đời sống tinh thần lành mạnh, phong phú. Qua triển khai thực hiện phong trào “Toàn dân rèn luyện thân thể theo gương Bác Hồ vĩ đại” đã góp phần nâng cáo sức khỏe, thể lực, gia tăng sự kết nối và tinh thần đoàn kết, chia sẻ giữa các cá nhân, các tầng lớp trong xã hội. Tính đến năm 2018, “số người thường xuyên tập luyện thể dục thể thao đạt 32,35%, số gia đình thể thao đạt 23,41%; số trường học đảm bảo chương trình giáo dục thể chất chính khóa: 100%; số trường thường xuyên hoạt động thể thao ngoại khóa đạt 75%; phong trào “Toàn dân rèn luyện thân thể theo gương Bác Hồ vĩ đại” phát triển mạnh mẽ, thu hút số người tập luyện thể dục thể thao thường xuyên trên toàn quốc đạt là 22.142.520 người”(3).
Những năm gần đây khi nhận thức của toàn xã hội về vai trò, ý nghĩa của văn hóa ngày càng được nâng cao, chính quyền cùng với người dân đã tổ chức tốt các hoạt động văn hóa, văn nghệ phù hợp với truyền thống văn hóa và điều kiện đặc thù ở các địa phương, vùng miền. Sự ra đời của các phong trào dân ca, dân vũ; các câu lạc bộ nghệ thuật quần chúng, đã đáp ứng nhu cầu vui chơi, giải trí và thực hành văn hóa của người dân.
1.2. Công tác bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa truyền thống đạt được nhiều kết quả nổi bật
Trong thời gian qua, các hoạt động bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa truyền thống của các dân tộc được tiến hành trên phạm vi cả nước, nhờ đó mà nhiều giá trị văn hóa và nét đẹp truyền thống đã được lan tỏa, phát huy mạnh mẽ trong cuộc sống. Đến nay Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đã xếp hạng trên 10.000 di tích cấp tỉnh, thành phố; Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã xếp hạng 3.591 di tích quốc gia và Thủ tướng Chính phủ đã xếp hạng 123 di tích quốc gia đặc biệt; đồng thời, có trên 4 vạn di tích đã được kiểm kê theo quy định của Luật Di sản văn hóa. Thực hiện quy định của Luật Di sản văn hóa và Công ước 2003, đến nay cả nước đã có khoảng 7 vạn di sản văn hóa phi vật thể trên cả nước được kiểm kê, 416 di sản được đưa vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia(4). Tính đến tháng 12/2024, Việt Nam có 8 di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới, 16 di sản văn hóa phi vật thể, 9 di sản tư liệu, 11 khu Dự trữ sinh quyển thế giới, 3 công viên Địa chất toàn cầu được UNESCO ghi danh.
Công tác đãi ngộ, tôn vinh những đóng góp, cống hiến của đội ngũ nghệ nhân, những người có tài năng, tâm huyết, đóng vai trò là người gìn giữ, trao truyền văn hóa cho những thế hệ mai sau đã được quan tâm. Qua 3 đợt xét tặng danh hiệu tôn vinh đối với nghệ nhân trong lĩnh vực di sản văn hóa phi vật thể, đã có 131 nghệ nhân ưu tú được phong tặng danh hiệu “Nghệ nhân nhân dân” và 1.750 nghệ nhân được phong tặng danh hiệu “Nghệ nhân ưu tú” (cụ thể: Năm 2016 có 617 “Nghệ nhân ưu tú”; năm 2019 có 66 “Nghệ nhân nhân dân” và 570 “Nghệ nhân ưu tú”; năm 2022 có 65 “Nghệ nhân nhân dân” và 563 “Nghệ nhân ưu tú”)(5).
