1. Khái quát về di tích lịch sử - văn hóa và việc bảo tồn ở nước ta hiện nay
Theo thống kê của Cục Di sản Văn hóa, đến nay (2024) cả nước ta có hơn 4 vạn di tích lịch sử - văn hóa, trong đó có trên 1 vạn di tích được xếp hạng cấp tỉnh, 3658 di tích cấp quốc gia, 138 di tích quốc gia đặc biệt, bao gồm cả 8 di sản thế giới(1). Hầu hết các di tích quốc gia
đặc biệt và di sản thế giới là những di tích tiêu biểu có giá trị lích sử, văn hóa, khoa học đại diện cho các loại hình di tích ở nước ta đã và đang được bảo tồn và phát huy giá trị, trong đó có việc phục vụ giáo dục truyền thống và phát triển kinh tế, tham gia quá trình phát triển công nghiệp văn hóa ở nước ta. Nhiều di tích/ di sản thu hút lượng lớn khách tham quan du lịch như các di sản thế giới: Vịnh Hạ Long - quần đảo Cát Bà (Quảng Ninh - Hải Phòng), Khu trung tâm Hoàng thành Thăng Long (Hà Nội), Quần thể danh thắng Tràng An (Ninh Bình), Thành nhà Hồ (Thanh Hóa), Phong Nha- Kẻ Bàng (Quảng Bình), Quần thể di tích cố đô Huế (Thừa Thiên - Huế), Đô thị cổ Hội An, Khu di tích Chăm Mỹ Sơn (Quảng Nam) và các di tích quốc gia đặc biệt khác, những nơi này đều là những trung tâm du lịch quan trọng của địa phương và cả nước.
Bảo tồn di tích là các hoạt động: “nghiên cứu, quản lý, bảo vệ, bảo quản tu bổ và phục hồi nhẳm bảo đảm tính toàn vẹn, tính xác thực và sự tồn tại lâu dài, ổn định của di tích để phát huy giá trị”(2). Nếu di tích không được bảo tồn tốt, tính xác thực và toàn vẹn của di tích không được giữ gìn thì di tích sẽ không còn hấp dẫn, điều đó sẽ dẫn đến tình trạng khó phát huy giá trị di tích trong giáo dục truyền thống và phát triển kinh tế (du lịch).
Các di tích lịch sử - văn hóa đều coi trọng công tác nghiên cứu để nhận diện các giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể của di tích, tình trạng vật chất của di tích và các vấn đề liên quan đến hoạt động bảo tồn và phát huy giá trị di tích. Công tác nghiên cứu khoa học về các di tích lịch sử - văn hóa đã và đang được đẩy mạnh, có thể kế đến hoạt động nghiên cứu khoa học tại các di sản thế giới. Các đơn vị quản lý những di tích này đã phối hợp với một số tổ chức, đơn vị nghiên cứu khoa học trong và ngoài nước thực hiện nhiều đợt khảo sát thực địa, khai quật khảo cổ học, hội thảo, tọa đàm khoa học và xuất bản nhiều công trình nghiên cứu về bảo tồn và phát huy giá trị di tích.
Các hoạt động nghiên cứu, sưu tầm hiện vật tại di tích và trong cộng đồng hoặc khai quật khảo cổ để làm cơ sở cho việc bảo quản, tu bổ di tích và phát huy giá trị di tích (trưng bày tại các nhà trưng bày bổ sung hoặc bảo tàng tại di tích) như ở Quần thể di tích cố đô Huế, Khu di tích Chăm Mỹ Sơn, Thành nhà Hồ, Hoàng thành Thăng Long… cũng được thực hiện thường xuyên.