Những kết quả đạt được trong công tác bảo tồn, phát huy giá tậ văn hóa, cho thấy nỗ lực, quyết tâm của Đảng, Nhà nước trong việc gìn giữ, phát huy nguồn vốn văn hóa phong phú, độc đáo mà các thế hệ cha ông đã sáng tạo, gìn giữ đến ngày nay. Bảo tồn, phát huy tốt những giá trị văn hóa truyền thống có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc giáo dục truyền thống lịch sử, khơi dậy niềm tự hào, tự tôn dân tộc và khát vọng phát triển đất nước ngày càng giàu đẹp.
1.3. Công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế và thiết chế văn hóa ngày càng được hoàn thiện
Đến nay trong lĩnh vực văn hóa, có 5 Luật (Luật Điện ảnh, Luật Di sản văn hóa, Luật Quảng cáo, Luật Sở hữu trí tuệ, Luật Thư viện), 50 Nghị định, 40 Quyết định của Thủ tướng Chính phủ và trên 100 Thông tư, Thông tư liên tịch được điều chỉnh trực tiếp(6). Bên cạnh đó là nhiều bộ luật liên quan đến đến lĩnh vực văn hóa, thể dục, thể thao, du lịch, gia đình cũng đã được xây dựng và phát huy những giá trị tích cực trong đời sống xã hội như các luật: Luật Xuất bản, Luật Báo chí, Luật Du lịch, Luật phòng chống bạo lực gia đình, và tiến tới sẽ xem xét, xây dựng, ban hành Luật Nghệ thuật biểu diễn, Nghị định về Văn học... nhằm từng bước hoàn thiện khung khổ pháp lý và môi trường, điều kiện thuận lợi, đảm bảo quyền là lợi ích của những người tham gia hoạt động sáng tạo, thực hành và tiếp nhận văn hóa.
Bên cạnh hoàn thiện cơ chế với những chính sách ưu tiên về nguồn lực, tạo động lực cho văn hóa phát triển thì trong những năm qua, thực hiện chủ trương của Đảng, Nhà nước và các cấp chính quyền đã không ngừng quan tâm, đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, thiết chế văn hóa, tạo không gian, môi trường sinh hoạt văn hóa thuận lợi cho người dân.
Cùng với phong trào Cả nước chung tay xây dựng nông thôn mới, hệ thống các thiết chế văn hóa như: Nhà văn hóa thôn bản, Trung tâm văn hóa - thể thao, cung văn hóa; hệ thống các sân bãi, công viên, quảng trường, thư viện... đã được xây dựng một cách đồng bộ. Hiện cả nước có 66 thiết chế văn hoá cấp tỉnh (Trung tâm văn hoá, Trung tâm Văn hóa Nghệ thuật, Trung tâm Văn hóa - Điện ảnh, Trung tâm Thông tin Triển lãm...); 674/704 quận, huyện có Trung, tâm Văn hoá - Thể thao hoặc Nhà Văn hoá, đạt tỷ lệ khoảng 96%; 8.217/10.599 xã, phường, thị trấn có Trung tâm Văn hoá - Thể thao, đạt tỷ lệ 76,8% trong đó có 5.625/8.158 đạt chuẩn (tỷ lệ 68,9%); 75.853/98.455 làng, thôn, bản, ấp... có Nhà Văn hoá, đạt tỷ lệ khoảng 77% trong đó có 44.836/75.853 đạt chuẩn (tỷ lệ 59%)”(7).
Cùng với việc đầu tư xây dựng các thiết chế văn hóa mới, hướng đến đáp ứng nhu cầu, thị hiếu văn hóa của các tầng lớp nhân dân, thì công tác trùng tu, tôn tạo, mở rộng, nâng cấp các thiết chế văn hóa truyền thống cũng đã được triển khai đồng bộ với sự tham gia, hưởng ứng của đông đảo nhân dân với chủ trương Nhà nước và nhân dân cùng làm, đảm bảo quyền văn hóa của người dân.
1.4. Văn học nghệ thuật có nhiều khởi sắc
Văn học nghệ thuật là lĩnh vực rất quan trọng, đặc biệt tinh tế của văn hoá; phản ánh nhu cầu thiết yếu, thể hiện khát vọng chân, thiện, mỹ của con người; là một trong những động lực to lớn trực tiếp góp phần xây dựng nền tảng tinh thần của xã hội và sự phát triển toàn diện của con người Việt Nam. Những năm qua đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp, toàn diện của Đảng, sự quản lý của Nhà nước, lĩnh vực văn học nghệ thuật đạt được nhiều kết quả nổi bật. Đó là sự trưởng thành, lớn mạnh của đội ngũ, lực lượng sáng tác cũng như số lượng các tác phẩm, loại hình nghệ thuật ngày càng đa dạng, phong phú; chất lượng của các tác phẩm ngày càng được nâng cao, đáp ứng tốt nhu cầu, thị hiếu thẩm mỹ của công chúng, bạn đọc.
Hiện cả nước có hơn bốn vạn người, bao gồm 5 thế hệ hoạt động trong lĩnh vực văn học nghệ thuật thuộc các chuyên ngành: văn học, kiến trúc, sân khấu, mỹ thuật, âm nhạc, nhiếp ảnh, điện ảnh, văn nghệ dân gian, văn nghệ các dân tộc thiểu số; sinh hoạt trong 10 Hội chuyên ngành trung ương và 63 Hội Văn học nghệ thuật các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. Đây là lực lượng hùng hậu, gắn bó máu thịt với Tổ quốc, với nhân dân, đoàn kết, nhất trí về chính trị, tư tưởng, tin tưởng tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Đảng, thiết tha với sự nghiệp xây dựng và phát triển văn hóa dân tộc, khao khát vươn lên để cống hiến có hiệu quả.
Đi đôi với sự trưởng thành của đội ngũ là sự gia tăng về số lượng tác phẩm, loại hình văn học nghệ thuật, tạo ra đời sống văn hóa tinh thần lành mạnh, phong phú.
Đánh giá về những thành tựu của đời sống văn học nghệ thuật những năm qua, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh: “Nền văn học nghệ thuật tiếp tục đổi mới, bám sát hiện thực sôi động của đất nước, có cách nhìn điềm tĩnh, tinh tế, tích cực ủng hộ sự ổn định xã hội, củng cố niềm tin, có quan điểm biện chứng về đời sống; ca ngợi, khẳng định những cái tốt đẹp, cái tích cực; cổ vũ những nhân tố mới, thành tựu mới, “lấy ánh sáng đẩy lùi bóng tối”; tính tích cực xã hội được đề cao. Nền văn hóa văn học, nghệ thuật yêu nước và nhân văn, gắn bó máu thịt với nhân dân và dân tộc, trở thành nguồn sức mạnh nội sinh to lớn, góp phần rất quan trọng vào sự nghiệp dựng nước, giữ nước và phát triển đất nước”(8).
1.5. Công nghiệp văn hóa và các sản phẩm, dịch vụ văn hóa ngày càng đa dạng, phong phú
Phát triển công nghiệp văn hóa là chủ trương, chính sách lớn của Đảng, Nhà nước nhằm khai thác và phát huy giá trị kinh tế trong các sản phẩm văn hóa. Trên cơ sở chủ trương, định hướng của Đảng, Chính phủ đã xây dựng và ban hành Chiến lược về phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030, trong đó xác định các ngành công nghiệp văn hóa là bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế quốc dân.
Với sự vào cuộc của các bộ ngành và chính quyền địa phương, đến nay các ngành công nghiệp văn hóa đã có nhiều khởi sắc, đạt được những thành tựu quan trọng. Theo ước tính, năm 2015, đóng góp của công nghiệp văn hóa khoảng 2,68% vào tổng GDP của cả nước thì đến năm 2018, 12 ngành công nghiệp văn hoá đã đóng góp doanh thu khoảng 8.081 tỷ USD, tương đương 3,61% GDP(9). Mục tiêu phấn đấu đến năm 2030, các ngành công nghiệp văn hóa sẽ đóng góp khoảng 7% GDP và tạo thêm nhiều việc làm cho xã hội.