Việc quản lý di sản văn hóa (DSVH) là quá trình đề ra các kế hoạch bảo tồn và phát huy giá trị di tích, chỉ đạo và tổ chức thực hiện các kế hoạch đó thông qua tổ chức bộ máy và bố trí các nguồn lực (nhân lực, điều kiện vật chất, phương tiện kỹ thuật, tài chính), tổ chức thanh tra, kiểm tra việc thực hiện các kế hoạch và điều chỉnh những khiếm khuyết (nếu có trong quá trình thực hiện) để hoàn thành các kế hoạch, mục tiêu bảo tồn và phát huy giá trị di tích đã đề ra.
Ở nước ta hiện nay, mô hình quản lý các di tích lịch sử - văn hóa khá đa dạng, tùy thuộc vào quy mô và nguồn thu của di tích thông qua lượng khách đến tham quan du lịch tại di tích. Chỉ riêng di sản thế giới đã có các mô hình Trung tâm và Ban quản lý di tích, trong các di sản thế giới có đơn vị quản lý di sản trực thuộc cấp tỉnh, lại có đơn vị trực thuộc Sở Văn hóa, Thể thao, Du lịch; Sở Văn hoá, Thể thao, hoặc Sở Du lịch, hoặc trực thuộc cấp huyện. Tại các di tích quốc gia đặc biệt khác, mô hình quản lý còn đa dạng hơn nhiều. Các di tích lịch sử - văn hóa thường có phạm vi rộng (vườn quốc gia, vịnh biển, đô thị cổ) nên việc tổ chức bộ máy quản lý và nguồn nhân lực được quy hoạch dựa trên yêu cầu thực tế ở từng địa phương.
Theo quy định tại Luật Di sản văn hóa, mọi di tích được xếp hạng đều thực hiện việc khoanh vùng, cắm mốc giới các khu vực bảo vệ di tích làm cơ sở cho việc bảo vệ môi trường, cảnh quan di tích. Cho đến nay hầu hết các DSVH được xếp hạng đã tiến hành cắm mốc khu vực bảo vệ di tích trên thực địa. Các ban quản lý di tích đều có đơn vị bảo vệ di tích, các đơn vị này phối hợp chặt chẽ với chính quyền địa phương, công an, kiểm lâm, kiểm ngư… trong việc bảo vệ, phòng ngừa các hiện tượng xâm phạm di tích.
Các đơn vị quản lý di tích lịch sử - văn hóa đều đã tích cực thực hiện công tác bảo quản, tu bổ và phục hồi di tích nhằm duy trì sự ổn định, bền vững, toàn vẹn và tính xác thực của di tích.
Hầu hết di tích quốc gia đặc biệt quy mô lớn đều đã lập Quy hoạch bảo quản, tu bổ, phục hồi, một số di tích đang triển khai lập Quy hoạch bảo quản tu bổ, phục hồi di tích đến 2030 tầm nhìn 2050 (như các di tích tại Huế, Mỹ Sơn….)
Nhiều đơn vị quản lý di sản thế giới không chỉ phối hợp với các tổ chức, cá nhân trong nước mà còn phối hợp với các tổ chức quốc tế như UNESCO, các quốc gia như Nhật Bản, Ba Lan, Ý, Ấn Độ… đã và đang tiến hành bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích (tại Huế, Mỹ Sơn, Hội An), một số di sản thế giới còn nhận được sự tài trợ của các tổ chức quốc tế và một số nước thông qua UNESCO.