Những con số tăng trưởng ấn tượng về công nghiệp văn hóa, cho thấy tiềm năng và khả năng chuyển hóa nguồn vốn văn hóa và sức sáng tạo của con người là rất lớn, đóng góp quan trọng vào sự phát triển của nền kinh tế quốc gia cũng như sự phát triển của nền văn hóa dân tộc.
1.6. Việc huy động và sử dụng nguồn lực trong phát triển văn hóa được quan tâm, chú trọng
Những năm qua, công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm văn hóa luôn được Đảng, Nhà nước quan tâm, chú trọng thông qua việc xây dựng, ban hành nhiều chính sách về đào tạo, trọng dụng, đãi ngộ tài năng nghệ thuật. Đầu tư về cơ sở hạ tầng, hiện đại hóa các cơ sở đào tạo về văn hóa nghệ thuật; xây dựng các trung tâm huấn luyện, thi đấu thể dục thể thao, tạo nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ trực tiếp vào công cuộc xây dựng, phát triển văn hóa. Tính đến ngày 30/6/2021, tổng số nhân lực ngành văn hóa, thể thao, du lịch trên cả nước là 899.950 người, trong đó lĩnh vực văn hóa nghệ thuật: 19.751 người; lĩnh vực thể dục thể thao: 10.199 người; lĩnh vực du lịch: 870.000 người, trong đó 18.907 người phục vụ ở cả 03 lĩnh vực văn hóa nghệ thuật, thể dục thể thao và du lịch(10). Thời gian qua, các quy định, quy chế, quy trình, hướng dẫn về quy hoạch, tuyển chọn, sử dụng, bổ nhiệm cán bộ được xây dựng bài bản, đổi mới, phù hợp với tình hình thực tiễn. Đội ngũ cán bộ ngành được quy hoạch bài bản, cơ cấu độ tuổi, trình độ hợp lý. Các chính sách đào tạo, bồi dưỡng, phát hiện tài năng văn hóa nghệ thuật và tôn vinh nhân tài được thực hiện nhằm thu hút nguồn nhân lực có chất lượng cao cho khu vực văn hóa.
Nhằm đào tạo, cung ứng nguồn nhân lực chất lượng cao, phục vụ sự nghiệp phát triển văn hóa, Nhà nước không ngừng đầu tư cơ sở hạ tầng, hiện đại hóa các cơ sở đào tạo, nghiên cứu. Hiện cả nước có 40 cơ sở đào tạo trung cấp, cao đẳng, đại học đào tạo về lĩnh vực văn hóa nghệ thuật, 01 Viện nghiên cứu có đào tạo tiến sĩ và khoảng 80 cơ sở đào tạo công lập và tư thục tham gia đào tạo các ngành trong lĩnh vực văn hóa, nghệ thuật. Cụ thể, các cơ sở đào tạo trực thuộc Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch gồm: 15 cơ sở đào tạo (trong đó có 10 trường đại học, 03 trường cao đẳng; 02 trường trung cấp, đào tạo ở các trình độ trung cấp, cao đẳng, đại học và sau đại học và 01 viện nghiên cứu có đào tạo tiến sĩ). Các trường thuộc Bộ được củng cố, phát triển về mọi mặt và phân bố tập trung ở các thành phố lớn như: Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Huế, ngoài ra có 02 cơ sở đào tạo đặt tại thành phố Hòa Bình và Thái Nguyên phục vụ cho khu vực miền núi, dân tộc thiểu số vùng Tây Bắc và Việt Bắc.
Các cơ sở đào tạo văn hóa nghệ thuật thuộc các tỉnh, thành và các bộ ngành khác: Hiện có 25 cơ sở đào tạo do các tỉnh, thành phố trực tiếp quản lý, trong đó có 01 trường đại học, 10 trường cao đẳng, 10 trường trung cấp. Đây là các cơ sở đào tạo đa ngành, đa lĩnh vực nhằm cung cấp nhân lực chủ yếu phục vụ các hoạt động văn hóa nghệ thuật của địa phương, đồng thời tạo nguồn cho các cơ sở đào tạo văn hóa nghệ thuật ở Trung ương.
Bên cạnh đó có 04 cơ sở đào tạo đại học thuộc bộ, ngành khác và khoảng 80 cơ sở đào tạo có đào tạo các ngành văn hóa, nghệ thuật ở các trình độ.
Hệ thống các ngành, nghề đào tạo ngày càng đa dạng, trình độ đại học có 50 ngành, thạc sĩ có 20 ngành và trình độ tiến sĩ 16 ngành. Bên cạnh các cơ sở đào tạo về văn hóa nghệ thuật do Nhà nước quản lý thì hiện có nhiều cơ sở đào tạo tài năng nghệ thuật do tư nhân tổ chức, đặc biệt là các công ty đào tạo về diễn viên, ca sĩ ở những thành phố lớn như Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh(11).
Việc đầu tư, mở rộng và hiện đại hóa các cơ sở đào tạo ở mọi trình độ, ngành nghề về văn hóa nghệ thuật đã góp phần đảm bảo nguồn nhân lực chất lượng cao, phục vụ tốt sự nghiệp xây dựng và phát triển nền văn hóa dân tộc.
Bên cạnh việc quan tâm, chú trọng phát triển nguồn nhân lực, Đảng, Nhà nước còn dành những ưu tiên về nguồn lực tài chính, tạo động lực cho văn hóa phát triển. Theo thống kê của ngành văn hóa, tỷ lệ đầu tư cho văn hóa từ ngân sách Nhà nước tăng dần theo các năm. Trong giai đoạn 2014 - 2019, đầu tư cho phát triển văn hóa thông qua nguồn vốn cấp về Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch là 5.735,442 tỷ đồng, trong đó vốn đầu tư phát triển là 918,653 tỷ đồng, vốn ngân sách sự nghiệp là 4.816,789 tỷ đồng. Đầu tư cho phát triển văn hóa các địa phương trong giai đoạn trước năm 2016 được thực hiện thông qua Chương trình mục tiêu quốc gia về văn hóa. Trong giai đoạn 2014-2015, Chương trình mục tiêu quốc gia về văn hóa đã được cấp 546 tỷ đồng, trong đó vốn đầu tư phát triển là 290 tỷ đồng, vốn ngân sách sự nghiệp là 256 tỷ đồng. Trong giai đoạn 2016 - 2020, tổng nguồn vốn của Chương trình mục tiêu phát triển văn hóa là 10.620 tỷ đồng. Nguồn vốn đầu tư này đã phát huy hiệu quả tích cực trong việc thúc đẩy phát triển kinh tế du lịch và nâng cao đời sống văn hóa của đất nước, nhất là đồng bào tại các vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới, hải đảo(12).
Để văn hóa phát triển tương xứng với sự phát triển kinh tế, chính trị, xã hội, Đảng, Nhà nước đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách về nguồn lực đầu tư, tạo đà và sức bật mới cho sự phát triển của văn hóa.
Có thể khẳng định, qua gần 40 năm thực hiện công cuộc đổi mới, cùng với những thành tựu trên lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội thì sự nghiệp xây dựng và phát triển văn hóa cũng đạt được những kết quả to lớn, tạo ra đời sống văn hóa tinh thần lành mạnh, phong phú, đáp ứng cơ bản nhu cầu sáng tạo và hưởng thụ văn hóa của các tầng lớp nhân dân. Văn hóa đã bước đầu phát huy vai trò là nền tảng tinh thần, là mục tiêu, động lực và sức mạnh nội sinh quan trọng trong quá trình phát triển nhanh, bền vững đất nước.