2. Thành tựu trong công tác bảo tồn di tích lịch sử - văn hóa phục vụ giáo dục truyền thống và phát triển kinh tế ở nước ta hiện nay
Việc giáo dục truyền thống ở các di tích lịch sử - văn hóa được thực hiện với sự liên kết khá chặt chẽ giữa các đơn vị quản lý di tích với các cơ sở giáo dục, đào tạo, nhà trường tại địa phương. Tùy theo loại hình di tích để tuyên truyền giáo dục truyền thống trong nhà trường và cộng đồng, khách du lịch, ngoài ra còn tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng, mạng xã hội. Hầu hết di sản thế giới đều đã có Website, sử dụng công nghệ 3D, hướng dẫn khách tham quan du lịch bằng công nghệ Audio guide…
Việc giáo dục di sản trong nhà trường được các đơn vị quản lý di tích phối hợp chặt chẽ với các cơ sở giáo dục tại địa phương triển khai thực hiện từ nhiều năm qua và đã đạt được những hiệu ứng tích cực. Theo báo cáo của Trung tâm bảo tồn di tích cố đô Huế, Trung tâm và Phòng Giáo dục và Đào tạo thành phố Huế đã ký bản ghi nhớ về hợp tác triển khai tổ chức thực hiện Chương trình giáo dục Di sản - Văn hóa - Nghệ thuật trong các trường học trên địa bàn thành phố Huế giai đoạn 2022 - 2027. Đến năm 2023, Trung tâm đã đón tiếp 263 đoàn học sinh và giáo viên từ cấp tiểu học đến trung học cơ sở toàn thành phố Huế đến tham gia chương trình giáo dục di sản tại các điểm di tích Huế...(3).
Từ năm 2014, Trung tâm Quản lý bảo tồn di sản văn hóa Hội An đã phối hợp với Trung tâm Nghiên cứu & phát triển giáo dục, thuộc Hội Di sản văn hóa Việt Nam, xây dựng đề án “Giáo dục di sản trong học đường tại Hội An”. Năm 2015, Trung tâm đã phối hợp với Phòng Giáo dục và Đào tạo thành phố Hội An biên soạn tài liệu giáo dục di sản cho 2 bậc Tiểu học và Trung học cơ sở. Bắt đầu từ năm học 2021 - 2022, bộ tài liệu “Giáo dục di sản trong học đường tại Hội An” dành cho bậc Tiểu học đã được đưa vào giảng dạy tại các trường Tiểu học toàn Thành phố. Bộ tài liệu dành cho bậc trung học cơ sở đang dần hoàn thiện để đưa vào giảng dạy(4).
Để lan truyền, phát huy các giá trị di tích đến với cộng đồng, khách du lịch trong và ngoài nước, các đơn vị quản lý di tích đã đẩy mạnh việc truyền thông, quảng bá di sản thông qua Internet (Website, Fanpage, mạng xã hội), phổ biến các tin bài, các ấn phẩm quảng bá về di tích và các hoạt động tại di tích. Việc xây dựng các bảo tàng tại di tích, nhà trưng bày bổ sung tại di tích cũng được thực hiện. Ban Quản lý các di tích luôn đổi mới và nâng cao chất lượng, cách thức, phương tiện thuyết minh, hướng dẫn về nội dung giá trị di tích. Nhiều địa phương cũng đã đưa chương trình giáo dục di sản vào học đường thông qua các văn bản ký kết giữa cơ quan quản lý di tích và cơ quan quản lý giáo dục, đào tạo tại địa phương và các trường học trên địa bàn(5).
Việc phát huy giá trị di tích trong giáo dục và lan tỏa các giá trị văn hóa của các di tích tiêu biểu còn được thực hiện thông qua việc đưa di sản văn hóa phi vật thể tại di tích tham gia các chương trình giao lưu văn hóa tại các lễ hội, sinh hoạt văn hóa trong nước và quốc tế hoặc tổ chức trưng bày bảo tàng tại di sản và trưng bày triển lãm chuyên đề tại một số bảo tàng trong nước và nước ngoài.
Các đơn vị quản lý di tích lịch sử - văn hóa còn phát huy giá trị di tích thông qua việc tiến hành số hóa dữ liệu di tích, di vật tại di tích và bảo tàng (ứng dụng số hóa 3D), triển khai hệ thống trải nghiệm (VR, AR), thuyết minh tự động audio guide, lắp đặt Camera AI, tổ chức bảo quản hiện vật, khôi phục một số di sản văn hóa phi vật thể tạo đất diễn/ không gian trình diễn các nghệ thuật truyền thống không những giúp cho việc giáo dục truyền thống, việc bảo tồn các di tích lịch sử - văn hóa còn góp phần quan trọng vào quá trình phát triển kinh tế, phát triển công nghiệp văn hóa của địa phương và cả nước.
Việc phát huy giá trị di tích thông qua các dịch vụ du lịch còn góp phần vào phát triển bền vững, phát triển kinh tế, tạo công ăn việc làm cho các doanh nghiệp du lịch và cư dân sở tại, nhằm xóa đói giảm nghèo, nâng cao đời sống cộng đồng, tạo sự bình ổn và bình đẳng trong xã hội, qua đó bảo đảm trật tự an ninh xã hội, bảo vệ môi trường văn hóa và thiên nhiên trong khu vực di tích, đóng góp vào sự phát triển bền vững của địa phương và đất nước.
Tại các DSVH, ngoài di tích, chính quyền địa phương và đơn vị quản lý di tích còn tạo ra nhiều sản phẩm phục vụ khách tham quan du lịch như tạo không gian khôi phục, thực hành di sản văn hóa phi vật thể, khôi phục các nghề thủ công truyền thống đồng thời mở ra các điểm du lịch vệ tinh vừa giảm tải cho di tích, vừa tăng thêm thu nhập cho cộng đồng.
Tại di tích Chăm Mỹ Sơn, có các sản phẩm như múa Chăm, tham quan thực tế ảo Mỹ Sơn và chương trình nghệ thuật “Đêm Mỹ Sơn huyền thoại”, dệt thổ cẩm, sản xuất các đồ lưu niệm. Ngoài ra, ở đây còn có hoạt động để phát triển du lịch sinh thái thông qua việc cải tạo cảnh quan hồ sen, phát triển các điểm đón khách, tạo quang cảnh hoa tươi bốn mùa…(6).
Những đóng góp của di tích lịch sử - văn hóa vào phát triển kinh tế của địa phương và cả nước ngày càng tích cực, dưới đây là một vài con số minh chứng: Quần thể di tích cố đô Huế năm 2023 thu 355,938 tỉ đồng, đón 2,325 triệu khách, trong đó có 1,054 triệu khách quốc tế, 1,271 triệu khách Việt Nam. Trong khi đó tổng lượng khách du lịch đến Thừa Thiên - Huế năm 2023 đạt 3,2 triệu lượt doanh thu 6.606 tỷ đồng(7). Đô thị cổ Hội An, 3 tháng đầu năm 2024, đón khoảng 1,143 triệu lượt khách tham quan lưu trú, thu 1.062 tỷ đồng, khách mua vé tham quan phố cổ ước đạt 513 nghìn lượt, doanh thu gần 61 tỷ dồng(8). Năm 2023, Vịnh Hạ Long đón 2,6 triệu khách, lượng khách trong nước và quốc tế ngang nhau, đạt doanh thu 800 tỷ đồng, toàn tỉnh Quảng Ninh đã thu hút khách du lịch ước đạt 15,5 triệu lượt, trong đó có 2 triệu lượt du khách quốc tế, doanh thu du lịch ước đạt 33.480 tỉ đồng(9).
Những con số nêu trên đã cho những di tích tiêu biểu là tâm điểm góp phần thu hút khách du lịch đến các địa phương góp phần không nhỏ vào tổng thu ngân sách của địa phương hàng năm. Dự báo trong những năm tới nếu không có những đột biến vì thiên tai, dịch bệnh…, lượng khách du lịch đến các DSVH sẽ còn tăng lên, đó là chưa kể đến doanh thu từ vài chục đến hàng trăm tỷ đồng một năm của các di tích như: quần thể danh thắng Tràng An, Hương Sơn, Yên Tử, Khu di tích Đền Hùng… Những hoạt động bảo tồn và phát huy giá trị di sản trong giáo dục truyền thống và phát triển kinh tế ngày càng góp phần có ý nghĩa hơn vào sự phát triển bền vững và tham gia vào quá trình phát triển công nghiệp văn hóa ở nước ta.