2. Bài học kinh nghiệm
Từ thực tế xây dựng, phát triển nền văn hóa Việt Nam gần 40 năm qua, có thể rút ra những bài học kinh nghiệm sau:
Một là, kiên định phương thức Đảng lãnh đạo toàn diện, đồng bộ, thực hiện nghiêm các nguyên tắc nhằm đảm bảo thực thi các định hướng chính trị về xây dựng, phát triển văn hóa của Đảng. Khẳng định quyền lực chính trị và trách nhiệm của Nhà nước đối với việc xây dựng và phát triển văn hóa trên nguyên tắc pháp chế, hướng tới mục tiêu chung là nhằm xây dựng một nền văn hóa hiện đại, dân chủ, tiến bộ, khoa học, nhân văn, giàu bản sắc dân tộc. Đảm bảo thực hiện tốt vai trò điều tiết của Nhà nước đối với các cơ quan văn hóa do Nhà nước lập ra, các cơ sở tham gia hoạt động văn hóa do các cá nhân, các nhóm xã hội, hiệp hội, người nước ngoài thành lập. Kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng, chống suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” trong nội bộ; đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí trên lĩnh vực văn hóa. Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ văn hóa am hiểu về chuyên môn, nghiệp vụ, có bản lĩnh chính trị vững vàng và kĩ năng nghề nghiệp tốt. Phát huy trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên nhất là trách nhiệm nêu gương của người đứng đầu.
Hai là, trong mọi hoạt động xây dựng, phát triển văn hóa phải quán triệt sâu sắc quan điểm “dân là gốc”. Tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong xây dựng, chấn hưng nền văn hóa dân tộc, kiên trì thực hiện phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”. Nhân dân là trung tâm, là chủ thể sáng tạo, thực hành, thụ hưởng các giá trị văn hóa. Lấy hạnh phúc của nhân dân làm mục tiêu của nền văn hóa mà chúng ta đang xây dựng. Có thu hút được nguồn lực, sự đồng thuận của Nhân dân mới có thể hoàn thành được mục tiêu xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.
Ba là, trong lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành, tổ chức thực hiện, phải có quyết tâm cao, nỗ lực lớn, hành động quyết liệt, năng động, sáng tạo, tích cực; có bước đi phù hợp, phát huy mọi nguồn lực, động lực và tính ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa; kịp thời tháo gỡ các điểm nghẽn, vướng mắc. Các chương trình, chiến lược, kế hoạch phát triển văn hóa cần phải đặt trong tổng thể phát triển của cả quốc gia, của từng địa phương để tạo nên sự thống nhất, đồng bộ. Thực hiện tốt sự phối hợp trong lãnh đạo, quản lý, điều hành, coi trọng chất lượng và hiệu quả thực tế, tạo đột phá để xây dựng, phát triển văn hóa.
Bốn là, tập trung ưu tiên xây dựng và hoàn thiện thể chế phát triển văn hóa, bảo đảm hài hoà giữa kiên định và đổi mới, kế thừa và phát triển. Phát triển văn hóa phải gắn liền với phát triển kinh tế, ổn định chính trị, xã hội, củng cố và tăng cường công tác đối ngoại, an ninh quốc phòng; bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa. Thể chế phát triển văn hóa phải phù hợp với thể chế kinh tế thị trường, đồng thời có xem xét đến tính đặc thù của lĩnh vực văn hóa.