Chính các DSVH đã tạo hàng vạn công ăn việc làm cho người dân địa phương giúp họ thay đổi sinh kế. Nhiều doanh nghiệp đã tham gia các dịch vụ du lịch tại di tích như xây dựng và vận hành hệ thống cáp treo, nhà hàng, khách sạn. Hàng vạn hộ dân tham gia các hoạt động dịch vụ ở di tích từ kinh doanh dịch vụ khách sạn (homestay), phục vụ ăn uống, bán hàng, đến làm hướng dẫn viên du lịch... Nhiều làng nghề thủ công truyền thống và di sản văn hóa phi vật thể được khôi phục. Sự tham gia của cộng đồng vào các hoạt động kinh tế ở di tích càng nhiều, càng góp phần tích cực cho công tác an sinh xã hội, giữ gìn trật tự an ninh trên địa bàn. Ý thức của người dân về bảo vệ di tích, bảo vệ môi trường văn hóa và môi trường tự nhiên tại di tích cũng tốt hơn, di tích được chăm lo bảo tồn, công tác phát huy giá trị được đẩy mạnh.
3. Một số hạn chế cần khắc phục
Trước hết là nhận thức của một số cán bộ và nhân dân về vai trò của di tích trong giáo dục truyền thống và phát triển kinh tế còn chưa đầy đủ, thiếu sự hỗ trợ thiết thực cho các hoạt động của các di tích, còn có sự thờ ơ, thậm chí xâm phạm, gây tác động xấu đến môi trường, cảnh quan di tích. Sự phối hợp giữa các cơ quan liên quan chưa đồng bộ, hiệu quả trong giải quyết một số công việc như chống vi phạm di tích, giữ gìn an ninh trật tự, bảo vệ rừng, biển và vệ sinh môi trường. Sự chỉ đạo của các cơ quan quản lý cấp trên có lúc chưa kịp thời, nhất là khi có những sự việc phát sinh về vi phạm di tích, xâm hại môi trường cảnh quan, an ninh trật tự…
Năng lực cán bộ của các đơn vị quản lý di tích còn chưa đáp ứng yêu cầu của công tác bảo tồn và phát huy giá trị DSVH, đội ngũ nhân viên chưa đồng đều, thiếu nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ cho công tác bảo tồn ngày càng phát triển và hội nhập ngang tầm khu vực và quốc tế. Việc tuyển dụng và đào tạo cán bộ kế cận còn chưa bền vững và gặp nhiều khó khăn. Việc xây dựng, cơi nới, xâm phạm di tích, khai thác lâm sản, săn bắt thú rừng, khai thác hải sản trái phép còn xảy ra, dẫn đến việc bảo vệ di tích và môi trường cảnh quan vẫn còn gặp nhiều khó khăn. Các vấn nạn như: “cò mồi”, tranh giành khách, thông tin không đúng về di tích để lôi kéo khách, mua sắm dịch vụ cho khách để lấy “hoa hồng”, đưa những sản phẩm giả, kém chất lượng vào bán tại di tích... còn diễn biến phức tạp, làm ô nhiễm môi trường du lịch tại các di tích. Sản phẩm du lịch chưa nhiều, thiếu hấp dẫn; tình trạng quá tải về hạ tầng có lúc, có nơi còn xảy ra tại một số di tích có đông khách trong mùa du lịch; một số di tích chưa được đưa vào các tuyến du lịch nên còn vắng khách. Những khó khăn trong du lịch cộng đồng như: thiếu tổ chức, thiếu vốn đầu tư, thiếu chuyên nghiệp, sự liên kết giữa cơ quan quản lý, doanh nghiệp du lịch và người dân chưa đồng bộ nên hiệu quả chưa cao.
Thực tiễn hiện nay cho thấy, muốn bảo tồn và phát huy giá trị di tích hiệu quả, trước hết toàn xã hội phải có nhận thức đúng về công tác bảo tồn và phát huy giá trị di tích. Các di tích đều cần có quy hoạch dài hơi để bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích và phát triển du lịch. Đồng thời cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa cơ quan, ban ngành, địa phương, sự đồng thuận, chung tay của các bên liên quan. Cùng với đó, cần có bộ máy nhân sự phù hợp, đáp ứng yêu cầu thực tiễn.
4. Giải pháp nâng cao hiệu quả công tác bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử - văn hóa trong giáo dục truyền thống và phát triển kinh tế ở nước ta hiện nay
Thứ nhất, nâng cao nhận thức của toàn xã hội về bảo tồn và phát huy giá trị di tích.
Cần phải tăng cường và thực hiện hiệu quả hơn nữa công tác giáo dục, tuyên truyền nhằm nâng cao nhận thức của toàn xã hội về bảo tồn và phát huy giá trị di tích. Xã hội phải có nhận thức đầy đủ, đồng bộ về giá trị của di tích lịch sử - văn hóa, tầm quan trọng và cách thức đúng trong việc bảo tồn, phát huy giá trị của di tích đó trong đời sống cộng đồng. Thực hiện tốt công tác tuyên truyền, hướng dẫn các cấp, các ngành và cộng đồng thực hiện các văn bản chỉ đạo của Đảng, pháp luật của Nhà nước về di sản văn hóa và thiên nhiên trên địa bàn di tích.
Thứ hai, lập quy hoạch bài bản
Đẩy nhanh tiến độ thực hiện các quy hoạch bảo quản, tu bổ và phục hồi di tích đã được cấp thẩm quyền phê duyệt và tiến độ xây dựng quy hoạch bảo tồn di tích đến năm 2030 - tầm nhìn 2050 ở các di tích tiêu biểu. Ban hành quy hoạch, quy chế xây dựng cho cư dân sống trong các vùng bảo vệ di tích để người dân dễ thực hiện.
Thứ ba, phối hợp tham gia tích cực của các bên liên quan
Muốn bảo vệ và phát huy giá trị di tích hiệu quả cần phải có sự phối hợp tốt giữa các bên liên quan (bao gồm nhà nước, nhà chuyên môn, cư dân sở tại, người trụ trì, doanh nghiệp). Để có thể giáo dục di sản được đầy đủ, liên tục cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa cơ quan, ban ngành quản lý di tích với ngành giáo dục địa phương trong biên soạn giáo trình và quá trình giảng dạy. Cần có sự phối hợp giữa đơn vị quản lý di sản với ngành du lịch để phát triển các tuyến du lịch và loại hình, sản phẩm du lịch thích hợp ở trong các khu vực bảo vệ di tích và ở phạm vi lân cận. Tăng cường hợp tác trong nước và quốc tế trong nghiên cứu, bảo quản, tu bổ và phục hồi di tích, giáo dục truyền thống và phát triển kinh tế, đào tạo cán bộ, trao đổi nghiệp vụ.
Thứ tư, đầu tư hiệu quả
Để phát huy vai trò di tích trong phát triển kinh tế, cần đầu tư mạnh hơn cho sản phẩm du lịch truyền thống đã có tại di tích như nghệ thuật truyền thống, bảo tàng, đồ thủ công mỹ nghệ, bổ sung làm phong phú đa dạng sản phẩm, tạo ra nhiều điểm du lịch vệ tinh, đưa thêm các loại hình nghệ thuật truyền thống vào biểu diễn tại không gian di tích, tạo ra nhiềuchủng loại sản phẩm lưu niệm thủ công mang tính đặc trưng văn hóa địa phương, di tích. Xây dựng phát triển thương hiệu du lịch của di tích, đẩy mạnh quảng bá kết hợp với các hoạt động truyền thông nhằm tạo ấn tượng mạnh về di tích cho du khách.