Năm là, khai thác hiệu quả mọi nguồn lực trong xã hội để phát triển văn hóa. Đồng thời, Nhà nước cần có sự điều tiết, phân bổ hợp lý các nguồn lực để phát triển văn hóa. Để phát huy sức mạnh văn hóa, năng động hóa nền văn hóa dân tộc nhưng đồng thời giảm thiểu sự phân tầng trong sáng tạo và hưởng thụ văn hóa của các tầng lớp nhân dân, cần phân định rõ những lĩnh vực văn hóa cần sự hỗ trợ, đầu tư của Nhà nước và những lĩnh vực có thể để cho thị trường điều tiết dưới sự định hướng của Nhà nước. Cần thực sự đổi mới nội dung, phương thức đầu tư phát triển văn hóa, khắc phục tình trạng đầu tư dàn trải, kém hiệu quả cũng như tình trạng buông lỏng sự lãnh đạo, quản lý lĩnh vực này.
Những thành tựu trong phát triển văn hóa gần 40 năm qua khẳng định tính đúng đắn trong đường lối của Đảng về văn hóa; đồng thời, cũng phản ánh quyết tâm, nỗ lực của toàn Đảng, toàn dân trong xây dựng, phát triển nền văn hóa dân tộc. Bối cảnh thời đại và đất nước đang có những chuyển biến nhanh chóng, thời cơ và thách thức đan xen. Để thực hiện thành công mục tiêu chiến lược xây dựng nền văn hóa Việt Nam dân tộc, dân chủ, nhân văn, khoa học cần tính đúng, tính đủ những tác động đa chiều của các yếu tố trong nước và thời đại để có những sách lược kịp thời. Bên cạnh đó, cần tiếp tục phát huy những kết quả đã đạt được. Những thành tựu và bài học kinh nghiệm trong phát triển nền văn hóa Việt Nam trong 40 năm qua là cơ sở quan trọng để tiếp tục vận dụng, phát huy và phát triển sáng tạo trong xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc trong giai đoạn tiếp theo./.
PGS. TS, Vũ Thị Phương Hậu
Viện Trưởng Viện Văn hoá và Phát triển, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
1. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, t.7, tr.316.
2. Văn phòng Chính phủ, Thông báo Kết luận của Thủ tướng Chính phủ Nguyên Xuân Phúc tại Hội nghị trực tuyến toàn quốc Tổng kết Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” giai đoạn 2000 - 2018 (Thông báo số 411/TB-CP ngày 25-10-2018), Hà Nội, tr.1-
3. Đảng Cộng sản Việt Nam, Báo cáo Kế thừa, phát huy truyền thống văn hóa dân tộc; Xây dựng, phát triển văn hóa sau 35 năm tiến hành công cuộc đổi mới đất nước; Các định hướng, giải pháp chủ yếu nhằm phát triển văn hóa, con người Việt Nam theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, Hà Nội, ngày 22-11-2021, tr.5.
4. Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Dự thảo Báo cáo Tổng kết thi hành Luật Di sản văn hóa, Hà Nội, 2022, tr. 9, 1
5. Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Báo cáo đánh giá tác động của Chính sách Dự thảo Nghị định quy định về xét tặng danh hiệu “Nghệ nhân nhân dân ”, “Nghệ nhân ưu tú ” trong lĩnh vực di sản văn hóa phi vật thể, Hà Nội, 2023, tr. 1.
6. 10, 11, 12. Hội thảo Văn hóa năm 2022: Thể chế, chính sách và nguồn lực cho phát triển văn hóa, Bắc Ninh, tháng 12-2022, quyển 1, tr. 139, tr.141, tr.54-55, tr.140.
7. Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Báo cáo kết quả triển khai thực hiện việc xây dựng, hoàn thiện và tô chức hoạt động tại thiết chế văn hóa, thể thao các cấp, Hà Nội, 2022, tr.5.
8. Phát biểu của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tại Lễ kỷ niệm 75 năm ngày thành lập Liên hiệp các Hội văn học nghệ thuật Việt Nam.
9. Tập trung phát triển các ngành công nghiệp văn hoá, Báo Điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam, ngày 20/12/2022.