Thứ năm, phát huy vai trò của cộng đồng
Phát huy vai trò của cộng đồng trong bảo tồn và phát huy giá trị di tích, tạo điều kiện để cộng đồng tham gia hoạt động quản lý, bảo tồn, hoạt động giáo dục di sản và phát triển kinh tế. Để phát huy vai trò của cộng đồng, cũng cần tăng cường hợp tác công - tư nhằm huy động nguồn đầu tư của các cá nhân trong cộng cộng đồng
Thứ sáu, hoàn thiện bộ máy quản lý
Để quản lý tốt di tích, bộ máy quản lý, nhân sự tham gia quản lý ở từng di tích cần có mô hình tổ chức và nhân sự phù hợp với nhu cầu của từng di tích và tình hình thực tiễn của địa phương, không nên cứng nhắc, rập khuôn. Nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ, xây dựng đội ngũ cán bộ làm công tác bảo tồn di sản chính quy, chuyên nghiệp, có khả năng kịp thời xử lý các tình huống phát sinh, có chiến lược đào tạo cán bộ kế cận lâu dài đáp ứng nhiệm vụ trong các giai đoạn tiếp theo.
Bên cạnh đó, cần tiếp tục thực hiện chuyển đổi số, áp dụng những công nghệ mới nhất có thể trong hoạt động nghiên cứu, quản lý, bảo vệ, bảo quản, tu bổ, phục hồi và phát huy giá trị di tích trong giáo dục truyền thống và phát triển kinh tế, ngang tầm khu vực và thế giới. Thực hiện việc lồng ghép quan điểm phát triển bền vững vào các hoạt động tại các DSVH để các di tích đóng góp tích cực hơn nữa vào quá trình phát triển kinh tế, bình đẳng xã hội và bảo vệ môi trường, an ninh trật tự xã hội, đồng thời hòa nhập vào tiến trình phát triển công nghiệp văn hóa, xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh và phát triển bền vững đất nước hiện nay./.
Nguyễn Quốc Hùng
PGS.TS, Nguyên Phó Cục trưởng Cục Di sản văn hóa, Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch
---------------------------------------------------------
1. Cục di sản văn hóa. Báo cáo đề dẫn của cục di sản văn hóa tại hội nghị- hội thảo “ 65 năm sự nghiệp bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa”. Kỷ yếu Hội nghị- Hội thảo “ 65 năm bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa. Hà Nội tháng 12/2024, tr 10-13.
2. Bộ Khoa học và Công nghệ, Tiêu chuẩn quốc gia - Di sản văn hóa và các vấn đề liên quan - Thuật ngữ và định nghĩa chung, Hà Nội, 2014.
3, 7. Báo cáo tổng kết công tác năm 2023 và triển khai công tác năm 2024 của Trung tâm bảo tồn di tích cố đô Huế.
4. https://hoianrt.vn/tin-tuc/van-hoa-xa-hoi/10-nam-trien -khai-giao-duc-di-san-trong-hoc-duong-tai-hoi-an.html, đăng nhập ngày 15/9/2024
5. Website của các đơn vị quản lý di sản thế giới.
6. Báo cáo tình hình hoạt động từ năm 2022 đến nay và phương hướng nhiệm vụ thời gian tới của Ban quản lý di tích Mỹ Sơn. https://baotainguyenmoitruong.vn/nganh-du-lich-hue-don-hon-3-2-trieu-luot-khach-trong-nam-2023-368662.html, đăng nhập ngày 15/9/2024
8. https://baoquangnam.vn/quy-i-2024-tp-hoi-an-don-hon-1-1-trieu-luot-khach-du-lich-3131564.html, đăng nhập ngày 15/9/2024
9. https://baochinhphu.vn/quang-ninh-thu-hut-hon-15-trieu-khach-du-lich-trong-nam-2023-102240105111924068.htm, đăng nhập ngày 19/9/2024